add this

Wednesday, March 13, 2024

 

nửa hồn Xuân Lộc 

Xuân Lộc 1970    
 

Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc

                  Xích sắt nghiến qua những xác người.




tôn thất tuệ giới thiệu
Nửa Hồn Xuân Lộc
 Thái Luân Nguyễn Phúc Sông Hương 

Khi xuân Tân Mão 2011 còn nóng hổi mới ra lò, tôi viết một lời bàn ngắn về cái video có Khánh Ly hát tặng lãnh sự CSVN tại San Francisco. Theo tôi việc nầy đã manh nha từ ngàn xưa, ngày xưa thì đúng hơn vì cô Mai (hổn danh Mai Đen) đã tham dự nhiều buổi sinh hoạt tại Đà Lạt trước những biến động đấu tranh miền Trung; trong dịp nầy Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan đã minh thị nói VN chỉ có một con đường là đi theo MTGPMN tuy ông không chịu nói đã nhiều lần vô bưng. Ở đoạn nầy tôi viện dẫn hồi ký của Nguyễn Đắc Xuân, ông viết thêm rằng các người tham dự đã đọc và bình luận thơ của Thái Luân. Ngoài LM Lan còn có nhiều nhân vật trí vận và có Trịnh Công Sơn. Sau đó TCS cho ra những bản nhạc phản chiến mạnh mẽ, tăng cường bởi tiếng hát Khánh Ly đến tầm mức công phá.
Nguyễn Đắc Xuân không nói nội dung các bài thơ của Thái Luân. Tôi còn nghi vấn phải chăng Thái Luân có mặt. Sau khi tra cứu và hỏi các nhân vật sống, thì được biết Thái Luân không có mặt ở Đà Lạt bao giờ, đồng  thời “mất tích” trên địa bàn sinh hoạt ở Huế. Nhưng không khí, như mô tả qua ngòi bút của NĐX, đã gây ý nghĩ không tốt cho Thái Luân.

Thái Luân trong quá khứ đã gây cho vợ chồng tôi một ấn tượng khó tả khi chúng tôi đến thăm Phạm Duy vào lúc nhạc sĩ nầy vừa hoàn tất phổ nhạc Bi Hài Kịch thơ của Thái Luân. PD chỉ nói tác giả là một sĩ quan QLVNCH ngành tâm lý chiến ở Huế. Bi Hài Kịch là bi hài kịch thực sự của chúng ta, khi hai bên tương tranh chém giết nhau chỉ như công cụ của đạo diễn. Diễn viên ôm súng bắn, diễn viên gục đầu đường, diễn viên đang tra tấn, diễn viên chịu cực hình, tất cả xẩy ra trên quê hương, mà quê hương là ba má, quê hương là khoai sắn, là con thơ.
Tôi tin NĐX đã chuyển tập thơ cho PD vì PD đã phổ mấy bài của NĐX trong Tâm Ca. PD nói ông đang phổ bài thứ hai thuật lại lời nói của một một gái điếm với học sinh Đồng Khánh: em đừng cười chị, để chị diễn lại trò móc túi để cho thằng lính Mỹ thỏa mãn thú con heo, nếu không chúng sẽ đè em ra mà làm. Vợ chồng tôi thấy khó chịu vì nó hoàn toàn khác với tính cách cao thượng và nghệ thuật của Bi Hài Kịch và tôi mất cảm tình với Thái Luân. Tâm cảm nầy tôi vẫn còn giữ khi viết về các buổi họp tại ĐaLạt như trên.

Sau khi viết xong lời ghi vội, tôi gặp bài Nửa Hồn Xuân Lộc dưới tên Nguyễn Phúc Sông Hương. Tôi chưa nhất thiết đã kéo Thái Luân vào một chiều hướng nào nhưng tôi thấy sự thiết tha của TL là chân thành. Tôi tìm hiểu thêm. PD hay thay đổi lời thơ của kẻ khác theo ý mình, thêm nhân vật tên Duyên vào thơ Nguyễn Tất Nhiên; chỉ dùng ý thơ từ một bài rất dài của Phạm Thiên Thư thành bài Lên Non Tìm Động Hoa Vàng. Ông cũng đã phổ bài Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm theo một lối khác với nguyên bản. Việc nầy không tác hại quyết liệt, hơn nữa ông phải uyển chuyển lời cho ăn khớp với nhạc. Nhưng lời diễn dịch của PD trong trường hợp nầy đã quá xa với một đoạn ngắn Thái Luân viết như sau:

           Xin cám ơn những cô gái bán bar nhỏ con
           Đã gồng mình chịu đựng
          Vì cuộc sống
          Của các cô
          Và của Việt Nam.
          Thưa thầy giáo, thưa công chức:
          Xin đừng vênh vênh cái mặt đạo đức
          Chửi người ta
          Con gái Huế bây giờ đi bán bar!

Không biết PD có hoàn tất dự án Phẫn Nộ Ca hay không, ngoại trừ Bi Hài Kịch xuất hiện trên nguyệt san của Thích Đức Nhuận.

Đoạn thơ ngắn trên đây đã đảo ngược cái nhìn của tôi về Thái Luân, cho nên tôi đã chuyển bài Nửa Hồn Xuân Lộc cho nhiều thân hữu. Một người bạn ở bên Đức đọc và nói với tôi rằng ông nổi da gà và thích cái hào hùng chân thành của Nguyễn Phúc Sông Hương tức Thái Luân. Ông bạn khác trách tôi làm cho vaccation dài hạn trên biển nhuốm mùi và màu bi thương thời đại.

Thái Luân lúc còn là thiếu úy ở Huế đã ấn hành Vùng Tủi Nhục gồm 25 bài thơ trong đó có bài Bi Hài Kịch và Cảm Ơn Bar nói trên. Ông bị phạt 40 ngày trọng cấm và ba tháng tù, rồi đi lính tiếp; và chức vụ cuối cùng là thiếu tá tiểu đoàn trưởng, Quân Đoàn 3, - ở trong cuộc - chứng kiến sự thất thủ Xuân Lộc vào những giờ cuối.
Bài thơ mà tôi hân hạnh chép bên dưới được trích từ web Đặc Trưng đăng giữa năm 2001, gồm phần thứ nhất và phần kế tiếp xem như một điệp khúc, in khác màu.

Qua một văn hữu, tôi biết Thái Luân xuất bản một cuốn sách và được một ông tiến sĩ giới thiệu theo một lối mà tôi nghĩ nói loanh quanh và – vì chính trị - không cho thấy một NPSH với những sôi động tâm tư vào những ngày cuối của VNCH. Ông tiến sĩ nầy đã được / bị một tác giả CS thứ thiệt tố cáo đã là bí thư một trường trung học lớn ở Huế. Tôi nghĩ ông nầy hối  thúc tác giả sửa lại bài thơ mà theo tôi rất tệ so với bản đầu tiên, và in thành tập thơ Tháng Tư Lính Không Cần Hớt Tóc. 
Bản thứ hai mới nầy đăng trên mục văn học của Việt Báo, trong một bài giới thiệu rất nhát gừng cuốn sách mới vừa nêu. Bài mới chỉ dài bằng phần thứ nhất bài thơ gốc, in màu xanh bên dưới.
Ngắn dài không phải là điều đáng nói. Điều đáng nói là có quá nhiều thay đổi mà theo cảm quan riêng không nên có. Trừ ra một điểm, là hai câu cuối cùng rất mới mà tôi nghĩ Đặc Trưng ghi thiếu vì đoạn cuối chỉ có hai câu, tôi xin ghi vào phần in bên dưới.

          Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
          Xích sắt nghiến qua những xác người!


Những thay đổi khác làm cho bài thơ xưa mất nhiều hào hùng.

Vỗ về nón sắt
 trở thành ném bi đông đế (cười khinh bạc). Ném bi đông rượu vẫn còn nóng nãy không khinh đời như thượng sĩ già, vỗ về nón sắt kiểu cổ bồn cùng Trang Tử mà hát khúc bi ca. Rồi đến (mới):

Mây xa quen kiếp đời phiêu bạt,
Bỏ núi ra đi cũng ngậm ngùi,
Huống chi bóng với hình tha thiết;
Hình nghiêng chao đổ, bóng chơi vơi!


Hai câu cuối, ngoài tính chất ước lệ, không ăn nhập vào đâu. Xin lấy hai câu cũ trở lại thì có chỗ mà so sánh (cũ):

Mây xa dù quen đời chia biệt
Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.
Rút quân, bỏ lại hồn ta đó
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!

Thêm một dẫn chứng;
cũ
Vì bí mật quân, ta đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn,
Núm ruột miền Trung càng xa vời
.

mới:
Bí mật lui quân nên đành phụ
Mối tình Long Khánh, tội người ơi!
Cao nguyên bài học đầy xương máu;
Một bước chân đi một xác người!

Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn, núm ruột miền Trung càng xa vời.; hai câu nầy cho thấy tầm nhìn rộng rãi của tác giả về chiến lược, Xuân Lộc và miền Trung tuy xa cách giao thông đều là hai phần đất của Cao Nguyên, mất Xuân Lộc thì miền trung chỉ là một chân của chiếc ghế gãy, mất Xuân Lộc là mất yết hầu, mất con đê chận nước lũ từ cao nguyên Boloven ngập lút Saigon. Tuy vậy, cũng như miền Trung, Xuân Lộc trong ngôn ngữ bình thường và ngay trong sách giáo khoa địa dư không được xem là Cao nguyên như Kontum, Pleiku, Darlac. Quân đoàn 2, với bộ tư lệnh trên cao, lại gồm thêm mấy tỉnh duyên hải.
Cao nguyên bài học đầy xương máu, Một bước chân đi một xác người! Có thế ý niệm Cao nguyên đi quá nhanh từ Xuân Lộc, dựa trên chiến lực và địa dư như vừa nói. Nhưng hai chữ "cao nguyên" chia trí người đọc. Ngoài ra, hai câu nầy đánh mất giá trị hai câu cuối của cả bài, âm vọng mất đi vì tội lập lại
                   Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
                   Xích sắt nghiến qua những xác người.

Cặp thất ngôn nầy là nhát chém quyết định, là thanh kiếm giữ kín, giờ cuối mới dùng, nghiến qua thần thức của người đọc. Thái Luân NPSH vô cùng "độc ác" như xích sắt nghiến qua những xác người.

Khi đối chiếu lần nầy, tôi thấy bài thơ đăng trên vietbao.com đã bỏ điệp khúc để kết chung thành một bài. Bài mới có những đoạn ước lệ và ủy mỵ, hoặc chỗ cũ sửa lại chải chuốc mỹ miều văn tự, bỏ đi những đoạn nghe rợn gáy ví như:

Bao năm ta trọn tình đất đỏ,
Một phút này thôi thẹn với đời
Sốt rét đêm run, ngày không ngã
Bao lần máu đổ dửng dưng cười.
Một phút này thôi, hừ lại ngã,
Bỏ thành, bỏ đất nhục nào vơi.
Thân ta là ngựa sao không hí
Cho nỗi đau lan rộng đất trời.

Hồn ta là kiếm sao không chém
Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
Ta đi, áo nhuộm màu đất đỏ
Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tiếc quá nắng vàng phơi áo trận,
Vườn nhà em chuối chín vàng tươi.

T
ôi thật phân vân, đêm qua ngủ không yên. Người viết bài báo sửa lại theo ý mình thì chán quá. Việc sửa bài của người khác xẩy ra luôn. Ngay cả Truyện Kiều mà còn bị viết lại một cách ngu xuẩn. Văn chương bây giờ thật không có gì “quí hơn độc lập tự do”. Người thân trong gia đình tôi tự nhiên được cho là nhà thơ Đỗ Hữu; Tất cả chữ “vô” đều sửa là “vào” như “vào lý” cho “vô lý”; gọi “một chai bia” được sửa thành “một cái bia”.
Riêng việc sửa bài nầy, nó không có gì tệ hại đến như thế. Chỉ mất đi cái hào hùng, dĩ nhiên dưới cái nhìn chủ quan của riêng tôi.

Nhưng nếu chính do NPSH viết lại của mình thì sự thể sẽ khác đi. Theo hộ luật, chứng từ mới như di chúc, ủy quyền v.v… hủy bỏ cái cũ. Vậy thì tôi đã vi phạm khi in phần chính và điệp khúc dưới tên NPSH.
Với tư cách người thưởng ngoạn, tôi tiếm quyền mà giữ những câu thơ cũ của Thái Luân NPSH trên dòng thời gian. Bài thơ cũ mà tác giả và bỉnh bút đã cho vào cõi diệt, theo tôi, cần được xếp ngang với Tây Tiến của Quang Dũng, Sầu Ai Lao của Đỗ Hữu.
Hơn nữa, những kiệt tác – một Nửa Hồn Xuân Lộc của NPSH, một Tây Tiến của Quang Dũng, một Sầu Ai Lao của Đỗ Hữu, những bài thơ ấy….. phóng lên cao, tự tại nhi nhiên như trăng sáng làm của chung, nhưng mỗi người tiếp nhận với cảm quan riêng, cùng rung cảm với Cao Bá Quát:
          Kho trời chung mà vô tận của mình riêng.

Bài viết đã xưa nay đem ra cập nhật 
với lời cầu chúc an vui cho mọi người, 
cầu mong có thái luân trường cửu như tên Thái Luân; 
nhịp nhàng của triệu chòm thiên thể, 
nhịp nhàng của loài ong trong tổ mật, 
nhịp nhàng trong ý nguyện tình đời, 
đừng làm như tôi,
chảy nước mắt thầm chỉ đủ ướt mi mỗi khi đọc
Nửa Hồn Xuân Lộc.

Cẩn bút từ thung lũng Subligna, Georgia
.---


Nửa Hồn Xuân Lộc
Nguyễn Phúc Sông Hương

Nếu được như bố già thượng sĩ
Nghe tin lui quân ch
ỉ nhìn trời,
V
ỗ về nón sắt, cười khinh bạc,
Ch
ắc hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.

C
òn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc
L
ại muốn tìm em nói ít lời,
Nh
ưng sợ áo mình đầy khói súng
Cay n
ồng mắt người gục trên vai.

Vì ch
ắc ôm nhau em sẽ khóc,
Khóc theo, v
ợ lính cả trăm người!
Em bi
ết dù tim ta sắt đá
Cũng v
ỡ theo ngàn giọt lệ rơi.

M
ây xa dù quen đời chia biệt
Ngo
ảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.
Rút quân, b
ỏ lại hồn ta đó
B
ảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!

Bí m
ật lui quân mà đành phụ
M
ối tình Long Khánh tội người ơi.
M
ất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn
Núm ru
ột miền Trung càng xa vời. 

Sáng mai th
ức dậy, em buồn lắm
S
ẽ khóc trách ta nỡ phụ người.
Lòng ta nh
ư trái sầu riêng rụng
Trong v
ườn em đó vỡ làm đôi!

Đêm nay Xuân L
ộc vầng trăng khuyết
Nh
ư một vành tang bịt đất trời!
Chân theo quân rút, h
ồn ta ở
Sông n
ước La Ngà pha máu sôi;

Th
ương chiếc cầu tre chờ thác lũ
Cu
ốn qua Xuân Lộc khóc cùng người
Ta đi, áo nhu
ộm màu đất đỏ
Cao su v
ướng tóc mãi thơm mùi,

Ti
ếc quá nắng vàng phơi áo trận,
V
ườn nhà em chuối chín vàng tươi.
Ta nh
ớ người bên đàn thỏ trắng,
Cho b
ầy gà nắm lúa đang phơi,

Ch
ôm chôm hai gốc đong đưa võng,
Ru n
ắng mùa xuân đẹp nụ cười...
N
ếu được đưa quân lên Định Quán
Cu
ối cùng một trận cũng là vui

Núi Ch
ứa Chan kia sừng sững đứng
S
ư đoàn 18 sao quân lui?
Thân ta là ng
ựa sao không hí
Cho n
ỗi đau lan rộng đất trời.

H
ồn ta là kiếm sao không chém
R
ạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
H
ỡi ơi! chân bước qua Bình Giã
C
ẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!

L
ửa cháy, cả lòng ta lửa cháy
Xóm làng Gia Ki
ệm nhớ khôn nguôi.
Đêm nay Xuân L
ộc, đoàn quân rút
Đành bi
ệt nhau, xin tạ lỗi người.

Chao 
ơi tiếng tắc kè thê thiết
Kêu gi
ữa đêm dài sợ lẻ loi,
Chân b
ước, nửa hồn chinh chiến giục
N
ửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui.

Ta bi
ết dưới hầm em đang khóc
Thét g
ầm pháo địch dập không thôi
Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích sắt nghiến qua những xác người.

---------------------

Buổi chiều nhận lệnh rời Xuân Lộc
Ta muốn tìm em nói ít lời,
Nh
ưng sợ em buồn, không nói được
Nên đành l
ặng lẽ mà đi thôi!

Ng
ại phút rời xa em sẽ khóc,
Bao ng
ười vợ lính sẽ buồn theo
Y
ếu đuối tim ta người chiến sĩ
Lo
ạn rừng, tội nghiệp tiếng chim kêu.

Rút quân b
ỏ lại đời ta đó,
B
ảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời,
L
ửa ngút, trái tim ta lửa ngút,
Trái tim ng
ười lính mới yêu người.

Vì bí m
ật quân, ta đành phụ
M
ối tình Long Khánh tội người ơi
M
ất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn,
Núm ru
ột miền Trung càng xa vời.

Sáng mai ch
ắc chắn em buồn lắm
S
ẽ trách sao ta lại phụ người.
Lòng ta nh
ư trái sầu riêng rụng
Trong v
ườn em đó vỡ làm đôi

Cao nguyên bài h
ọc đầy cay đắng
L
ớp lớp người rơi, lớp lớp rơi ...
Ta ch
ẳng muốn làm người bại trận
Thành ng
ười tình phụ đó em ơi.

Ðêm nay quân rút hồn ta ở
Nhìn n
ước La Ngà pha máu sôi,
Th
ương chiếc cầu chờ cơn thác lũ
Tr
àn qua Xuân Lộc cuốn theo người.

Ta đi áo nhu
ộm màu đất đỏ
Cao su v
ướng tóc mãi thơm mùi,
T
ội nghiệp nắng vàng chờ áo trận
Khi tàn chinh chi
ến sẽ đem phơi.

Em h
ỡi, em thương đàn thỏ trắng,
B
ầy gà mất mẹ sống mồ côi
Em h
ỡi em thương người lính trận
Ng
ười lính đêm nay phụ bạc rồi.

Bao năm ta tr
ọn tình đất đỏ,
M
ột phút này thôi thẹn với đời
S
ốt rét đêm run, ngày không ngã
Bao l
ần máu đổ dửng dưng cười.
M
ột phút này thôi, hừ lại ngã,
B
ỏ thành, bỏ đất nhục nào vơi.

N
ếu được đưa quân lên Ðịnh Quán,
Cu
ối cùng một trận cũng là vui.
Sáng mai chân b
ước qua Bình Giã,
C
ẩm Mỹ nhìn lui luống ngậm ngùi!

L
ửa cháy, cả lòng ta lửa cháy,
M
ột trời Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.
Muôn năm em h
ỡi trời xuân Lộc
Gi
ữ nửa hồn ta mãi với người.

Gi
ữ nửa hồn ta bên chiếc võng
D
ưới giàn thiên lý bóng trăng soi .. .
Ðêm nay quân rút s
ầu riêng rụng
Trong v
ườn em và trong tim tôi!

Tôi s
ợ một ngày mai bại trận
Ð
ể em côi cút lại trên đời.
N
ếu phải một ngày mai bại trận
Ðêm nay sao ta l
ại bỏ người!

Em h
ỡi, dưới hầm ai đang khóc,
Thét gào pháo đ
ịch mãi không thôi.
Xuân L
ộc trời ơi Xuân Lộc cháy
Ai g
ọi tôi về trời Gia Rai!! 

trích từ vietbao

Nửa hồn Xuân Lộc

Nếu được như bố già thượng sĩ
Nghe tin lui quân, ng
ước nhìn trời,
Ném bi đông đ
ế, cười khinh bạc
Ch
ắc hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.

Còn ta nh
ận lệnh rời Xuân Lộc,
L
ại muốn tìm em nói ít lời,
Nh
ưng sợ áo mình đầy khói súng
Cay n
ồng đôi mắt gục trên vai,

Giây phút c
ầm tay em sẽ khóc,
Khóc theo, v
ợ lính biết bao người,
Ta bi
ết dù tim mình sắt đá
Cũng v
ỡ theo ngàn giọt lệ rơi.

Mây xa quen ki
ếp đời phiêu bạt,
B
ỏ núi ra đi cũng ngậm ngùi,
Hu
ống chi bóng với hình tha thiết;
Hình nghiêng chao đ
ổ, bóng chơi vơi!

Bí m
ật lui quân nên đành phụ
M
ối tình Long Khánh, tội người ơi!
Cao nguyên bài h
ọc đầy xương máu;
M
ột bước chân đi một xác người!
Sáng mai th
ức dậy em buồn lắm
S
ẽ khóc trách ta nỡ phụ rồi.
Lòng ta nh
ư trái sầu riêng rụng
Trong v
ườn em đó vỡ làm đôi.

Bao nhiêu gai nh
ọn sầu riêng đó,
Ta s
ẽ quỳ lên chịu suốt đời!
N
ếu thật lui quân là bại trận
Thì ta nh
ất quyết chẳng xa người.

Đêm nay Xuân L
ộc vầng trăng khuyết;
M
ột mãnh khăn tang khóc giống nòi!
Chân theo quân b
ước hồn ta ở
Sông n
ước La Ngà  pha máu sôi.

Trách mình quên rót ly t
ừ giả
Nh
ững hồn anh kiệt đã nằm nơi...
Ôi cu
ộc giao tranh buồn bã quá,
H
ạ bao nhiêu địch vẫn không cười.

N
ếu được tràn quân lên Định Quán,
Đánh vùi m
ột trận để đời vui.
Núi Ch
ứa Chan kia sừng sừng đứng
S
ư đoàn 18 sao quân lui"

Ng
ựa lồng bãi chiến mà không hí,
Ph
ải chăng ngựa chiến đã tàn hơi"
Tay vung ki
ếm bén mà không chém.,
Ph
ải chăng kiếm chủ chẳng còn người"

Không! không! ta hi
ểu lòng ta lắm
Sông núi bao ngày đã t
ả tơi!
Ng
ười lính miền Nam đi chiến trận
Luôn kh
ắc trong tim nghĩa giống nòi.

B
ước chân lững thững vào Quân sử,
Nghe tr
ống trận xưa giục liên hồi!
Đây giáo Chi Lăng, g
ươm Vạn Kiếp,
Ti
ếng hò đuổi giặc dậy ngàn nơi.

Đ
ạp chốt nghe đau lòng tĩnh lộ,
Nhìn lui, l
ữa đỏ nhuộm góc trời,
Cao su trùng đi
ệp rừng che mộ,
Th
ị trấn hoang tàn, pháo địch rơi...

Em 
ơi Xuân Lộc, ơi Xuân Lộc,
Ng
ười lính hôm qua tạ lỗi Người.
Chao 
ơi tiếng tắc kè thê thiết
G
ọi giữa đêm dài sợ lẻ loi.
Chân b
ước nửa hồn chinh chiến giục,
N
ửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui!
D
ưới hầm, ta biết em đang khóc,
Thét, g
ầm...pháo địch dập không thôi!
Em 
ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích s
ắt nghiến qua những xác người!

Sunday, March 10, 2024


Lái xe cho sếp Nhật Bản
Công ty tôi vừa có một tên người Nhật sang làm dự án trong khoảng 3 tháng, và tôi được giao nhiệm vụ lái xe cho hắn. Lâu nay toàn lái xe cho các sếp Việt Nam, giờ lần đầu tiên được lái cho sếp Nhật nên tôi thấy hứng thú lắm! Tôi tức tốc ra vỉa hè mua quyển sách “Tự học tiếng Nhật cấp tốc” về để nghiên cứu. Mình lái xe cho sếp Nhật thì cũng phải biết vài ba câu giao tiếp tiếng Nhật chứ.
Từ khi mua sách về, tôi nghiên cứu và tự học rất miệt mài, gần như không lúc nào tôi rời quyển sách. Bởi thế, hôm gặp sếp Nhật tôi tự tin lắm, đưa tay bắt rất thân thiện và chào hỏi “cực kỳ” trôi chảy bằng tiếng Nhật:
– Mi đua ku ra, ta xoa ku mi !
Có vẻ như tên Nhật đó không hiểu tôi nói gì thì phải, hắn lắc đầu ngơ ngác rồi hỏi lại:
– Xoa ku ta chi ? Ngu chi cho xoa, xa ku ta ra, xoa ku mi đi!
Tất nhiên là tôi cũng không hiểu hắn nói gì, vậy nên cuối cùng cả hai quyết định sử dụng tiếng Anh, dù rằng trình độ tiếng Anh của tôi và hắn cũng bập bẹ ngang nhau, nhưng may là vẫn đủ để đoán được ý mà đối phương đang muốn diễn đạt.

M
ột điều khá thú vị đó là tên sếp Nhật này lại nói được vài câu tiếng Việt, không phải “xin chào”, “cảm ơn” – như mấy ông ngoại quốc, mấy chị đại sứ hay nói bọ bẹ trên tivi đâu, mà là những câu dài hẳn hoi, kiểu như : “Cấm ăn cắp vặt, ăn cắp vặt là phạm tội”, hoặc “Vui lòng ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, ăn không hết sẽ bị phạt tiền”, rồi cả “Không được dắt chó vào công viên này, nếu chó ị ra phải tự mang phân chó về”… Tôi nghe tên sếp Nhật ấy nói mấy câu đó thì ngạc nhiên và khen hắn giỏi quá! Nhưng hắn chỉ cười mỉm rồi cất giọng đầy khiêm tốn:

– Giỏi gì đâu! Ở bên Nhật, mấy câu đó viết đầy trong siêu thị, nhà hàng, công viên, nhìn nhiều nên quen, nên nhớ thôi!

Một cảm giác tự hào chợt dâng trào trong lòng tôi nghẹn ngào. Tự hào là phải, bởi lâu nay người ta luôn coi tiếng Anh, tiếng Tàu là hai ngôn ngữ phổ biến và được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, nhưng bây giờ, tiếng Việt đang trỗi dậy và nhăm nhe lật đổ sự thống trị của hai thứ tiếng ấy. Giờ, đi ra nước ngoài, không chỉ ở Đông Nam Á, Châu Á, mà cả Phi, Mỹ, Úc, Âu, đâu đâu ta cũng có thể bắt gặp những dòng chữ tiếng Việt thân yêu, dù rằng chúng được viết nguệch ngoạc, sai chính tả, thiếu dấu, thiếu vần, trên những tấm ván, tấm bìa nham nhở, lấm lem, nhưng chỉ vậy thôi cũng đủ để chúng ta cảm thấy nao lòng.

B
an đầu hào hứng bao nhiêu thì sau đó tôi chán nản bấy nhiêu. Người đời dạy rằng: “Thà có một kẻ thù giỏi còn hơn có một ông chủ dở hơi”, quả là không sai. Trước đây, khi lái cho các sếp cũ thì phải 8 rưỡi, 9 giờ sáng tôi mới phải đánh xe đến đón các sếp, rồi chở sếp qua quán phở ăn sáng, xong uống café, đến công ty cũng đã là gần 10 giờ. Sếp làm việc đến 11 giờ thì lại chở sếp đi ăn trưa, uống bia, 3 giờ chiều đưa sếp quay lại công ty rồi 4 rưỡi đón sếp về, thế là xong. Những lúc sếp ăn uống, nhậu nhẹt thì thường là sếp gọi tôi vào ngồi cùng. Nếu hôm nào sếp tiếp khách sang, không được gọi vào, thì tôi lại ra xe ngả ghế xuống ngủ rất thảnh thơi.

Thế nhưng chỉ sau hai tuần làm lái xe cho thằng sếp Nhật dở hơi, tôi trở nên phờ phạc, rã rời. Đúng 6 rưỡi sáng tôi phải dậy chuẩn bị xe qua đón nó. Theo quy định của công ty thì 7 rưỡi mới là giờ làm việc nhưng chỉ khoảng 7 giờ 15 là nó đã có mặt và chui vào phòng làm việc luôn. Ngày trước đi với các sếp cũ tôi thường xuyên được các sếp cho ăn sáng, ăn trưa, uống bia, gái gù, hát hò, chứ từ ngày lái cho thằng Nhật này tôi toàn phải nhịn đói, vì sáng tôi đến đón nó thì nó đã ăn sáng xong rồi, trưa nó ăn qua loa ngay tại phòng bằng đồ ăn nhanh rồi lại cắm đầu vào làm việc, tối nào nó cũng ngồi lại công ty đến 7, 8 giờ, vậy nên tôi cũng phải ngồi chờ nó với cái bụng đói meo và khuôn mặt bơ phờ.

Chưa hết, nhiều lần đang đi, nó bắt tôi dừng xe lại, rồi nó mở cửa xe chạy vụt ra. Tôi tưởng nó đi tè nhưng không phải, hóa ra nó nhặt cái vỏ bao cám con cò về để may túi xách.

Đặc biệt có lần tôi chở nó đi công chuyện, vừa đánh xe ra cổng thì tôi quệt ngay vào cái xe đạp cũ nát của ai đó dựng ở mé đường làm chiếc xe đạp đổ kềnh, cái yên xe gãy gập và văng ra. Tôi đang định phóng đi thì thằng sếp Nhật bắt tôi dừng lại, rồi nó mở cửa phi ra. Nó dựng cái xe đạp lên ngay ngắn, móc ra tờ 500 nghìn rồi kẹp vào tờ giấy, để vào giỏ cái xe đạp, trên tờ giấy nó nhờ tôi viết hộ rằng: “Tôi vô tình làm gãy yên xe của bạn. Hãy cầm tiền này để sửa xe, và hãy tha lỗi cho tôi”.
Hôm sau, cũng đúng lúc đánh xe ra cổng, tôi lại quệt vào cái xe đạp cũ nát đó. Lần này thì cái yên không văng ra nữa mà là cái bàn đạp. Thằng Nhật lại nhảy xuống, dựng xe lên, bỏ 500 nghìn vào giỏ xe rồi để lại mảnh giấy: “Tôi vô tình làm gãy bàn đạp của bạn. Hãy cầm tiền này để sửa xe, và hãy tha lỗi cho tôi”.
Hôm sau nữa, cũng đúng lúc đánh lái ra cổng, tôi lại quệt vào cái xe đạp đó. Lần này thì cái yên và cái bàn đạp không văng ra nữa mà là cái chắn xích. Tuy nhiên, hôm đó không có thằng Nhật đi cùng mà chỉ có mình tôi trên xe, vậy nên tôi phóng thẳng. Đang định nhấn ga lao đi thì từ bên đường, một mụ già lao ra chặn ngay đầu xe tôi, mụ vừa dang hai tay, vừa gào thét :
– Thằng chó! Dừng lại đền tiền sửa xe cho bà đi chứ. Tại sao hôm nay mày lại bỏ chạy?!
Tôi nghe vậy thì mở cửa, thò đầu ra bảo :
– Thôi đi bà ơi! Cái xe của bà bán cho đồng nát chắc được hai chục! Hôm nay có mình tôi thôi, thằng Nhật không đi cùng đâu! Nghỉ sớm đi!

R
ồi một lần khác, đang vội nên tôi vượt đèn đỏ và bị công an tuýt còi. Theo bản năng, tôi nhấn ga vọt lên. Công an thấy tôi chạy thì cũng không đuổi theo nữa. Tưởng là xuôi, ai ngờ thằng Nhật ấy chửi tôi, nó nói rằng vượt đèn đỏ và bỏ chạy là phạm luật. Rồi nó bắt tôi quay xe lại chỗ công an nộp phạt đàng hoàng xong mới đi tiếp. Đúng là thằng dở hơi!

Lái xe cho thằng Nhật hâm ấy một thời gian thì tôi đã hiểu được tính cách của nó. Đi đường thấy cái vỏ bao cám con cò nào vứt bên đường thì tôi tự giác dừng lại cho nó xuống nhặt; chẳng may có quệt vào xe cộ hay đồ đạc của ai gây hư hỏng thì tôi cũng tự giác dừng lại để nó xuống trả tiền bồi thường; có lỡ quen chân vượt đèn đỏ hay đi ngược chiều thì cũng tự giác vòng xe ra chỗ công an để nộp phạt.
Hôm ấy, thằng sếp Nhật bảo tôi ra sân bay đón một thằng Nhật khác. Cái thằng Nhật này mặt cứ lầm lì, từ lúc lên xe nó không nói với tôi câu nào. Tôi cũng chả quan tâm mà chỉ tập trung vào lái xe. Tập trung là thế, ấy vậy mà qua ngã tư tôi lại quen chân vượt đèn đỏ, và lại bị công an tuýt còi. Tôi đang giảm tốc độ và cho xe chầm chậm táp vào lề bên phải theo hiệu lệnh của công an giao thông thì bất chợt thằng Nhật đó hét lên, và nó hét bằng tiếng Việt :
– Mày dừng lại làm cái gì! Chạy luôn đi! Đường đông thế này công an không đuổi theo đâu!
– Em tưởng anh là người Nhật?, tôi hỏi hắn bằng giọng thảng thốt!
– Tao là người Nhật, nhưng tao sống ở Việt Nam mấy chục năm rồi! Chạy nhanh lên!
(không biết tên tác giả; bài share lui share tới trên Facebook)

Thursday, March 7, 2024

gái Trường Sơn (bài cũ))


 





Cô Gái Trường Sơn

Không biết tên tác giả * 2011

Một cô thanh niên xung phong bị phát hiện đang lén lút làm cái việc “tự sướng” bên con suối nhỏ sâu trong rừng.

Suốt ba đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, cô bị đồng chí của mình, toàn nữ, kiểm điểm gay gắt và không ngớt lời xỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “Một biểu hiện suy đồi đạo đức!” "Một hành động bêu xấu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, đi ngược với lý tưởng và lối sống cách mạng tốt đẹp!” “Xử bắn con đĩ tư sản thối nát ấy đi!” v.v....

Sang ngày thứ tư, không chờ đồng đội xử bắn, “con đĩ tư sản thối nát” ấy đã treo cổ tự tử trên cành cây bị bom chặt đứt một nửa.

Chủ trì và cũng lớn tiếng xỉ vả nhất trong ba đêm đấu tố ấy là cô Duyên. Đơn giản vì cô là đội trưởng đội thanh niên xung phong ấy. Duyên là người làng tôi, thậm chí suýt thành chị dâu, nếu anh trai con ông bác tôi không hy sinh ở Quảng Trị năm 68. Tự cô kể tôi nghe chuyện này khi hết chiến tranh trở về nhà.

“Tội nghiệp nó! Người ta bảo thì bọn chị phải làm thế, chứ thương lắm!” cô nói, rơm rớm nước mắt. “Khối đứa như nó. Chị biết”.

“Cả chị?” tôi hỏi.

Ngập ngừng một lúc, chị nói, giọng thách thức:

“Thì sao? Chị không là người chắc? Cả bầy con gái thui thủi một mình trong rừng không một mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị chị thì không, nhưng nghe nói ở Đrao, Tây Nguyên, có mấy chục đứa phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé hết quần áo kéo chạy tồng ngồng giữa rừng như những con điên.

Cao nguyên Trung Việt ngày nay
Mắt chị lại rưng rưng.

Về làng được bốn năm, do lỡ thì, và cũng do chẳng còn đàn ông nào nữa mà lấy, chị Duyên xuống tóc đi tu, ở ngay Chùa Mít bên sông Bùng. Vợ chồng bác tôi thương lắm, nhưng chẳng can ngăn. Trong thâm tâm hai cụ vẫn coi chị là con dâu. Có người nói chị bị ai đó trên tỉnh lừa tình. Chuyện này thì tôi không rõ, mà cũng chẳng quan trọng. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng, thậm chí đau nhói trong ngực khi hình dung chị dâu hụt của tôi, – một người xinh đẹp, yêu đời, từng nhiều năm làm đội trưởng đội văn nghệ xã, – lại tự nguyện giam mình trong ngôi chùa hiu quạnh, đổ nát, với bộ quần áo màu nâu nhà Phật. Mấy ngày sau, tôi đến tìm chị, định hỏi cho ra chuyện, nhưng tôi đã không vào chùa khi đứng từ xa nhìn thấy chị đang thẫn thờ đưa chổi quét đi quét lại cái sân vốn đã sạch.

Lặng lẽ ra về, tôi cố giải thích mà không giải thích nỗi cái gì đã biến một cô gái tươi vui, hồn nhiên, tràn trề hạnh phúc và xứng đáng được hưởng hạnh phúc thành một người yếm thế, bất hạnh như vậy.

Chiến tranh? Phải chăng đây là cái giá của chiến tranh?

Bẵng đi nhiều năm, tôi lại vào chùa Mít.

Nó vẫn thế. Hai cây nhãn trước chùa vẫn thế, và vẫn thế, chúng không chịu cho quả.

Đang vắng người, tôi vào thẳng phòng riêng sư trụ trì, sư thầy Đàm Duyên. Sư thầy chứ không phải sư cô như ngày nào.

“Chào chị Duyên,” tôi lên tiếng, không hiểu sao còn cố tình nói to.

“Mô phật. Xin xưng hô với kẻ tu hành này theo đúng cách của nhà Phật. Chào chú.”

Đứng chắp tay trước mặt tôi, đầu hơi cúi, là một bà già nhỏ bé, khô đét và không còn tí dấu vết nào của cô Duyên ngày xưa cũng như sư cô Đàm Duyên sau đó tôi gặp. Nét mặt bà không chỉ vô cảm mà bất động như được nặn bằng sáp. Cái đầu trọc bóng loáng cũng có lớp sáp nhờn nhợt ấy.

Bất giác, tôi chợt nghĩ: “Nếu không trọc, không biết tóc chị sẽ bạc đến đâu?”

“Chị khỏe chứ?”

“Mô phật.”

“Người ta nói nay mai chùa Mít bị đập bỏ để xây đường lớn lên Đô Lương và sang Lào?”

“Mô phật,” và chị khẽ cúi đầu.

“Thế chị và mọi người đi đâu?”

Sư thầy Đàm Duyên không đáp. Chất sáp trên mặt và cái đầu trọc của bà càng trở nên rõ nét hơn. Hình như bà đang khóc, dù đôi mắt sâu vô hồn vẫn ráo hoảnh.

Lát sau tôi bỏ về, vô cớ hậm hực với ngôi chùa tội nghiệp sắp bị phá bỏ, với hai cây nhãn xum xuê mà không chịu cho quả. Với cả chính tôi vì mãi vẫn lấn cấn tìm lời giải thích cho số phận chị dâu mình và những người như chị.

Chiến tranh! Ừ, chiến tranh! Tiên sư thằng chiến tranh!

Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn trong cuống họng, muốn văng tục chửi ai đó, đập phá cái gì đó mà không được. Chửi cái thằng gây ra chiến tranh chẳng hạn. Tiên sư thằng gây ra chiến tranh!

Đừng nói với tôi về chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa. Tôi đã đủ khôn lớn để hiểu rằng cuộc chiến ấy, nếu quả là bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa như người ta nói, cũng chẳng là gì nếu nó là thủ phạm của hàng triệu cái chết dân Việt, hàng chục triệu cuộc chia ly đau đớn, thủ phạm của một sự đảo lộn triệt để các giá trị truyền thống dân tộc. Nó trở thành nhảm nhí khi vì nó các cô gái của chúng ta phải “tự sướng” và tự treo cổ, khi một người trẻ trung, tươi vui và tràn trề nhựa sống như chị Duyên của tôi phải biến thành một hình sáp vô hồn.

“Ừ, mà nếu không cạo đầu, tóc của chị sẽ bạc đến đâu nhỉ?”

===================================================================================

Saigon 1973
===============================