add this

Tuesday, January 26, 2016

vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương



Xích Bích Dạ Du, tranh Phó Bảo Thạch


kho trời vô tận, thiên nhất phương
tôn thất tuệ

Bản dịch Tiền Xích Bích Phú của Phan Kế Bính đơn giản dễ chịu hơn bản của Nguyễn Văn Thọ. Đây chỉ là một cảm quan, tôi không thể đối chiếu với nguyên văn. Nhưng nhờ phần diễn âm, tôi thấy không vừa lòng đối với hai tác giả khả kính nầy, riêng về một câu bảy chữ: vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương. Hai vị nầy không diễn đạt hết cái hào hùng của câu nầy và của Đường Thi nói chung.
Hào hùng như Mireille Mathieu hát tình khúc Amour Défendu thiết tha như khi hát Marseillaise.

Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương. Đọc xong phải vỗ bàn, dằn ly rượu xuống mặt gỗ, như một tuyệt khúc trong sonate của Beethoven. Như khi diễn viên hát bộ vừa ngâm xong, người cầm trịch, đánh tiếng trống dứt khoát rồi bặc ngay âm thanh, tay nắm nạm tiền thưởng mà quẳng lên sân khấu.
Phan Kế Bính: 
                                 Nhớ ai canh cánh bên lòng
                         Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời.

Nguyễn Văn Thọ:
                                 Nhớ ai canh cánh khôn khây
                         Nhớ người má phấn đó đây cách trùng.

NVT đã đi theo con đường của PKB nhưng gần nguyên bản hơn chỉ trong một chữ “người má phấn” thay cho “người quân tử”.

Nói tùm lum tà la như thế mà tôi thật không hiểu rõ nghĩa của câu nầy. Tôi nhìn trong bản chữ Hán có thấy chữ thiên viết như trời thiên trời địa đất tử mất tồn còn ….. Là một danh từ, có thể là động từ không? Chữ thượng là một trạng từ, vừa là một động từ được chăng? Đài ngân thướng giai lục, thềm cấp rêu đã lên xanh. Ngọ thượng thiên lương (Tử vi: sao thiên lương ở cung ngọ).

Vọng tưởng đến người đẹp, đều nầy làm nghiêng đổ (thiên trong thiên vị?) một phương trời.
Vọng tưởng đến mỹ nhân, ta nghiêng người về một phương trời vì phương trời ấy chính là tâm thể của ta, hay đúng hơn mỹ nhân đã chiếm tâm thức ta để ta nhìn đâu đều thấy nàng như ta thấy đâu cũng là trời hay ít ra một góc trời.
Vọng mỹ nhân, ta chỉ có một hướng, (phương trong phương hướng?) như ta thường xướng nhất tâm đảnh lễ nam mô ...; nam mô là hướng về,  hội nhập với. Theo một bài viết, học giả thiền Suzuky nói có bài kệ mà sáu người dịch khác nhau nghe cũng có lý và êm xuôi.
Thiên nhất phương là ba chữ sống chết.
Cao Bá Quát
Mãi cho đến nay tôi mới biết Cao Bá Quát dùng nguyên văn một câu của Tô Đông Pha. Đây không có chuyện đạo văn. Duy giang thượng chi thanh phong, dữ sơn gian chi minh nguyệt. Cao Bá Quát đem câu nầy vô thơ mình, bừng bừng sinh khí. Như một chão dầu sôi nhưng chưa đủ, cần một nội tướng như nhà tôi ném vào mấy lát cá salmon với nắm thì là, thì trời đất nổ tung như big bang. Miếng cá và nắm thì là trong tay CBQ là:
                   kho trời chung mà vô tận của mình riêng.


Hết ý, ngưng, dấu lặng, dấu lặng dài mấy vạn trường canh, nhắm mắt, thiên nhất phương. 

tiền xích bích phú, tô đông pha

phiên âm Hán Việt

Nhâm Tuất chi thu, thất nguyệt ký vọng. Tô Tử dữ khách phiếm chu, du ư Xích Bích chi hạ.
Thanh phong từ lai, thủy ba bất hưng, cử tửu chúc khách, tụng minh nguyệt chi thi, ca yểu điệu chi chương. Thiếu yên, nguyệt xuất ư đông sơn chi thượng, bồi hồi ư đẩu ngưu chi gian, bạch lộ hoành giang, thủy quang tiếp thiên. Túng nhất vĩ chi sở như, lăng vạn khoảnh chi mang nhiên. Hạo hạo hồ như bằng hư ngự phong, nhi bất tri kỳ sở chỉ; phiêu phiêu hồ như di thế độc lập, vũ hóa nhi đăng tiên. Ư thị ẩm tửu lạc thậm, khấu huyên nhi ca chi. Ca viết:

        “Quế trạo hề lan tương,
          Kích không minh hề tố lưu quang.
          Diểu diểu hề ngô hoài,
          Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương”.

Khách hữu xuy động tiêu giả, ỷ ca nhi họa chi; kỳ thanh minh minh nhiên, như oán, như mộ, như khấp, như tố, dư âm niểu niểu bất tuyệt như lũ. Vũ u hác chi tiềm giao, khấp cô chu chi ly phụ.
Tô Tử tiễu nhiên, chính khâm, nguy tọa nhi vấn khách viết:
– Hà vi kỳ nhiên dã?
Khách viết:
– Nguyệt minh, tinh hy, ô thước nam phi, thử chi Tào Mạnh Đức chi thi hồ? Tây vọng Hạ Khẩu, đông vọng Vũ Xương, sơn xuyên tương mục, uất hồ sương sương, thử phi Tào Mạnh Đức khốn ư Chu Lang giả hồ?  Phương kỳ phá Kinh Châu, hạ Giang Lăng, thuận lưu nhi  đông dã, trục lô thiên lý, tinh kỳ tế không, sái tửu lâm giang, hoành sáo  phú thi, cố nhất thế chi hùng dã, nhi kim an tại tai? Huống ngô dữ tử ngư tiều ư giang chử chi thượng, lữ ngư hà nhi hữu mi lộc, giá nhất diệp chi biên chu, cử bào tôn dĩ tương chúc, ký phù du ư thiên địa, diểu thương hải chi nhất túc, ai ngô sinh chi tu du, tiện trường giang chi vô cùng, hiệp phi tiên dĩ ngao du, bão minh nguyệt nhi trường chung, tri bất khả hồ sậu đắc, thác di hưởng, ư bi phong!
Tô Tử viết:
– Khách diệc (bất) tri phù thủy dữ minh nguyệt hồ? Thệ giả như tư, nhi vị thường vãng dã. Doanh hư giả như bỉ, nhi tốt mạc tiêu trưởng dã. Cái tương tự kỳ biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn; tự kỳ bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận dã, nhi hựu hà tiện hồ? Thả phù thiên địa chi gian, vật các hữu chủ, cẩu phi ngô chi sở hữu, tuy nhất hào nhi mạc thủ. Duy giang thượng chi thanh phong, dữ sơn gian chi minh nguyệt, nhĩ đắc chi nhi vi thanh, mục ngộ chi nhi thành sắc, thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt, thị tạo vật giả chi vô tận tàng dã, nhi ngô dữ tử chi sở cộng thích.
Khách hỉ nhi tiếu, tẩy trản cánh chước, hào hạch ký tận, bôi bàn lang tạ, tương dữ chẩm tạ hồ chu trung, bất tri đông phương chi ký bạch.

                   
Bản dịch của Phan Kế Bính

Ngoài rằm tháng bảy mùa thu năm Nhâm Tuất, Tô Tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xích Bi. Hây hẩy gió mát sóng lặng như tờ. Cầm chén rượu lên mời khách, đọc bài thơ Minh Nguyệt và hát một chương Yểu Điệu. Một lát, trăng mọc lên trên núi Đinh Sơn, đi lững thững ở trong khoảng hai sao Ngưu, Đẩu. Khi đó, sương tỏa trên mặt sông, vẻ nước trong tiếp đến chân trời, tha hồ cho một chiếc thuyền nhỏ đi đâu thì đi, vượt qua trên mặt nước mông mênh muôn khoảnh. Nhẹ nhàng như cưỡi gió đi trên không mà không biết là đi đến đâu; hớn hở sung sướng như người quên đời đứng một mình, mọc cánh mà bay lên tiên. Vì thế uống rượu vui lắm, rồi gõ vào mạn thuyền mà hát. Hát rằng:

                Thung thăng thuyền quế chèo lan,
        Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong.
                Nhớ ai canh cánh bên lòng,
        Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời.

Trong bọn khách có một người thổi ống sáo, theo bài ca của ta mà họa lại. Tiếng sáo não nùng rền rĩ, như sầu như thảm, như khóc như than. Dư âm hãy còn lanh lảnh, nhỏ tít lại như sợi tơ chưa dứt; làm cho con giao long (thuồng luồng) ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác cũng phải sụt sùi.
Tô Tử buồn rầu sắc mặt, thu vạt áo ngồi ngay ngắn mà hỏi khách rằng:
- Làm sao lại có tiếng não nùng làm vậy?
Khách đáp rằng:
- Câu "Nguyệt minh tinh hi, ô thước nam phi" (trăng sáng sao thưa, quạ bay về nam), chẳng phải là câu thơ của Tào Mạnh Đức đó ru? Đương khi Tào Mạnh Đức phá Kinh Châu, xuống thành Giang Lăng, thuận dòng mà sang mặt đông, tàu bè muôn dặm, cờ tán rợp trời; rót chén rượu đứng trên mặt sông, cầm ngang ngọn giáo ngâm câu thơ, đó thực là anh hùng một đời, mà nay thì ở đâu? Huống chi tôi với bác đánh cá kiếm củi ở trên bến sông này, kết bạn cùng tôm cá, chơi với hươu nai, bơi một chiếc thuyền nho nhỏ, nhắc chén rượu để mời nhau, gửi thân dù du (con vờ) ở trong trời đất xem ta nhỏ nhặt như một hạt thóc ở trong bể xanh, thương cho sự sống của ta không bao lâu, mà khen cho con sông này dài vô cùng. Vậy mà muốn được dắt tiên bay để chơi cho sung sướng, ôm lấy vừng trăng tỏ mà sống mãi ở đời. Tôi biết không làm sao được như vậy cho nên nảy ra tiếng rầu rĩ ở trong cơn gió thoảng”.
Tô Tử nói:
- Vậy thế bác có biết nước và mặt trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ; mặt trăng khi tròn khi khuyết như vậy, mà chưa từng thêm bớt bao giờ. Bởi vì ta tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt; mà nếu tự ở nơi không biến đổi mà xem thì muôn vật cùng với ta đều không bao giờ hết cả. Cần gì phải khen đâu! Vả lại ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy. Nếu không phải là của ta thì dẫu một ly ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông, cùng là vừng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết, đó là kho vô tận của tạo hóa, và là cái thú chung của bác với của tôi”.
Khách nghe vậy, mừng mà cười, rửa chén lại rót rượu uống lần nữa. Khi đồ nhắm hoa quả đã khan, mâm bát bỏ ngổn ngang, cùng nhau gối đầu ngủ ở trong thuyền, không biết vừng đông đã sáng bạch tự lúc nào.

Bản dịch của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Năm Nhâm Tuất mùa thu tháng bẩy,
Rằm đã qua, chiều lại bâng khuâng.
Dưới chân Xích Bích chập chùng,
Khách cùng Tô Tử thuận giòng chơi trăng.
Gió thu nhẹ linh lung khẽ thổi,
Sông như gương chẳng nổi sóng hoa.
Rượu ngon chuốc chén năm ba,
Hát cung "Yểu Điệu", ngâm thơ "Trăng Vàng".
Chẳng mấy chốc đông ngàn trăng ló,
Rẽ Đẩu Ngưu bỡ ngỡ đường mây.
Sương vương mặt nước tỉnh say,
Giòng sông trong vắt in mây lồng trời,
Thuyền một lá chơi vơi thỏa thích,
Nước muôn tầm xa tít mênh mông.
Nhẹ nhàng cưỡi gió tầng không,
Thuyền trôi nào biết vân mồng về đâu!
Lòng phơi phới ngỡ hầu thoát tục,
Tung cánh mơ phơ phất lên tiên.
Rượu ngon chếnh choáng hơi men,
Nhịp nhàng ta gõ mạn thuyền ta ca:
"Chèo lan nhẹ đẩy đưa thuyền quế,
"Khua ánh trăng ta rẽ nước mây.
"Nhớ ai canh cánh khôn khây,
"Nhớ người má phấn đó đây cách trùng”.
 Khách có kẻ tay nâng ống sáo,
Theo lời ca mà tạo nên cung.
Trên sông tiếng trúc linh lung,
Như sầu như thảm não nùng oán than.
Trời mây nước âm vang phảng phất,
Nước trời mây hiu hắt dư ba.
Giao long động tối la đà,
Thuyền đơn gái hóa mắt lòa lệ châu.
Tô Tử bỗng rầu rầu nét mặt,
Sửa dung y, khoan nhặt gạn gùng:
Vì đâu thổi tiếng não nùng,
Cùng nhau xin cạn nỗi lòng tiêu sơ.
Khách mới đáp: "Sao thưa trăng sáng,
Mấy bóng ô lãng đãng về Nam.
Ấy thơ Mạnh Đức xưa làm,
Dư âm phất phưởng mơ màng đâu đây.
Đây có phải phía Tây, Hạ Khẩu,
Miền Đông kia phải dấu Vũ Xương?
Sông sâu núi biếc miên man,
Cỏ cây muôn khóm chứa chan sự đời.
Xưa Mạnh Đức tơi bời nghiêng ngửa,
Phải nơi đây vì lửa Chu Lang.
Hồi nào quân tướng băng băng,
Kinh Châu vừa phá, Giang Lăng đà vào.
Thuận giòng nước ào ào tuôn đến,
Ngất trời mây xao xuyến bóng cờ.
Chén vàng pha ánh trăng mơ,
Ngà say quay giáo ngâm thơ oai hùng.
Ấy hào kiệt lẫy lừng một thủa,
Xưa tung hoành, nay ở nơi đâu?
Còn ta ẩn dật giang đầu,
Ngư tiều cam phận dãi dầu hôm mai.
Lấy tôm cá hươu nai làm bạn,
Một thuyền con mấy bận cùng say.
Phù du phận gửi trời mây,
Chiếc thân hạt thóc há dầy trùng dương.
Ngán kiếp sống mau nhường gió thoảng,
Khen sông dài thảng đãng vô cùng.
Lòng ta những muốn vẫy vùng,
Sánh vai tiên tử ngàn trùng lãng du.
Ôm trăng sáng say sưa thoải mái,
Sống cùng trăng, sống mãi với đời.
Nhưng mơ chẳng thực với người,
Nên ta quyến gió thổi bài sầu than”.
Tô Tử đáp: «Kìa trăng nọ nước,
Nước kia trôi sau trước vẫn nguyên.
Trăng kia tròn khuyết đôi phen,
Mà nào có giảm có thêm bao giờ.
Từ biến chuyển nhìn ra trời đất,
Thì đất trời chớp mắt đã qua.
Từ trong vĩnh cửu nhìn ra,
Muôn loài muôn vật như ta vô cùng.
Chi mà phải mất công khen ngợi,
Của cải đời chi vội bon chen.
Vật nào chủ nấy dĩ nhiên,
Của người tơ tóc chẳng thèm mảy may.
Duy gió mát tỉnh say mặt nước,
Duy trăng trong tha thướt đầu non.
Tha hồ tai ngóng, mắt nom,
Thanh âm sắc thái muôn muôn ngàn ngàn.
Đấy là cả kho tàng Tạo Hóa,
Tha hồ dùng, dùng đã ai ngăn.
Ấy kho vô tận vô ngần,
Chung nhau tôi bác quây quần hưởng vui.»
Khách nghe cạn, tươi cười hớn hở,
Nâng chén quỳnh uống nữa thêm vui.
Thịt thà hoa quả nhắm rồi,
Mâm mâm bát bát rơi bời ngổn ngang.
Chung gối ngủ trong khoang một giấc,
Trời hừng đông sáng quắc nào hay.


Monkeys in the Moonlight
                                                                 tranh Tàu `1983




Moonlight Sonata Beethoven


Monday, January 18, 2016

óc nông dân, cái Giáo Hoàng

BienChao.jpg
một cảnh bán thuốc ở VN
Óc nông dân, cái Giáo Hoàng
phiếm luận của ttt

Tui thấy chữ Tàu rất cần thiết cho tiếng Việt cũng như tiếng Pháp sau cuộc chiếm cứ của quận công Normandie (1066) cọng với tiếng gốc anglo saxon để có English ngày nay, đến độ chữ gốc Latin đã nằm trên mặt nổi: president, senate, congress, security, secretary, defense, arm control..... Dân nói tiếng Anh thông minh và có chủ quyền trong khi xài tiếng của người khác, và làm giàu ngôn ngữ, từ vô lý cho đến hữu lý.
Vô lý nh
ư patron là khách hàng trong khi bên Pháp là ông chủ; host là chủ nhà trong khi hôte của Pháp là khách trọ như nhan đề một đoản văn của Albert Camus.
H
ữu lý như raisin thành nho khô mà không cần dried grappe; chữ grappe là nho tươi.
Có ch
ủ quyền là có nghĩa riêng, người nói và các nhà văn học áp đặt một nghĩa, không phải hiểu như tiếng Pháp, trong lúc ấy VN dùng chữ Tàu và hiểu theo nghĩa Tàu nên rất vô nghĩa.
Có ch
ủ quyền cho nên những ai học tiếng Pháp phải để ý đến điều họ gọi là "faux amis": photographe /f -> photographer /a ; éditeur: nhà xuất bản, publisher; tiếng Anh editor, chủ bút.
N
ếu học theo người ăng lê, chúng ta sẽ có: sức ép nên dùng cho vật lý, sức ép của không khí, và áp lực cho trừu tượng nhưng áp lực kinh tế nghe nó văn vẽ hơn sức ép kinh tế.
M
ột nhà văn ở Paris có sách in ở VN; sách bị sửa rất nhiều nhưng có câu ni thiệt là khó hiểu e nó được cấu tạo ở ngoại tầng không gian:
Vào nhà hàng gọi một cái bia. Nếu không ở trong contexte thì ta sẽ hiểu đặt làm một cái bia đá, bia mộ.
Tôi không bi
ết tiếng Hoa nhưng phải làm thầy bói rờ mu rùa. Chúng ta có thể đã biết hề Văn Chung diễu: dách cô dành xực dách cô xường toại. Một cái người ăn một cái xoài tượng (nói lái).
Có l
ẽ tiếng Hoa có mạo từ đơn giản như tiếng Pháp và Anh, le la les,/ a, the v.v... Le coq, le père, le Pape; la maison la femme. Có lẽ Tàu họ nói: cái cha, cái chó, cái lọ, cái chai, cái gà.
N
ếu tôi đúng, và cứ như chiều hướng hiện nay, biểu lộ rất rõ trong truyện kiếm hiệp dịch của Tàu thì nó còn tồi tệ hơn những chữ: xưởng đẻ, nhà đái gái.
M
ột ngày rất gần đây quý vị sẽ thấy: Cái Giáo Hoàng, cái Hồng Y.

Sorry, tui đã đi quá dài l
ỡ trớn, vì muốn phân biệt nông dân và nhà nông. Nông dân, chữ Hán Việt, mang tính cách chính trị như một lớp người, nông dân thời trung cổ v.v... hoặc là cách làm việc, suy tư của người đồng quê khác với người thành phố còn nhà nông chỉ là người làm ruộng làm vườn.
Óc nông dân đã làm cho Putin quy
ết định sáp nhận Crimea vô nước Nga. Trong lúc ấy bán đảo nầy đã ở trong tay. Căn cứ hải quân Hắc Hải, một chính phủ thân Nga, một nền kinh tế ăn mày chỉ sống nhờ vào nghề nấu rượu xoàng xỉnh không như Ý, Bồ Đào Nha; rượu chỉ bán qua Nga cho dân nghèo. Số ít dân còn lại thì sống quanh hàng rào với những dịch vụ như buôn bán bậy bạ, kể cả bán dâm.
Đ
ầu óc nông dân làm cho Putin tưởng mình là Nga hoàng đã nhiều lần lấy Crimea. Giữ địa điểm chiến lược nầy bằng cách cho cắm cờ mà không giữ nó trong một thế quân bình.
X
ưa kia hoàng đế Constantine dời kinh đô từ Rome qua chỗ bây giờ là Istambul, trấn thủ bên nầy còn bên kia là Crimea nhưng ông vẫn làm chủ, chận những bộ lạc "rợ" từ Bắc xuống cũng như thảo khấu ở các thảo nguyên (steppe). Bao giờ bán đảo nầy cũng là vệ tinh, “phất phơ trước gió biết vào tay ai". Putin nói trong lịch sử Crimea thắm thiết dính liền với Nga. Đúng với lịch sử của bất của nước CS nào, nghĩa là viết lại cho đúng ý muốn. Sau khi bị sáp nhập bởi nữ hoàng Katherine, Crimea trở thành địa bàn xâu xé của các thế lực. 1920, nhân nội chiến, Hồng Quân đã đánh bại Bạch Quân và thành lập tiểu quốc tự trị trong USSR.
C
ần thông cảm với Putin. Crimea là hải cảng nước ấm duy nhất mà lại nằm trong vùng chiến thuật vo song trên thế giới. Hai ngàn năm trước Constantine đã thấy. Nếu Nga muốn đánh Paris thì phải xuống Crimea qua Thổ Nhĩ Kỳ rồi đi ngang theo hướng Tây. Hành động nầy vừa công vừa thủ. Từ Thổ có thể qua Á Châu và xuống Trung Đông.
Th
ổ đã nhảy vào cuộc tranh chấp giữa hai nhóm dân tại Cyprus, (Chypre), US đòi Thổ ngừng tay để được US bảo vệ khi Nga xua quân vào.

Tôi nghĩ đến tính cách nông dân của Putin khi nghe bản nhạc If I was a Rich Man (link trong blog nầy). Người nông dân của chúng ta sẽ mua một mảnh đất rộng trong thành phố mà thả gà, vịt, dê, heo...như ông hằng ngày vẫn cho chúng ăn trong khu vườn nhỏ bé hiện tại. Putin muốn mua chuồng gà Crimea một cách không cần thiết.
Tr
ở về VN, chỉ có tính cách nông dân mới làm cho Bắc Kinh chiếm VN, ngoài ra không còn lý do nào khác.
S
ợ anh Mỹ dùng làm chốt chặn như trong chiến lược bao vây (contaiment)? No way, Mỹ đã làm điều đó, tốn bao nhiêu tiền bạc và sinh mạng. Rồi bỏ đi vì đã dùng xong, nay không cần thiết, Nixon đã đem vợ qua Tàu ăn những bữa cơm gồm ba... trăm món. Hai bên đều hoan hỷ (trừ cái buồn nho nhỏ của Bắc Kinh là sau bữa ăn nầy, bà Nixon không có thêm đứa con nào, không bằng toa thuốc Minh Mạng). Nếu có containment thì phải thêm những chốt như Thái Lan, Phi Luật Tân, Đài Loan. Các nơi nầy hiện im lìm, không trông chờ tiền Mỹ đổ vào như xưa.
Khi ch
ỉ có một tiệm thịt chó trong tỉnh lỵ thì chủ sẽ tìm mọi cách không cho ai mở tiệm thứ hai. Nhưng đến khi không làm được hoặc thấy có lợi khi có tiệm thứ hai thì hai ông chủ sẽ cùng nhau không cho một thằng thứ ba ra nấu rựa mận.
VN không ph
ải là một khu chiến lược, vì các đảo ở biển Đông đủ sức kềnh chống ăn thua với các hải cảng như Singapor. Khi nói đến vị trí chiến lược là phải hiểu phải bỏ tiền tài mà giữ như bán đảo Gibralrar chỉ là một khối đá nhưng án ngữ thủy lộ từ Đại Tây Dương vô Địa Trung Hải và là cao địa phòng thủ cho Phi Châu bên kia bờ.
Nh
ưng VN là miếng mồi ngon cho TC, tài nguyên thiên nhiên, làm bàn đạp xuống phía Nam. TC sẽ biến Mũi Cà Mâu thành Singapor khi hoàn tất việc đào kênh Kra nối liền vịnh Bengale và vịnh Xiêm La.
TC không c
ần phải chiếm VN mang tiếng với thế giới.
Bắt thằng hàng xóm làm đầy tớ được thì cần chi giao kèo thuê mướn, như ở Mỹ phải trả thuế làm chủ, trả tiền quỹ bù trừ, tiền an sinh xã hội. Nếu cần thì cứ kêu nó bằng ông. Lại được tiếng lịch sự. Xin ông chùi giúp cái bếp, thiếu giẻ xin lấy áo quần vợ con ông mà dùng; lên lấy hương trầm trên bàn thờ tổ tiên ông vào đốt trong cầu tiêu của tôi để tẩy mùi.
T
ừ căn bản, HCM nói ông không có tư tưởng vì Mao và Staline đã suy nghĩ thay. Staline đã bị hạ bệ. Còn Mao thì chưa; (đầu nằm 2016, một tượng màu vàng lớn của Mao bị đập nát). Lúc trước tui chê Hà Nội ghi rằng CSVN dựa vào tư tưởng HCM mà HCM làm gì có tư tưởng. Tui sai. Tư tưởng của ông là tư tưởng của Mao.
Hà N
ội không ngờ chủ tướng USSR đã rách nát nên 1979 chơi xả láng đàn em của TC là Khmer Đỏ. Trận 1979, TC thua to, thiệt hại nhiều nhưng chỉ là con muỗi hút máu lưng voi. Ca dao VN:
              Ví dầu 
tình bậu muốn thôi
       bậu gieo tiếng dữ để rồi bậu ra
              bậu ra cho khỏi tay choa
       tấm thân bậu nát xương da bậu mòn.

HN đã xin bái y
ết Đặng Tiểu Bình mà không được. (Vì không hỏi kế của tui: dâng Đặng Lệ Quân cho Đặng Tiểu Bình).
S
ự thẩm nhập của thực dân Pháp chỉ ở mức giới hạn nhưng sự thẩm nhập của Tàu thì hết thuốc chữa như mỗi ngày uống một chút xíu thuốc độc rồi ra sẽ uống thuốc độc như uống Coca.
Đau cái tay, dán cái tay, đau cái l
ưng dán cái lưng... thùng thùng thùng... Mãi võ Sơn Đông bán thuốc dán hiệu con khỉ. Đau cái bụng xức cái bụng; đau cái chân xức cái chân... xèng xèng xèng.....Mãi võ Sơn Đông bán dầu cù là hiệu con cọp.

Ở nơi thẹp đất dơ dáy ẩm ướt của chợ làng, con nít và người lớn la hét dành nhau đánh nhau, chen cho được vô vòng trong xem mấy ông con trời đánh cuội và được quẹt "free" một chút dầu cù là lên mũi, tuy chưa đủ để đánh bạt mùi hôi nơi xó chợ.
Nói theo triết lý con tườu, vũ trụ có thể bỏ vào hạt cát thì thế sự bao la cả Đông Nam Á, mồm mép tùm lum tà la có thể nằm trọn trong cảnh bán thuốc dán thùng thùng xèng xèng nầy.-



Quand je repense à nous
J'ai le coeur qui flambe un peu
Comme au temps de nous deux
Tu étais fou
Comme ceux qui jouent leur coeur et leur amour
Et qui gagnent toujours.

Nostalgie
Comme une image de Visconti
Quand Venise a le coeur gris
Nostalgie
Il pleut sur mes rêves
Et aussi sur notre photographie.

Et tes baisers de nacre
Etaient pour moi comme des sacres
De printemps et de bonheur
Mais dans tes yeux de Slave
Je me suis vue comme une esclave
Et je crois bien que j'ai eu peur.

Nostalgie
Comme un violon de Vivaldi
Quand la musique a le coeur gris
Nostalgie
Il pleut sur mes rêves
Et aussi sur notre photographie.

Tu avais cette insolence
Qui me faisait souvent violence
Entre le rire et le mépris
Tu avais l'air d'un roi
Mais ton royaume c'était moi
Je ne le comprends qu'aujourd'hui.

Nostalgie
Aux yeux de Modigliani
Quand la palette a le coeur gris
Nostalgie
Il pleut sur mes rêves
Et aussi sur notre photographie.

Et je sais aujourd'hui
Que sa vie
On peut la perdre aussi…