add this

Monday, July 20, 2026


Thay đổi địa chỉ

Bà Nguyễn Thị Minh Lệ, phu nhân của thầy Võ Văn Dật (nhà văn Võ Hương An) đã từ giả San Jose ngày 01 thg 07, 2026 đến trú sở mới trong vùng quản nhiệm của Phật Di Đà. Nơi nầy: vô tam ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt; trì trung liên hoa đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang ... vi diệu hương khiết.*

Đã gần ba năm nay từ khi biết chị Dật đi đứng khó nhăn, tôi đã cầu nguyện hằng ngày cho anh chị bình yên, trong mục cầu nguyên cho thân hữu.
Nếu thầy là cha thì tôi và chị Lệ là sister and brother; chi Lệ con thầy Nguyễn Đình Hàm, người thầy cao quý nhất đời tôi.


* Thế giới Cực Lạc không có danh tự gọi các việc ác, huống là có tội thiệt; trong đầm hoa sen to như bánh xe, màu xanh chiếu ra ánh sáng xanh, màu trắng chiếu ra ánh sáng trắng; hương thơm diệu vợi.




CÂY ĐỘC [không trái; gái độc không con] 
Nguyên Thảo

Lần nào tôi về Huế, người đón đầu tiên cũng là O. Người đứng tiễn sau cùng, khi xe đã lăn bánh ra khỏi ngõ, cũng là O. Như một cái hẹn không ai nói ra, bao năm rồi chưa từng trật.
O là con ông nội thúc, ở lại giữ nhà từ đường họ Kim Hoàn làng Kế Môn. Làng nhỏ nép bên sông Bồ, năm nào đến 27 tháng 2 âm lịch là khói hương lại quyện vào tiếng đục, tiếng chạm. Ngày giỗ tổ, ai đi xa mấy cũng ráng về, thắp một nén nhang rồi lại vội đi. Chỉ có O là ở lại.
Trong họ ai cũng kể, hồi con gái O đẹp nhất nhì Kế Môn. Da trắng như bông bưởi đầu mùa, tóc đen quá lưng, cười một cái là mấy anh thợ bạc đánh rơi cả cây dũa. Mười tám tuổi O lấy chồng, gả qua bên kia phá Tam Giang. Ba năm sau, người ta trả O về. Chỉ một câu gọn lỏn:
“Cây độc không trái, gái độc không con”.
O ôm gói áo cũ, lội qua phá mà về. Rồi ở vậy luôn.
Căn nhà từ đường ấy không phải của O, nhưng O giữ. Sân rộng mà lá rụng nhiều. Ngày nào cũng nghe tiếng chổi tre O quét sân, xào xạc như tiếng thở dài. Bàn thờ tổ lúc nào tro cũng còn ấm. O nói: lửa ni phải giữ, lửa tắt là họ tàn.
Ngày giỗ tổ, sân đông không thể tả. Người từ bốn phương đổ về, trong nước ngoài nước, áo quần tươm tất. tiếng cười nói rộn như phiên chợ Tết.
O đứng nép bên cây cột, cười hiền. Ai O cũng nhớ, đứa nào đậu đại học, đứa nào ly dị, đứa nào giàu to, đứa nào vỡ nợ... Vậy mà không ai hỏi O sống ra răng.
Giổ xong, mọi người lại lần lượt ra về, sân từ đường vắng hoe. O lại lẳng lặng ra khép cổng. Một mình.
Có đêm trở trời đau lưng, O nằm nghe mưa Huế gõ trên mái ngói âm dương, dầm dề. O đưa tay sờ bụng mình, bụng phẳng, lạnh ngắt. Hồi trẻ O thèm một tiếng kêu mạ đến phát điên, thấy con nít là phải quay mặt đi, sợ nhìn lâu rồi hóa ác. Rồi giờ O hết thèm. Hay O tưởng mình đã hết thèm.
O không nuôi con. O nuôi thứ khác. O nuôi căn nhà từ đường, nuôi ngọn đèn dầu không để tắt, nuôi mấy chậu kim tiền ngoài sân xanh quanh năm mà chẳng trổ hoa.
Người ta bảo cây không trái là cây độc. O nghe rồi chỉ cười:
Đàn bà không con ngày xưa họ cũng kêu rứa.
Mà O nghĩ: Cây không trái thì cho bóng mát. Không con thì giữ nòi. Mỗi người một kiểu nối dõi chứ.
O tiễn tôi ra xe. Gió sông Bồ thốc lên, ngọn đèn trong nhà từ đường chao một cái. O lật đật chạy vào châm thêm dầu.
Bóng O in lên vách, một mình, dài và mỏng
Xe lăn bánh. Tôi ngoái lại nhìn, cái bóng cây độc ấy cứ xa dần, xa dần…
Cỏ
(trích từ FB Nguyên Thảo)

Sunday, June 14, 2026

Vài chữ về Fulro

Một nữ sinh Ban Mê Thuột 1965

Vài chữ về Fulro

Front Unifié de Lutte des Races Opprimées

Tôn Thất Tuệ * 2023

Giữa năm 2023 internet chạy một tin nhỏ Fulro đòi tự trị và quấy phá ở Cao Nguyên. Tuy không có gì ồn ào và thực hay hư đều không có giá trị về chính trị, tin nầy nhắc chúng tôi một bài báo cũ.
2014, tình cờ chúng tôi gặp vài số báo Việt ngữ của nhóm người Chàm lưu vong ở Pháp, trình bày sinh hoạt thiểu số và một số bài khảo cứu của tiến sĩ Po Darma (không dùng tên cũ lối VN). Có một bài rất dài về nguyên nhân suy tàn của đế quốc Chàm mà mọi thứ xoay quanh một lý do duy nhất là quê tổ của Po Darma nằm ngay bên cạnh VN, một nước hiếu chiến và khao khát đất đai (cũng giống như Miền Nam nằm bên cạnh Bắc Việt hiếu chiến, HCM hứa cho mỗi cán bộ một ngôi nhà Miền Nam).
Nói đến Chàm thì ai cũng nghĩ đến Phan Rang Ninh Thuận và Tháp Chàm Nha Trang. Nhưng Po Drama nói rằng toàn thể Cao Nguyên là đất của người Chàm cũng như Chế Linh tự cho mình là lãnh tụ mọi người thiểu số sống trên cao nguyên. Po Darma kể lại những lần lãnh thổ Chàm bị co rút đều xẩy ra ở vùng thấp (bình nguyên). Giai đoạn cuối, lãnh thổ Chàm làm chiến trường cho hai phe Tây Sơn và Chúa Nguyễn, được mất thua thắng trồi trụt, kéo theo người Chàm giết nhau, cộng với sự điêu tàn tự nhiên của chiến tranh. Hai phe người Việt không đánh nhau ở Cao Nguyên.
Po Darma, qua tạp chí Harak Champa ngày 06.06.2006, ta thán văn hóa Chàm bị hủy diệt sau 1975. Một vũ điệu thần thánh đã thành một vũ điệu khiêu dâm về y phục và động tác. Po Darma chỉ trích Chế Linh đã từ chỗ quyết tử (sic) chống khai thác bauxite cao nguyên đến chỗ ủng hộ những sai lầm nguy hại đến văn hóa, biến ngôn ngữ Chàm thành một quái thai, nhiều cuốn sử được cho tiền xuất bản mang đầy sai lạc cố ý xuyên tạc, cụ thể là một cuốn sách của Hồ Chung Tú.
Po Darma nêu rõ thâm ý của Chế Linh là để được chính quyền VC cho về hát. Điều mới của Po Darma là tiết lộ rằng Chế Linh không biết một chữ Chàm, không nói tiếng Chàm, tự xưng là lãnh tụ Chàm mà không một giờ tranh đấu cho lý tưởng Chàm, nay phách tấu nói ai muốn khai thác bauxite phải qua xác của ông.
Tiến sĩ Chàm nầy đã hạ đo ván Chế Linh để so sánh với chính mình đã hoạt động tích cực, vào sinh ra tử, bên cạnh những đơn vị quân sự của Fulro như một chính ủy (chữ của chúng tôi). Ông đã mô tả các chiến công và dùng những danh tự đê tiện để chỉ quân VNCH tái lập trật tự ở Cao Nguyên.
Ông nói rõ mục đích của Fulro là thành lập một quốc gia độc lập riêng rẻ. Nhưng Fulro tuyên bố ngưng hoạt động ngay từ ngày 30.4.1975.
Hơn hai tháng trước khi miền Nam hoàn toàn thất thủ, cao nguyên đã bỏ trống, một cơ hội rất tốt nhưng quân của Po Darma đã không làm gì mà ngồi chờ ngày hạ súng. Hoặc chẳng có gì cả. Po Darma nói từ nay chỉ tranh đấu cho một “nước Chăm văn hóa”.
Diễn dịch lối Po Darma, nhiệm vụ phù trợ Bắc Việt đã hoàn tất. Thiết nghĩ, Po Darma đã thỏa hiệp rằng sau chiến tranh, BV sẽ cho thiểu số Chàm nhiều đặc ân như quy chế tự trị mà Minh Mạng đã xóa. Dính máu ăn phần.
Tuy vậy, Po Darma đã không hết lời chỉ trích VC vi phạm tính cách thần thánh của dân Chàm bằng cách di dời mồ mã tổ tiên Chàm, lấy đất xây nhà máy điện nguyên tử. Đã cho một bọn không biết tiếng Chàm làm tự điển. Vậy thì dính máu mà chả ăn phần chứ gì?!

Để khỏi gây lạc hướng, xin nói mục đích của những dòng nầy là đừng quên rằng Fulro ngay từ đầu là một công cụ của CS; khai sinh bởi Sihanouk, đứa con có hai dòng máu tinh thần là Tàu và Pháp.
Quan thầy của Sihanouk đã học thuộc bài rằng cao nguyên là nóc nhà, là mái nhà của Đông Dương. Bình dân lẫn trí thức có liên hệ với Đông Nam Á đều thuộc lòng “thánh thi”: Ai chiếm Boloven sẽ chiếm Đông Dương. Qui tient Boloven tiendra l’Indochine.
Để bớt nét trân tráo chính địa, Sihanouk đã đem vô mặt trận nầy nhóm Krom, người Miên Phật Giáo ở đồng bằng Cửu Long.
Chúng tôi rất hoài nghi vai trò chính ủy của Po Darma vì người Chàm ăn mặc không như người Thượng và có nếp sống định cư như người kinh. Yếu tố Chàm cũng do Sihanouk tạo nên bằng cách cử một sĩ quan cấp tá gốc Chàm trong quân đội hoàng gia Miên làm đại biểu phái đoàn Chàm trong hội nghị thành lập Fulro. Chúng tôi không thông suốt ngọn ngành của Fulro nhưng thiết nghĩ lực lượng dân quân của Fulro là nhóm CIDG do Biệt Kích Green Beret Mỹ tuyển dụng và huấn luyện. [CIDG = Civilian irregular defense group]. CIDG đã có lần quấy phá tỉnh Ban Mê Thuột bị chính quyền VNCH đẩy lui nhưng được sĩ quan Mỹ ra bao che đem về trại.
Sept 1964, CIDG trong năm trại đồng thời nổi loạn giết 80 quân nhân VN, bắt làm con tin 20 lính Mỹ. Nhưng may, Green Beret còn ảnh hưởng và thương lượng để quân phiến loạn hạ vũ khí. Chính phủ VNCH tương nhượng chấp nhận vài đề nghị của người Thượng nhưng không chấp nhận quyền tự trị. Chính phủ VNCH phản đối HK vũ trang người Thượng không được chấp thuận trước của Saigon. HK đã chính thức công nhận ủng hộ tiền thân của Fulro.
05.1958, một nhóm trí thức Thượng thành lập Bajaraka (Banar, Jarai, Radé, Koko) đòi tự trị các dân tộc thiểu số Cao Nguyên qua một bức thư gởi hai tòa đại sứ Pháp Mỹ. 1964, với sự hậu thuẩn của HK, tổ chức nầy ghép thêm nhiều sắc dân thiểu số khác và trở thành FLHP (Front de Libération des Hauts Plateaux, Mặt trận giải phóng Cao Nguyên).
[Tình cờ??? Trong thời gian biến động nầy, Nghiêm Thẩm, tự nhận là nhà xã hội học, xuất bản luận văn chứng minh khu vực cao nguyên có đủ những yếu tố cần thiết như lịch sử, văn hóa…. để thành lập một quốc gia.]
Sách báo ủng hộ Fulro đều nói Fulro chống VNCH lẫn VC bằng quân sự và chính trị. Những tài liệu nầy nại sự việc một số Fulro trốn trong tòa đại sứ Mỹ ở Pnom Penh lúc Khmer Rouge chiếm Cambodia 1975, được / bị giao cho Khmer Rouge giết sạch. Thực tế Fulro luôn là con cờ của khối CS tuy thay hình đổi dạng liền liền. Fulro đã hạ súng giao cho Liên Hiệp Quốc rồi nhận vũ khí của Tàu.

Nay có tin Fulro gây rối ở Cao Nguyên làm khó chính quyền CSVN đòi tự trị. Người không thích CS lấy làm thú vị: kẻ thù của kẻ thù là bạn của ta. Tâm lý ấy quá tầm thường và nguy hại.
Cao nguyên hiện nay là vùng khai thác Bauxite. Vụ Bauxite được dựng lên, la lên cho qua lườn. Trung Cộng đã thành lập những khu tự trị và có bản hiệu hoàn toàn chữ Tàu, không như thời ông Diệm phải song ngữ Hoa Việt. Trong cuộc bàn tán xôn xao ấy, Võ Nguyên Giáp ăn có một cách chuyên nghiệp nhà binh, ông nói không thể để cho Tàu chiếm vùng Boloven, là cao địa là đòn dông nóc nhà của Đông Dương. Như chúng tôi đã thưa phía trên: ai chiếm cao nguyên sẽ chiếm Đông Dương. Bắc Kinh sẽ không nhả miếng mồi ngon nầy cho Y Bun, Y Thiện, Y Kha, Y Thih ….
Trung Cộng vũ trang người Thượng để làm gì nếu không để làm lính cho các khu kinh tế nầy. Còn nhớ Nga thuê đảo Crimea của Ukraine rồi tổ chức trưng cầu dân ý đồng lòng gia nhập Nga. Trung Cộng sẽ làm vậy sau khi thuê những Y nầy để cùng những chú xìn thím xẩm mới đưa qua sẽ bỏ phiếu thuận làm con cháu của bác Mao, biến Cao Nguyên thành lãnh thổ hải ngoại như France d’Outre Mer.
Đưa tin, viết tin là nghề của ký giả. Đọc tin và thẩm lượng tin tùy từng độc giả. Nói thì nghe to tác vô lý, nhưng chuyện Fulro phải được đặt trong bối cảnh toàn diện về lịch sử và địa dư Đông Nam Á. Bajarara ra đời cùng thời với Trận Bà Bèo, Định Tường mở đầu chiến tranh du kích. Có vậy mới thấy Fulro là đứa con chung của đám bạch tuộc quốc tế; trong hậu trường, chúng “đồng nhi bất hòa”. Fulro đã phục vụ Lon Nol trong đợt cáp duồng người Việt thập niên 1960, dù Lon Nol có đứng về phía Tự Do. Người đọc vẫn còn thì giờ tìm hiểu câu nói của Georges Kalin: Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và Sihanouk ủng hộ chiến binh miền núi đánh lại Miền Nam.
(The US Special Forces and Sihanouk backed the Fulro Montagnard fighters who were fighting against the South of VN (South East Asia, a Testament).

 Xin tham khảo thêm Đồ Bàn và Saigon

Saturday, May 16, 2026

Tạ ơn mẹ





mẹ, vợ lính Xuân Lộc 1975


TẠ ƠN ĐỜI * TẠ ƠN MẸ
Tôn Thất Tuệ

2010

Theo kinh Niết Bàn, lấy tất cả vũ trụ vo thành trái cau còn dễ hơn nói cho hết việc sinh (và tử); sữa con bú vú mẹ nhiều hơn nước biển và nhiều ví dụ khác. Sự đầu thai đã có trong hiện tại khi con người mang những dấu tích di truyền của bố mẹ.
Trong sự sinh thành vô tận của vô số cảnh giới của thời gian vô thủy vô chung, có sự sinh thành trên quả đất của chúng ta trong đó người mẹ đóng vai trò quyết định. Dĩ nhiên tất cả đều phải có phối hợp âm dương. Trong thống kê, đàn bà sống lâu hơn đàn ông, kể cả trong các xã hội đàn bà đàn ông đều có quyền hút thuốc uống rượu và xả láng mọi thứ như nhau. Trẻ chết lúc sinh nhiều nhất là con trai.
Nhìn vào thế giới thú vật, con cái bảo vệ và nuôi dưỡng lứa mới sinh. Ngay trước khi sinh, chúng đã tìm nơi an toàn, theo khả năng nhận thức của chúng. Có những côn trùng lúc sinh nở có nhiều chất độc để tấn công kẻ phá hoại gia cang.
Trở lại thế giới người. Hoàn cảnh khó khăn nhất là lúc nguy khốn về tài chánh biểu lộ bản năng - hay ý thức tùy bạn - của người mẹ. Điều đó làm cho con cái thấy rõ sự hy sinh. Lại càng thấy rõ khi người cha vắng bóng vì bất cứ lý do gì.
Con ơi mẹ là Thượng Đế, cho con nguyên lý diệu vời; đó là ý chính của bài đạo ca, thơ của Phạm Thiên Thư. Nguyên lý diệu vời ấy là nguyên lý yêu thương, mẹ truyền cho con qua dây rún. Nhưng khi thực phẩm vật chất và tinh thần không còn đi qua dây rốn ấy, mẹ vẫn tiếp tục cho con tình thương và ý niệm ngoại vật. Hình tròn của vú mẹ, nét hình cung thân thể mẹ tạo cho con ý niệm ngoại vật qua xúc giác. Trẻ thơ thích hình tròn không thích hình vuông.

Và thực phẩm mẹ cho ăn, nếu không phải là một nguyên lý sống, là một nét vẽ trên cuộc đời không bao giờ phai. Một nhà dinh dưỡng Pháp nói: con người có thể quên tổ quốc, tôn giáo, ngôn ngữ ... quên tất cả trừ món ăn đầu tiên trong cuộc đời, do mẹ cho.
Tôi đã đi săn sóc một người già tê liệt nhưng ông ta rất thích thú khi bà vợ cho ăn McDonald. Bà vợ cho biết ông ăn hamburger từ khi mới biết bò. Một người già lúc nhỏ theo cha qua Nga; khi Nga sụp đổ ông trở về Chicago đã 70 chỉ mong ăn junk food. Montaigne, triết gia Pháp, lúc còn rất nhỏ về sống ở vùng quê nơi đó người ta bỏ tỏi vào sữa mà uống, từ đó suốt đời ông cứ dùng món nầy với cái mùi khó chịu trong xã hội quan cách Paris.
Tôi không phải là bác sĩ nhưng học ở Oshawa rằng nước miếng là một vị thuốc nên ăn gạo lức muối mè mà nhai thật nhuyễn đó là thần dược. Bây giờ nói đến cơm mem, e nhiều người ói mữa trong cái vệ sinh hiện đại. Nhưng nhai cơm rồi đút cho con là bài học của chim, nhai nhỏ côn trùng rồi mớm cho con. Cùng với sữa, nước miếng tạo nên những kháng thể tự nhiên trước khi có chủng ngừa.
Nếu ta quan niệm tính chất tự nhiên là điều quí hóa, mẹ là điều tự nhiên lớn nhất, bao trùm nhất. Mẹ cho cả chủng tử, mẹ nuôi chủng từ ấy bằng chính thân xác mình bằng bàn tay khổ cực của mình. Bàn tay mẹ vo gạo, sinh tố trong cám làm da mẹ mịn như công chúa tắm sữa, mà chất chua chất phèn trong đất trong bùn khi mẹ đi cấy hay trồng khoai đã làm da mẹ nứt nẻ, gót mẹ không hồng nữa như ngày xưa.
Trên đường du thuyết, Phật thấy một đống xương khô, bèn ra lệnh đệ tử đem chôn theo tập tục xương đàn ông riêng, đàn bà riêng. Môn đệ hỏi Ngài làm sao phân biệt; Ngài chỉ cho rằng xương đàn bà có vết đen là dấu tích cực nhọc cho con bú và nuôi dưỡng. Tuy là ẩn dụ, chuyện xương đen ngày nay được chứng minh đúng bởi y học. Văn chương VN có nhắc đến điển tích nầy.

Nhưng rồi người ta cũng không để mẹ yên như người ta không để yên thằng bờm có cái quạt mo. Người ta đã dùng cái gọi là duy vật biện chứng, để nói thế nầy thế kia. Thật ra người ta chỉ nói cho qua việc để thực hiện mục đích là hủy bỏ tất cả các giá trị luân lý, dân tộc, những quan niệm ăn sâu vào sự suy nghĩ như thằng bờm, nhưng phải nói cho nó nghe có vần có lối, cho có vẻ triết học.
Họ nói mẹ ta sinh ta là kết quả của một sự truy hoan, chung đụng thân xác. Có tin như vậy, có tin một cách ngây ngô như vậy, đứa trẻ mới chấp nhận sự sắp xếp của nhà nước mà đấu tố cha mẹ như Nguyễn Mạnh Tường đã viết. Câu chuyện không phải là chứng minh đúng sai mà vì một kết quả. Người ta cho phép nói đủ thứ, không kể trước sau, xuôi ngược miễn là đến kết luận Kiều là bông lài cắm bãi cứt trâu trong chiến dịch bài trừ những giá trị cũ.
Nhưng xem cái ngoành ngoạch ấy, ta thấy dẫu sao họ cũng bị lôi cuốn vào cái nhìn phân biệt; phân biệt ta và không ta, vật chất và tinh thần, bản năng và ý thức, thể xác và tâm hồn; thú vật và con người. Và cũng theo truyền thống tây phương lấy một khía cạnh nhỏ làm cơ sở cho một trường phái.
Phải chặt ngay cái đầu con rắn. Ảnh hưởng của mẹ có tính cách quyết định như nói trên qua thực phẩm, qua giáo huấn v.v...Do đó muốn thay thế tình yêu cho mẹ bằng tình yêu cho lãnh tụ, phải chặt ngay từ đầu, càng quyết liệt càng tốt; mẹ đây là mẹ thật hay mẹ chiến sĩ như bà Nguyễn Thị Năm.
Gorbachev đã được mẹ lén lút bồng đi rửa tội TCG Orthodox và nuôi dưỡng trong tình người; ông đã ra lệnh 700 ngàn lính Nga đồn trú ở Đông Đức án binh bất động để cho dân chúng đạp hàng rào biên giới qua Tây Đức. Tinh thần mẹ ông dạy nào khác tinh thần Á Đông, "mai sau chớ sống một mình".

S
inh hoạt sinh lý đã được nhìn qua các lăng kính quá khích một chiều, cũng dựa trên sự phân biệt, và các quan niệm xã hội từng thời. Nó lồng vào trong những định chế xã hội như thừa tự, mẫu hệ hay phụ hệ. Nhưng thiên nhiên đã dành cho phái nữ những bảo đảm để tiếp tục sinh sản. Chỉ cần một tinh trùng cho một thai noãn nhưng vô số tinh trùng khác nằm trong tình trạng ứng chiến nhưng không có địch để bắn. Trong một tổ ong, có vô số ong sắc to hơn ong thợ nằm trong những ứng viên chồng nữ hoàng ong. Người nuôi ong phải loại bỏ bằng cách để một cái lược chỉ vừa cho ong thợ vào, còn các con ong sắc phải chết bờ chết bụi thay vì ăn hết mật.
Có gì ngạc nhiên khi những chủ thuyết phi nhân chối bỏ, hủy diệt tính chất tự nhiên trong tình mẫu tử và quan hệ gia đình. Platon đã chủ trương bắt hết trẻ con về giáo dục, đào tạo trong mục tiêu như lính chiến bảo vệ chính quyền; nếu chuyện nầy xẩy ra, người ta sẽ dạy trẻ con đánh vào cục đá và vào đầu con chó như nhau.
Nhưng giới văn nghệ thì nhìn sự thương yêu và sự đau thương là một. Trong một truyện ngắn của William Saroyan, Mỹ gốc Armenia (1908-1981), một thanh niên trên một chuyến du lịch dài; giữa đường một kẻ đồng hành phái nữ chuyển bụng. Anh ta phải làm cô đỡ. Anh thấy tiếng khóc la của người mẹ chẳng khác nào tiếng rên la của người tình khi anh giao tiếp bằng thể xác.

Không có loài người trừu tượng mà chỉ có những thành tố hiện hữu. Không có mẹ trừu tượng. Chỉ có những bà mẹ gánh trái mít non, vài trái khế, vài trái thơm từ quê xa lên tỉnh thăm con trọ học. Những bà mẹ ru con suốt đêm vào thời chưa có thuốc ho. Những bà mẹ mua đầu chợ bán cuối chợ, trả tiền vay góp, lúc tối mua được lon gạo đem về. Những bà mẹ có thật, không có trong biện chứng. Chỉ có những bà mẹ chúng ta ngồi ở ngưỡng cửa trông chờ rỗ bánh ế, mẹ vui cho con cái bánh mà buồn hôm nay thua lỗ. Những bà mẹ có thật.
Xin cúi đầu tạ ơn Đời, cúi đầu tạ ơn Mẹ.-





Friday, May 1, 2026

chuyện tháng tư

Saigon 30.4

Nhớ chuyện tháng tư
(nhớ bạn Dũng hải quân)

Đỗ Duy Ngọc

Sấm chớp vang rền mưa chưa tới
Bom rơi sáng loé phía phi trường
Những lớp người đi về phía biển
Ta buồn sấp mặt giữa tang thương.
Loạng quạng hoàng hôn đầy tiếng nổ
Ta ngồi run rẩy đợi chuyến bay
Bầu trời phành phạch cành cây đổ
Chấp cả hai tay cầu rủi may.
Phố xá đùn lên dân hôi của
Máy móc thức ăn úa vỉa hè
Những chiếc xe lướt qua vội vã
Nửa đêm chờ đợi nằm nghiêng nghe
Có tiếng ai la trong bóng tối
Thiên hạ nhao nhao thoát ra ngoài
Ta bị đẩy ra rìa cánh cửa
Thiếu nước không cơm bỗng mệt nhoài.
Người chia hai hướng đi hai ngã
Ta chán cuộc chơi bỏ trở về
Phố phường lác đác vài tiếng nổ
Cảm thấy lạc loài trong cơn mê.
@
Bạn lái chở ta ra Ba Son
Đêm qua người đợi đã mỏi mòn
Thời gian nguy cấp tàu đi sớm
Tuyệt vọng thoái lui đường chẳng còn.
Qua cầu một đám mang băng đỏ
Giương súng giơ tay giọng lạnh lùng
Hai thằng lặng lẽ luồn qua ngõ
Không dám nhìn quanh bước đường cùng.
Trưa nắng tháng tư cháy vỉa hè
Xe tăng rầm rập với còi xe
Lính cởi quân trang tràn ngập phố
Thất thểu băng qua mấy xác đè.
Cờ màu xanh đỏ chen cây lá
Áo trận súng gờm pháo chĩa ngang.
Người đưa tay vẫy người cúi mặt
Những xác không hồn miệng nín khe.
Từ đấy ta làm người ở lại
Sáng sáng lang thang đứng góc đường
Xem người lính mới cười ngơ ngác
Làm kẻ man di giữa phố phường.
Bạn ta lưu lạc về đâu mất
Năm tháng qua đi chẳng thấy về
Rồi mười năm nữa qua như mộng
Tin bạn lang thang nơi miền quê.
Rồi nghe bạn chết vì quá đói
Khi gắng chuyến thồ rau cuối năm
Gục giữa phố đông mồm thổ huyết
Không chốn thân quen chẳng chỗ nằm.
Ta đi tìm mộ bạn nơi quê
Không có ai biết chỗ bạn về
Ta đứng sông Hoài mà nhớ bạn
Thắp nén nhang trầm mắt đỏ hoe.
5.4.2018

Monday, April 20, 2026

một ý thơ buồn

 

đường Trần Hưng Đạo Huế xưa

MỘT Ý THƠ BUỒN

Tôn Thất Tuệ 2026

Nghĩ tới em ta tìm một vần thơ để gọi
cho giờ nầy trong triệu phút triền miên
bình minh đến nắng vàng mộng nhụy
mặt trời non còn tắm ở bờ ao.
Ý thơ cũ nay đem ra xào nấu lại
Nghĩ tới Huế ta tìm tên người xưa để gọi
cho Huế thêm một chút tính người 
vì Huế đã hết sức vô duyên
rút ruột ra như trái điều lộn hột.

Kim Đính ơi Bao Vinh có còn những ghe nước mắm?
mặn tình đời trôi nổi sóng biển khơi, 
từ Phan Thiết đem theo những con mắm cá mòi. 
Từ Đồng Hới thuở trời đất chưa nổi cơn gió bụi, 
cũng nước mắm nhưng bằng cá cơm và thính bắp vàng tươi.

Hoàng Lan ơi, ga Huế ngọt hơn chè, nhưng cắt ruột những lần ly biệt, đi vô Nam kiếm chỗ làm ăn hay theo chồng mãi tận Phú Yên Đại Lãnh....Ta đi thật; tưởng đến hè sẽ trở lại, nhưng không bao giờ trở lại; đi thì dễ mà về rất khó. Hoàng Lan ơi ta thương nhớ Hoàng Lan như ta thương nhớ cô đào Doris Day trên màn ảnh hát Que sera sera, nào ai biết ngày sau!
Đi thỉ dễ mà về quá khó. Lính Đức trẻ kháo nhau trên toa xe lửa "chúng mình đang đi nghỉ mát ở Paris" như ta hẹn em hè về sẽ trở lại; người lính trẻ không bao giờ thấy Paris và không bao giờ thấy lại quê nhà. Hoàng Lan ơi cho ta mượn tên để gọi cái lỗ nầy, xứ Hoàng Lan.

Tuyết Nhung ơi, Trần Hưng Đạo ghé Tân Hoa mua giúp ta bản nhạc: nếu một mai em có qua đời ♪, chẳng nợ gì nhau; chẳng nợ gì nhau. nhưng hương tình nồng, gió thoảng thay hương sen, ta giác ngộ cái linh hiển diệu vợi của thương đau, của hương lòng chí thiện, hương thơm của diệu tâm giải thoát.

Sunday, April 19, 2026

Iran nửa thế kỷ đàn áp



Đường phố Iran với hình giáo lãnh mới Mojtaba Khamenei

Iran gần nửa thế kỷ đàn áp
Iran conflict the result of decades of oppression
Darab Ganji Dallas Morning News 4.19.2026

Dân chúng Iran trong bốn thập niên đã chịu đựng thất vọng, đàn áp, đành phải giao số mệnh cho tập đoàn giáo lãnh cai trị. Gần nửa thế kỷ, ý thức hệ bành trướng quân sự, chủ trương khủng bố, tham nhũng có hệ thống và bất tài của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran đã đưa một quốc gia nặng di sản văn hóa lịch sử, tài hoa và nhiều tài nguyên thiên nhiên vào con đường hủy diệt và thất vọng cùng tột.

Trước cách mạng 1979, Iran có 38 triệu dân nay đã lên quá 93 triệu. Lúc ấy, mỗi ngày sản xuất 6 triệu thùng dầu gồm 5 triệu thùng xuất cảng; nay hai con số nầy là 3,3 và 1,5 triệu. Lúc ấy 70 đồng rial đổi được 1 dollar Mỹ; bây giờ phải mất 1,6 ...triệu mới có US$1. Xưa kia về kinh tế ngang bằng Nam Hàn nay trụt xuống bằng Bắc Hàn. 

Ghi chú người dịch: hối suất 4.19.26 
1 Iranian Rial = 0.000.000.75 US Dollar • 
1 US Dollar = 1,320,935 Iranian Rial.

Thất bại trầm trọng nhất của chế độ giáo quyền là đã bỏ mất cơ hội làm trung tâm giao hoáng dầu mõ từ Trung Á ra khắp thế giới. Sau khi Liên Sô giải thể 1991, các nước mới độc lập  - đặc biệt Kazakhstan, Uzbekistan và Turkmenistan - tìm các thị trường mới để xuất cảng dầu. Trong lúc ấy, Iran tự cô lập trong chủ trương quân sự quá khích và vì trừng phạt quốc tế nên phải nhờ Nga Tàu mua giúp. Ngạc nhiên hơn, Iran không thể đưa khí đốt qua Âu Châu khi có một trữ lượng lớn hạng nhì thế giới và nằm trên trục lộ thuận tiện về địa dư chiến lược.
Ngày nay đường lối tự hoại ấy tiếp tục tác hại làm Iran mất vị trí lãnh đạo trong Vịnh Ba Tư; không biết khai dụng eo biển Hormuz một cách hòa bình có kế hoạch gây lợi. Thay vì dùng nó để lôi kéo đầu tư, gia tăng thịnh vượng chung, hợp tác hữu hiệu trong vùng, Iran đã vũ khí hóa nó bằng cách ngăng chận hải vận.
Eo biển nầy sẽ trở thành món oan nghiệt cho Iran vì các nước cần chuyển vận nhiên liệu qua ngõ nầy sẽ không để Iran ngồi yên làm chủ tình hình vả thâu tiền mãi lộ.

Dân chúng Iran thừa biết rằng các chính sách quá khích của các giáo lãnh cai trị sẽ đưa đến chiến tranh và kéo xứ sở vào đau khổ nầy. Họ biết sự cô lập hóa, suy sụp kinh tế và thất bại ngoại giao không phải là những tai nạn thất thường của lịch sử mà là hậu quả đương nhiên của một chế độ thực hiện cho được ý thức hệ quá khích thay vì nghĩ đến sự hưng thịnh an sinh của quốc gia.
Đường lối phiêu lưu quốc tế đã làm rút cạn tài nguyên quốc gia; người dân bình thường phải gánh chịu khổ đau; tương lai bị đem bán để nuôi sống bè lũ cai trị tham nhũng sống còn nhờ đàn áp và bạo lực quá mức.
Ngày nay dân chúng Iran tự phát phong trào đòi tự do, chống cai trị độc đoán, thế giới đang chứng kiến một cuôc đấu tranh bền bỉ, đòi hỏi dân chủ thế tục và giá trị con người.

Đầu năm nay, trong vòng hai ngày, thần quyền muslim đã sát hại 35 ngàn người biểu tình đòi các quyền tự do căn bản và thay đổi chế độ. Sự tàn bạo nầy đánh dấu giai đoạn lịch sử ghi rõ mâu thuẩn tuyệt đối giữa một bên bạo quyền và một bên dân chúng tha thiết tự do dân chủ.
Một khi tự do được tái lập và các cơ hội kinh tế được khai mở, Iran sẽ sử dụng các tiềm năng, trao sức lực cho dân chúng tự sinh sôi nẩy nở, biến Iran thành một quốc gia phát triển hùng mạnh, là một liên minh chính yếu cho khối dân chủ và tự do kinh doanh.
Ủng hộ cuộc đấu tranh nầy không những chỉ là một nghĩa vụ luân lý. Mà còn là một đầu tư chiến lược để có một tương lai trong đó người dân Iran dùng sự ổn định và thịnh vượng của mình hội nhập sống chung yên hòa với cộng đồng thế giới; không để bọn tăng lữ cầm tù mọi người trong và ngoài xứ sở nầy. 

=============================================================

Đà Lạt trước 1975