add this

Tuesday, October 13, 2026

Nam ai, nam bình, Gia Long, Phú Xuan . . .

 




Nam ai, Nam bình, Nietzsche, Gia Long, Phú Xuân, v.v…

Tôn Thất Tuệ

Còn nhớ chừng 1953, 1954, Huế rộ phong trào đi biển Thuận An mùa hè. Xe đạp từng đoàn qua Đập Đá xuống Chợ Mai, Chợ Nọ v.v… đi đò qua phá rồi mới tới bãi biển, cắm trại dựng lều. Tuy chưa thành thời thượng, các nàng (bây giờ trên dưới 80) bắt đầu khoe cặp giò với áo tắm bain de soleil. Một lần tôi qua đò đã tối, trăng đã lên. Bến khá vắng, mà người đi phần nhiều là dân trong vùng. Một vị trung niên áo bà ba thay cô lái mà đưa người sang bến. Ông hò từ đầu chí cuối. Tôi nhớ được câu ni:

Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc

Địa sanh thảo hà thảo vô căn

Một mình em đứng giữa bọng thuyền dưới nước trên trăng

Biết ai vô đây mà trao duyên gởi nợ cho bằng thá gian?!

Tôi chưa đọc chưa nghe lần thứ hai. Nhưng tôi thích lắm. Nay tìm gặp trong bài diễn thuyết ở Saigon 1933 của Thái Nam Vân. Trước khi đọc bài nầy, tôi thương yêu câu hò đúng như tinh thần của Pierre Loti: Aime ce que jamais tu ne verras deux fois, hãy yêu thương những gì bạn không thể thấy hai lần.

Thái Vân Nam cho rằng những câu ca dao bắt đầu với những dòng chữ Hán chỉ có ở Huế.

Hai câu chữ Hán không hẳn được mượn chỉ để gieo vần; mà làm nền cho một nhân sinh quan không cao mà siêu, thấm thấu, như đạn xuyên táo, như mưa nguồn cây lớn cây nhỏ đều hút nước no đủ. Nhân sinh quan nầy là: em đứng giữa trăng và nước giữa trời và đất. Em cùng trời và đất trong thế chân vạc, vững như kiềng.

Âm vọng (écho) và tâm ý vọng (vocation) đều rộng lớn vì em còn nghĩ đến mọi người là thá gian (thế gian). Nhưng trong thá gian ấy, em chỉ sẽ trao duyên gởi nợ cho một người, chưa biết là ai mà không mâu thuẩn với ai cả, không đấu tranh giai cấp, không kèn cựa ý thức hệ. Nhưng em ngầm hiểu, người ấy miễn là người, không phải là ác quỷ mặt người, không phải là thiên thần quái dị.

Đồng thời em ở trong bọng thuyền, trong một khung cảnh thực tế như một ngôi nhà, như một xóm làng. 

Phần phụ câu ca dao nầy giúp tôi khá nhiều, làm tôi không bận bịu cần được người khác nhớ ơn. Nào có ơn gì đòi người ta nhớ. Những điều thế gian cho là việc lớn cho là giúp đỡ, như nhớ ơn lãnh tụ anh minh, đều là vô sở trụ. Nếu tôi biếu người khác 10 đồng, ấy là lộc của người ấy, là ân sủng thiên hựu, hay chính là thiện nghiệp quả của người ấy, còn tôi chỉ là người đưa thơ. Hà nhơn vô lộc là nghĩa nó như vậy. Hà thảo vô căn? Gốc rễ của tôi từ vĩnh cửu, như cây bầu nhà tôi có rễ tận Thanh Hóa.

Tôi nói quá nhiều vì mừng tri ngộ bài diễn thuyết của Thái Nam Vân, 1933, sáu năm trước khi tôi chào đời.

Tài liệu song ngữ nầy là kết quả thuyết trình Huế & ses Chansons tại trụ sở Hiệp Hội Giáo Chức Nam Kỳ (Société d’Enseignement Mutuel de Cochinchine) và được diễn giả dịch qua Việt Văn (Huế và Ca Dao Huế) để in thành sách mỏng (brochure) với 20 trang.

Thật khó lòng mà đoán mục đích tối hậu của bài diễn thuyết. Với những vị nhạy bén chính trị (au sens politique), Thái Nam Vân đưa ra một lời kêu gọi cho chủ trương quốc gia (nationaliste), khéo léo và bất ngờ tiếp theo sự mô tả lịch sử xứ Huế theo dòng lịch sử chung của Đàng Trong, tiếp theo sự trình bày chuyên nghiệp về âm nhạc xứ Huế. Nam ai là gì? Nam bình là gì? Đâu là mái đẩy, tứ đại cảnh, lưu thủy, hành vân….

Thái Nam Vân chú ý đặc biệt nam ai, như tiếng kêu bi ai, sầu thảm, phẩn nộ của một giống nòi đã chết (đừng hiểu là dân tộc Chàm) nhưng giống nòi nầy không muốn chết nữa. Vế thứ hai “không chết nữa” nằm trong nam bình (nam ng). Thái Nam Vân không cho nam bình tính chất hùng tráng như âm nhạc tây phương, ông cho nam bình là thái độ quân tử, hùng tráng ở nội lực hơn là diễn võ dương oai. Nam bình là một nhận chân sự thể đau buồn để rồi không buồn nữa mà hành động để không chết nữa. Thái Nam Vân cho rằng thái độ tích cực ấy tương ứng với “tinh thần Nietzsche” mà thanh niên sẽ chấp nhận để xây dụng một nước Việt mới.

Bài diễn thuyết chấm dứt với đoạn nầy:  Ce peuple se meurt, c’est un fait, et vous l’avez constaté dans le caractère de sa musique et de ses chansons. Ce peuple ne veut pas mourir, c’est un autre et vous pouvez l’observer autour de vous. Mais pour revivre d'une vie nouvellle, il a besoin de faire sien cet esprit nietzschéen … Cet esprit, j’espère bien que la jeunesse annamite présente l’aura, pas trop, mais suffisamment, pour bâtir l’Annam Nouveau.

[Dân tộc nầy đang chết đây, sự đó quý vị đã thấy trong điệu nhạc, tiếng ca dao. Dân tộc nầy chưa muốn tiêu diệt, sự đó quý vị cứ trông ngay vào chung quanh mình thì biết. Nhưng mà muốn sống lại cái đời mới, thì tôi tưởng phải có cái tư cách nietzschéen. Cái tư cách nầy, tôi rất mong là thanh niên ngày nay đều có, không nhiều lắm mà vừa vừa thôi, để đào tạo lên cái Tân Việt Nam vậy.]

Đoạn nầy cho phép nói Thái Nam Vân nêu lên một lời kêu gọi chủ nghĩa quốc gia. Thật vậy, buổi diễn thuyết xẩy ra trong thời gian không riêng VN mà cả ĐNÁ đang đặt vấn đề quốc gia, dân tộc và chủ quyền.

Người Huế tên Thái Nam Vân nói chuyện ở Nam Kỳ, ông không bị chia lìa theo tổ chức hành chánh thuộc địa trung nam bắc, vì đặt vấn đề dân tộc. Tuy đề tài là âm nhạc Huế, diễn giả nói rằng những thâm thúy tinh anh, những ước nguyện có chút khác biệt rất nhỏ về hình thức, là những đặc tính chung của dân tộc, của Trung Nam Bắc.

*** Hai mươi trang sách không nhiều lắm. Thái Nam Vân nhấn mạnh tính chất hữu tình êm dịu mà thiên nhiên đã cho đất Phú Xuân mà ông dịch là “Riche Printemps”. Ông đã trích dẫn rất nhiều sách sử, cho biết Huế xưa đã có một lịch sử đặc biệt, là một đế đô như chúa Nguyễn Phúc Khoát đã định danh cho nơi Đàng Trong làm thủ đô. Quân đội hùng mạnh, có thủy quân, bộ binh, tượng binh, có cung phi mỹ nữ, có văn quan, có võ quan.

Lịch sử xứ này đánh dấu bởi việc Nguyễn Hoàng cho lập tháp Linh Mụ, và kinh đô hình tượng từ khi Sãi Vương thiên đô từ Ái Tử Quảng Trị vào đây. Nhưng những kiến trúc đền đài ấy đều bị phá hủy khi Tây Sơn chiếm.

Đọc đến đấy, chúng ta có thể suy nghĩ thêm. Những cung điện đền đài ấy tốn kém công quỹ và tiền bạc của dân chúng. Trong Nam dẫu nhiều tài nguyên hơn vẫn chưa phát triển. Chúa Nguyễn Phúc Khoát xuất thân là một người khiêm nhường đã không chịu theo đề nghị xưng hoàng đế mà chỉ giữ tước vương như một chư hầu của nhà Lê.

Nhưng chúa đã để cho người bà con là Trương Phúc Loan lộng hành, đưa chúa vào đường ăn chơi bỏ bê chính sự. Trương Phúc Loan không cho con chúa là Nguyễn Phúc Luân, nối ngôi; Nguyễn Phúc Luân chính cha của Nguyễn Ánh. Nhờ thế yếu ấy mà anh em Tây Sơn đã chiếm toàn cõi. Chúa Nguyễn không những mất kinh đô Phú Xuân mà còn mất cả Gia Định, hậu cứ kinh tế xã hội quan trọng nhất.

Ở một điểm khác, Thái Nam Vân giúp chúng ta thấy nhiều sự kiện giải thích vì sao Gia Long có thêm lý do chọn Phú Xuân làm kinh đô. Tổng quát,  Phú Xuân là nơi Nguyễn Hoàng đã muốn làm đất cắm dùi để “vạn đại dung thân” phía nam Đèo Ngang (Hoành Sơn). Nhiều lần di đô, xa như từ Ái Tử, gần như Khuông Phò (Sịa) hay cả Kim Long.

Nguyễn Ánh lên ngôi 1802. Đến năm 1818, một thuyền trưởng người Anh tên Rey được yết kiến. Trong hồi ký, Rey kể lại lúc ấy Huế vẫn còn là một vùng điêu tàn. (La ville capitale n’est qu’un amas de ruines). Thật vậy, chiến tranh, hận thù đã phá hết; Nguyễn Huệ không cần phải tái thiết vì Nguyễn Huệ đã có ý định lập kinh đô ở Nghệ An.

Gia Long đã vận dụng óc sáng tạo để xây kinh thành ăn nhịp với nét hài hòa của thiên nhiên; phát triển các vùng phụ cận. Khuôn mặt kinh đô do Gia Long tạo ra. Trong cuốn Souvernir de Huế, Michel Đức Chaigneau tả đủ kinh thành và sinh hoạt của triều đình cho phép nói rằng Huế đô vẫn như xưa. Huế mà de Courcy thấy khi đến năm 1885 không khác Huế Gia Long để lại.

Nhưng tên Gia Long đã xóa khỏi tên đường Huế, Ngả Giữa Gia Long đã thành Phan Bội Châu năm 1954 khi bắt đầu chế độ Ngô Đình Diệm.

Sau khi nhắc đến sầu cố quốc, quyền cai trị vào tay người Âu, Thái Nam Vân không ngần ngại khen óc thẩm Mỹ của người Pháp. Chính quyền mới tôn trọng những kiến trúc cũ, và sự đô thị hóa Hữu Ngạn cũng hòa đồng với thiên nhiên. Nhờ đó Huế không mất nét hữu tình, như lâng lâng sống trong hoài niệm, thở những hơi thở của nền văn minh xưa, vang bóng đế quốc Đại Nam.

Người Huế đã hình tượng những nét Huế qua hòn non bộ, có sông có núi, có cây, có thú rừng, có những tịch cốc ở sườn đồi, có tiều phu, có ngư ông.

Những thứ ấy, những tiếng nhạc, những tâm tình …các thân hữu sẽ rõ hơn khi đọc đấy đủ brochure ngắn nầy. Nhưng xin lưu ý Thái Nam Vân nói về những ngày xa xưa chưa có những đổi thay văn hóa xã hội đầy xáo trộn.

Nếu, e không phải nếu mà có thật, những nhẹ êm, hữu tình, thi vị nơi ngòi bút của Thái Nam Vân không còn nữa, thì Huế xưa là một niềm thương yêu thâm sâu, câm nín tưởng như lãng quên, trong công thức của Pierre Loti: Hãy yêu thương những gì không thể thấy hai lần (Aime ce que jamais tu ne verras deux fois). Làm chi có lần thứ hai mà chộ.

Huế & ses chansons - Huế và ca dao Huế

Thursday, October 8, 2026

NGHE TỪ THẾ GIỚI LẮNG THINH

Pierre FAVRE

Á Châu, vương quốc duy nhất nơi có thể sống ra ngoài thời gian
Những bờ biển bão táp đánh tả tơi vẫn an bình hơn trời Âu.
Á Châu, vương quốc duy nhất nơi có thể sống ra ngoài thời gian
Không đào đâu ra triết gia, chỉ có hiền nhân, 
hiền giả đã tìm được đạo, đường đời.
Á Châu vương quốc duy nhất cũng có những lời ca vang, những tiếng hét lớn
nhưng bạn nghe biết sự lắng thinh, nghe biết thế giới không lời.
Á Châu, vương quốc duy nhất.
•
Chúng tôi dịch bậy mấy câu thơ ngắn của Pierre Favre do một ông Pierre khác người Việt trích đăng năm 1935 ở Hà Nội. Pierre Đỗ Đình mà chúng tôi hân hạnh gới thiệu là Đỗ Đình Thạch, có dạy thời gian ngắn ở VĐH Huế lúc sơ khai, ông đã giới thiệu tuyên ngôn cùa trường phái tượng trưng (symbolisme). Nguyên tác:

Asie, unique royaume où l'on vive en dehors du temps,
tes rivages déchirés de typhons sont plus calmes que cette Europe.
Asie, unique royaume où l'on vive en dehors du temps.
Ils n'ont plus que des philosophes les sages ont trouvé la Voie.
Asie, unique royaume. Ils ont les chants et les cris 
mais tu connais le silence
Asie, unique royaume.

Ý chính của Pierre Đỗ Đình không nằm ở mấy câu thơ nầy, bài giới thiệu của ông rất nặng về ý tưởng và rất trừu tượng, đúng vậy, trên thế giới không có nước nào trừu tượng bằng nước Pháp. Ông giới thiệu thi sĩ Pierre Favre trong số những văn thi sĩ người Pháp ở Đông Dương. Tuy Đỗ Đình không nói, xin thêm rằng ít nhất thời ấy, giới văn học chính quốc không cho là chính thống những nhà văn ở Đông Dương, phải chăng họ thấm nhuần tư tưởng Đông Phương và Âu Châu tự đặt mình trong thế đối lập Đông Tây.

Vương quốc, royaume, kingdom...là danh từ cụ thể thuộc địa giới đã được mượn tạm để chỉ cả cõi trời. Tăng lữ Do Thái Giáo không thể giết Jesus bèn mượn tay quân quản Pilate, vu khống  Ngài xưng là vua Do Thái, hành động ly khai phản nghịch đế quốc La Mã. Jesus nói: Vương quốc của ta không ở chỗ nầy, ta thuộc về vương quốc của God, vương quốc của Cha ta.

Như vậy Favre hiểu "royaume" vương quốc cụ thể là một vùng rộng rãi, vừa thế giới tâm linh như các nhà thần học giải thích lời Jesus "the kingdom of God" là cái tâm của mọi người, tự tánh của chúng sinh.
Thuần túy ngữ pháp, có điểm chúng tôi không rõ nhờ chư vị trợ giúp. Đó là động từ "vivre" (où l'on vive). Theo cách chia động từ hiện nay, "vive" thuộc về thể cách subjonctif, không có tính chất xác quyết của indicatif, [où l'on vit]. Câu hỏi sẽ là: phải chăng Favre cẩn trọng nên dùng subjonctif vừa là hiện thực vừa là ước mong? Phải chăng xưa, indicatif của vivre là 'il vive'?

• 
[Asia, the unique kingdom where they live beyond the time
Your typhoon battered sea shores are still much in calmness more than this Europe
Asia, the unique kingdom where they live beyond the time
there philosophers vanished to become wise men fathoming the road, the way of life.
Asia, the unique kingdom.]

◙ Xin thêm vài cái nhìn khác về Á Châu

    • William Gordon East

The One and The Other Asia
Love, if you will, your roses and your nightingales
Those mountains neighbour to the sky
Those microcosms meshed in silk and stone
Those intricate fossil thoughts too old to die.
But remember the river bones dry and their shingles spread like ash
The cattle gasping in fragmented fields
The vultures wheeling down from brazen sky
and the usurer's pious text as he counts his yield.

Nếu thích, xin bạn hãy yêu thương khóm hoa hồng và lũ sơn ca,
Những ngọn núi cao ngất cao bằng trời
Những tiểu vũ trụ trong tơ tằm trong đất cát
Những nguồn tư tưởng dày đặc đã hóa thạch, không phai mờ vì đã quá xưa.
Nhưng xin nhớ những dòng sông cạn như bộ xương khô, lòng sông như suối tro than;
Những con bò gặm cỏ trong những cánh đồng chia nát xẻ nhỏ li ti.
Những con kên kên bay lượn từ bầu trời trân tráo rồi đâm xuống tìm mồi
Và xấp giấy dày, linh thiêng thần thánh, trong tay người cho vay cắt cổ ghi số tiền lời đã thu được.

    •  Okakura Kakuzo

"Á Châu là một. Hy Mã Lạp Sơn đã chia thành hai nền văn minh to lớn. Trung Hoa chủ trương cộng đồng sống chung theo Khổng Tử; và Ấn Độ chủ trương từng cá nhân tự thức tĩnh theo kinh Vệ Đà. Nhưng những ngọn núi tuyết nầy không ngăn chận lòng tha thiết đối với (điều gọi là) Tối Thượng và Phổ Quát, để tạo ra các tôn giáo lớn nhất thế giới ăn sâu vào đời sống tâm linh các các dân tộc Á Châu; làm nổi bật sự khác biệt với các dân tộc miền biển ở Địa Trung Hải và Baltic; những dân tộc nầy chỉ chú trọng đến các đặc thù riêng biệt, chỉ mưu cầu các phương tiện của đời sống; chứ không nghĩ đến cứu cánh của đời sống" (to search out the means, not the end, of the life). Okakura Kakuzo, tác giả Trà Thư.

   •  Virgil Gheorghiu
Khi nền văn hóa Tây Phương sụp đổ, Đông Phương sẽ chiếu ánh sáng tâm linh cứu độ Tây Phương. Đông Phương là "the East" không bao gồm Nga Sô như báo chí dùng East để phân biệt với West là Tây Phương, vì Nga Sô cũng chỉ là sản phẩm của West. ♠ Ý nầy trong cuốn Giờ Thứ 25, cuốn nầy không còn là kẻ thù số một và hiện đưọc lưu hành ở VN.

Ý đạo trong lòng em

Hảo Tiên, khi nhật nguyệt linh đài đổ vỡ, sẽ còn nơi cửa sổ phòng anh một ngọn đèn soi sáng hồn thơ và ý đạo; soi sáng hồn thơ trong anh và ý đạo trong lòng em. Và như Pierre Favre đã nói, hiền giả đã tìm ra đạo, để sống đời sống đạo, ý đạo trong lòng em, cao hơn các tôn giáo khuất chìm trong lễ nghi và giàu sang. Người Tây vẫn hiểu được người Đông. 

Friday, September 25, 2026

 

vết đạn xuyên from the bullet hole



Thư Viện Abraham Lincohn, Saigon 1964...
from the bullet hole
tôn thất tuệ
From the old skull sheltering my grey mass
I saw in the sluggish world someone
sowing a soybean seed, a single one
on the sandy tape along the shore.
@
Doubtlessly, you've passed the fiery land
around the boiling front up North
embalmed by wild eucalyptus bushes
in the fragrance released from the leaves
by the almighty solar disk.
There a soldier died, fingers holding fast the ground.
His half stood alone nearly dead nearby.
Untamed gusts bid farewell in bowls of dust
mummifying the carcass and the past.
@
Don't you know her, the young collegian?
Charming, she came embrace the epitaph
as if embracing his warm body.
She sighed inwardly, strictly in the realm of the heart
but a drop of diamond betrayed her
by falling down, watering the weed.
Frail hand, on the stone, inscribed in a twist
Vergissmeinnicht, a German word for forget me not
and name of a flower the forget-me-not.
Armed opened, eyes to skies, she cited a verse:
Over here became one a lover and a gunman 
and the Death who thundered the soldier
with a lethal blast has chosen my darling.*
The sheer melancholy over the vale remained integral.
@
Naughty is the slim sight from pupil desks.
Give me a bullet in the chest
And from the bullet hole
I will see and I will love
the eucalyptus wreathed battle guy,
the young college student with her vergissmeinnicht
and the one sowing a soybean seed on the salty beach
claiming divinely the eternal rhythm to his search.----

* Disclosure : the third part [the scene of a college student visiting her lover's tomb] was conceived through a vague memory of mine regarding a poem from a bilingual anthology (French and English ) displayed in the lobby of the United States Information Service, Saigon VietNam around 1962-1963 at the opening of its new location and  The Abraham Lincoln Library. The title of the poem and the book as well as the name of the author escape my recollection. At the time, the collection was not available to borrowers. But please be advised that the German word "vergissmeinnich" was from there, not from me, a German illiterate.

vết đạn xuyên
tôn thất tuệ
Có một kẻ cuộc đời rách nát
tay nâng niu hạt đậu ươm mầm
gieo trên cát đất khô muối mặn
tưới tin yêu bằng mồ hôi và nước mắt.
@
Có khi nao em qua vùng hỏa tuyến
mặt trận Bắc, Quảng Trị mờ khói súng
mùi khuynh diệp xoa êm cơn thống khổ
khi mặt trời đập vỡ lá tràm tươi.
Có anh lính chết nguyên trong nhung phục
mười ngón tay bấu vào đất nóng
quá yêu thương đất mẹ ngàn năm.
Cô vợ quê đứng bên thành khối đá.
Lũ gió chướng ôm ngàn nắm cát
ướp xác người cho sống với thời gian,
vĩnh biệt anh đưa anh về cõi lạc.
@
Và đây nữa, cô sinh viên trường luật
ôm tấm bia như ôm thân chàng nóng ấm.
Nàng nuốt khóc nhưng khóc đầy hồn rỗng
thế mà sao mắt đổ giọt kim cương
phản bội nàng, tưới vùng cỏ úa.
Tay yếu mềm viết không trên đá trắng
nét vòng vo như tóc rối gió không buông
ôi anh ơi, bâng khuâng tím còn tên nào khác nữa?
"chớ quên em"  là dòng họ của loài hoa.
Cô bé mộng vung tay mở rộng
nhìn xa xăm mà hát một lời thơ.
Nấm mộ nầy chôn chung người yêu và tay súng.
Nhưng Tử Thần trong đường thương ma quái
khi đấu sức với người lính chiến đã giết luôn
người tình yêu dấu của đời tôi.*
Thu hoang sơ vẫn im nguyên qua đáy núi.
@
Em đã thấy nhưng ta nhìn quá hẹp
ghế trường làng lé đé bờ ao.
Hãy giúp ta bằng viên đạn qua người
xuyên vết trổ, ta học bài đau khổ
xuyên vết trổ ta biết yêu người lính
vòng hoa trán kết bởi những ngọn lá tràm
cô nữ sinh lòng bâng khuâng tím
cuối góc hồn sầu mộ chiêm bao
yêu kẻ yếu gieo mầm trên đất chết
xin niềm vui cho đồng loại ngoài trong.-

Hậu thư
Không nhớ năm nào, ít lâu sau khi đến Mỹ, giữa thập niên 1980 tôi đọc mấy câu thơ của Rose Nguyễn trên một tập san sinh viên. Cô chỉ nói đến những tàn phá của chiến tranh nhìn từ ngôi nhà mẹ (From the mother’s window). Do đó tôi viết From The Bullet Hole như một tham luận muốn nói cô hãy nhìn cuộc chiến đầy đủ hơn; không biết họ có đăng hay không.
Mãi cho đến thời gian rất gần đây, khi tôi đầu hàng computer phải dùng internet, email giúp tôi liên lạc với một số bạn cũ từ thời mới qua tiểu học, những người bạn xa cách từ lâu không riêng gì cuộc đổi đời tai ách. Một trong những đứa “cúp ca rê” (cắt tóc ngắn hơn nhà binh) là Vũ Minh Châu đang ở tỉnh Côn Luân (?) Cologne, Đức Quốc. Hôm nhớ đến hắn tôi đã nghẹt thở (nghĩa đen), không phải vì hắn nhưng cả một thời thơ ấu 1952, 1953… đè nặng lên ngực. Tôi phải viết vội mấy chữ để xem mình còn linh hoạt hay không. Tôi đã viết Chiều chưa có tên. Tôi chợt nhớ trong bài tiếng Anh nói trên có chữ vergissmeinnicht không biết đánh vần ra sao, “đừng quên tôi” vừa là tên hoa forget-me-not. Lúc ấy tôi có ý viết qua tiếng Việt thích ứng với ngôn ngữ của mình, nó thành bài Vết Đạn Xuyên, 2009.

           Over here became one a lover and a gunman
           and the Death who thundered the soldier
           with a lethal blast has chosen my darling.*

           Nấm mộ nầy chôn chung người yêu và tay súng.
           Nhưng Tử Thần trong đường thương ma quái
          khi đấu sức với người lính chiến đã giết luôn
          người tình yêu dấu của đời tôi.

Để khỏi mang tiếng đạo văn như các chính khách trên thế giới, tôi xin nói rõ vì sao có hai phần trích ngay bên trên từ hai bản Anh Việt. Khoảng 1962, 63, người Mỹ đã mở rộng Phòng Thông Tin (USIS) và thuê trụ sở lớn đối diện thương xá Tax, cạnh rạp Rex. Vì người Việt biết tiếng Pháp, Abraham Lincohn chưng ngay ở cửa vào sách báo song ngữ Anh Pháp. Anh Pháp thì tôi chỉ lai rai “to be, to have”, “être, avoir” nhưng chụp được cuốn thơ song ngữ, tôi đọc bài Vergissmeinnicht.
Nay tôi quên hết, chỉ nhớ bài thơ tả cảnh một nữ sinh đi thăm mộ người yêu chết trong thế chiến, cô viết trên bia đá chữ vergissmeinnicht, rồi nói:
          Ici se mêlent l’amant et le tueur;
          mais la Mort qui frappa le soldat
          d’un coup mortel a choisi mon amant.

Tôi cố đọc lại vài lần nữa nhưng gặp một người quen rủ qua Pole Nord; tôi xếp sách ngay theo tiếng gọi của hương café, mà uống chùa, không mất tiền. May ra còn nhớ khung cảnh và một câu mà sử dụng lai rai…..
2014, khi thu ngấp nghé muốn nhảy vào rừng thưa.

Thursday, September 10, 2026

Sáng thu lành, đoản văn

 



nắng thu yếu, đâu đó ở Hội An?

MỘT SÁNG THU LÀNH
Tôn Thất Tuệ

Vâng, sáng nay thu lành và thu khóc như bé nầy đứng khóc.
Một em bé vào tuổi khá khôn đứng khóc góc đường gần chợ. Một bộ hành đến hỏi lý do và được biết cấy chi rứa. Số là mẹ em đưa em một đồng (bằng kim loại) bảo để mua một đồng đường, bé cầm một tay; mẹ lại đưa thêm một đồng nữa, bé cầm tay kia khi mẹ bảo mua một đồng muối. Mỏi tay bé bỏ chung một túi. Đến chợ không phân biệt được đồng mô để mua muối và đồng mô để mua đường.

Thu cũng vậy, biết lòng nầy đem gởi cho ai. 

Người nơi đây, nơi tôi ở, thích bắn súng, thích bắn nai; nên người nơi đây chẳng nhúc nhích nỗi lòng khi thấy xác nai xe đụng bên đường. Có lẽ việc nầy dành cho thu, mùa thu đầy ý nồng. 
Sáng nay thu lành, thu khóc vì không biết tâm cảm dành đâu. Lòng thu rộng nhưng thu không có ngàn mắt ngàn tay, thiên thủ thiên nhãn, thu chỉ có đôi chân và đôi tay.
Này thu nhé, ta chỉ cho thu một con đường: người dưng khác họ đem lòng nhớ thương. Ta cũng là người dưng, đem lòng nhớ thương ta nhé.
Thu cứ khóc như thằng bé khóc. Trí của bé vẫn còn tươi, đồng muối khác đồng đường.
Đến đó thì cứ biết đến đó; đến khi sang đông biết đâu thu chết vì lạnh, nói sớm quá chận đường thu như chận ngõ về của ý.

Nơi ta ở, phát súng lệnh thu về chẳng phải là lá ngô đồng* mà lá đỏ như máu của thân cây leo ngứa phỏng mình**. Thu hóa thân thành vạn loại và vạn loại hóa thành thu. Nếu hiểu lá vàng là thu thì lá vàng rụng đầy nhà ta khi tháng hạ còn tươi, chẳng đợi thi mất công.
Ta vẫn tin thu không ai thấy được mà chỉ thấy những hóa hiện của thu. Cũng như ta không thể thấy bản chất của người vợ, là người tình xưa, ta bèn thốt lên:
Cảm ơn em, một hóa hiện hình người.
Cảm ơn thu, thu lành, thu biết khóc, cảm ơn thu hóa hiện trong ta và ngoài ta.-

*Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu ** poison ivy

•
Phụ bản
Sầu Ai Lao
Đỗ Hữu
Đã lâu trăng cứ vàng hiu hắt
Mây cứ sầu tuôn núi võ vàng
Lá vẫn phai chàm trên sắc áo
Mưa nguồn thác đổ đá mù sương.

Giữa ngày lạc lõng trên rừng rậm
Với nắng bâng khuâng mây thuở nào
Với núi xanh lơ chiều tím nhạt
Mây trời bàng bạc sầu Ai Lao.

Lưng đèo quán gió mờ hun hút
Thôn bản nằm trơ dưới nắng chiều
Tai vẫn nghe đều dòng thác đổ
Người ơi, thương nhớ biết bao nhiêu!

Ở đây hơi đá chiều vây khắp
Khép chặt mình tôi giữa núi rừng
Buồn quá ngày đi đêm trở lại
Hoàng hôn hoa bản phấn rưng rưng.

Người có theo tôi lên dốc nắng
Nhìn xem hoa rải sắc trên đường
Chiều nay gió thổi buồn ghê lắm
Lá đổ sau chân một lối vàng.---

Sunday, August 30, 2026

 

Bố tôi, người lính miền Nam
Hai Le *** 21 thg 06, 2017

Tôi có một người cha già, tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á Đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.
Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà lại là bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi? Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi từng là một người lính miền Nam, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe, cách xa nhà tôi bốn dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim…
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.
Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ I love you Tammy! Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ trìu mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.
Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.
Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa.

Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những dòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.
Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín.
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở bậc đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.

Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.
– Này Tammy
Tôi thường trả lời: – Dạ, gì thế bố?
– Bố thương con nhiều.
– Con cũng thế. I love you!


Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là
KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắt là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại).
Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là
Chùa Thiên Mụ, Cầu Tràng Tiền…
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt Nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 1975, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều.
Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.

Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bầu ông là
Người cha thương con nhất thế giới!.
Ngày lễ cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo: “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần”.
Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc lửa khói. Lật ra đằng sau, những ngày tháng cũ, 1968, 1970, 1971, 1972… với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh… Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc áo quần lính.

Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho cuộc chiến bảo vệ quê hương.
Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời.
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã quá muộn! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với dòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, bố thương con nhiều! Vĩnh biệt!”.
Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời này mãi mãi tôi sẽ không bao giờ còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác bố, tôi bỏ theo khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thắm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi…

Wednesday, August 26, 2026

chắp tay lạy người

Bờ sông Gia Hội, xưa và ất xưa

CHẮP TAY LẠY NGƯỜI

Tôn Thất Tuệ • 2012

Chị tôi sinh 1930 Canh Ngọ vừa qua đời trước Tết Con Rồng 2012, một ngày trước khi ông Táo về chầu trời.

Chiến tranh Việt Pháp 1946 đã đưa anh chị em tôi vào tình trạng các bạn cứ tưởng tượng như bỗng dưng con cái ra đường sống cuộc đời vô gia cư, homeless. Chị không đi học tiếp mà sống nơi nhà thờ họ ngoại với ông trưởng tộc nghèo, chung nhau tìm cách sống qua ngày. Rồi chị cũng lớn lên sống với nhà chồng gần Đàn Nam Giao. Còn nhớ ông cha chồng có nói với dì tôi: Thưa bà Lãnh (chồng lãnh binh), nếu không có sự đảo lộn thì làm sao tôi có thể đến nhà bà xin cưới dâu.

Hão huyền xã hội ấy không phải là điều tôi muốn ghi lại. Điều chính yếu muốn nói là nhờ những đổi thay xã hội ấy, chị tôi vì nghèo, ít học, đã không làm gì có thể hại ai, mắng chưởi ai, tống tiền, cho vay cắt cổ, gạt gẫm, kể cả không có dịp làm những sai lầm ngoài ý muốn như phạt tù kẻ vô tội. Chị tôi hay cúi nhìn xuống đất, nghĩa bóng và đen. Chị luôn hất cục đá vô lề, lượm những cành gai, những mẻ chai mẻ sành, đinh… sợ người ta đạp què giò.
Thỉnh thoảng chị gánh xuống chợ Bến Ngự bán những sản phẩm nhà vườn. Nghe ghê quá. Nhưng chỉ có: một trái mít non, một mụt măng tre pheo, vài mụt măng cán giáo, mươi trái vả, vài bó chè xanh, trái thơm non.

Quan trọng và đầy màu sắc là cái ngãu ớt mọi, ớt tím, ớt chìa vôi, còn xanh còn hườm theo thị hiếu ở Huế. Khi nào trời thưởng, thì có thêm nhúm nấm mối mọc dưới lá tre mục, hoặc vài ba chục tai nấm mèo phơi còn ẩm.

Mấy thứ ấy không nặng bằng một thùng nước nên chị kèm theo năm bảy bó củi. Mấy bó củi nầy đầy tính chất phấn son, tô phết. Bên ngoài là những liếp gỗ mỏng trắng tươi từ thân cây dương liễu; bên trong đủ thứ tầm khào, kể cả nhánh vông gai xốp. Chẳng che dấu lường gạt ai được nhưng cái đẹp cũng câu khách, có giá vậy. Quanh xóm ai cũng nghèo, cho nên không thể mua đi bán lại, có chi bán nấy. Tường trình đầu tiên khi ở chợ về chỉ có hai chữ hoặc “gạo hơn” hoặc “gạo thua”. Đến nay tôi chưa hiểu vì đâu có hai thuật ngữ ấy, gạo hơn là giá hạ, gạo thua là giá cao; tạm hiểu cùng một số tiền, thua là bớt gạo; hơn thì thêm một chút.

Nhưng gạo đã làm chị bận tâm một cách khác vào tuổi đôi tám (1945). Hơn mười năm trước, tôi có về Huế lo dời mồ mã tổ tiên bị giải tỏa khu núi Ngự Bình. Tôi chẳng đi đâu, ngoài công việc chính yếu trên. Tôi lẩn quẩn trong vườn và tìm gặp những thứ chị mang đi bán như nói trên. Cây chè đã lão hóa, thân hình cổ quái như những cây bonsai. Mấy cây mít chỉ có trái lèo tèo như quả bưởi, nằm trên cao, chúng có cái tên không đẹp nhưng rất thông dụng ở Huế là mít đọt. Mấy bụi thơm có trái chín như hồi nhỏ người lớn hay đố, mặc áo điều áo đỏ ngồi chỏ hỏ sau nương. Cây vả xưa đã chết, mới trồng cây con.

Chiều hôm trước ngày tôi trở lại Saigon, hai chị em ngồi yên lặng dưới giàn hoa. Bỗng nhiên chị tôi nói: Ba rất kính trọng người ăn mày.
Đến đây các bạn sẽ hiểu vì sao tôi nói chị bận tâm về gạo. 1945 thì chị đã 15, tuổi ta là mười sáu đôi tám là đúng rồi, tuổi đủ để nhớ và biết nhiều. Chị nói vào kỳ đói, gia đình tôi nấu cháo từng nồi lớn, mỗi người đi qua được mời một tô cháo trắng. Chị múc và cha tôi hai tay dâng bát (cái đọi) cháo rồi vái lạy người người ăn. Mỗi người chỉ có một tô, đi quanh đi quất đâu đó trở lui ăn nữa nhưng ăn liền tô thứ hai thì không được. Của ít người nhiều.

Tôi chưa bao giờ chứng kiến cảnh đãi cháo ấy; có lẽ nấu đâu ngoài chợ vì nhà tôi ở trong kiệt. Nhưng tôi nhớ mồn một cha tôi mua nhiều gạo lắm (trẻ con thì thấy gì cũng to cũng nhiều). Tự nhiên cái chái trước thành chỗ cao chỗ thấp cho tôi nhảy lên nhảy xuống. Chị phải lo đem gạo cho bà con tận Cồn Hến, có khi qua đò nước lụt rất ghê sợ.

Năm đó cha tôi đi buôn gạo với bác Thanh, tức là cha của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tôi còn nhớ bác Thanh có đến nhà tôi một lần. Sau hồi cư tôi có thấy bác vài lần trên xe vespa trước khi bác chết vì tai nạn xe cộ trên đường từ phi trường Phú Bài về Huế. Tôi không hiểu số gạo để tại nhà để đem cho bà con lối xóm hay nấu cháo có phần của bác Thanh hay không. Tuy vậy tôi luôn nguyện hồi hướng công đức cho bác Trịnh Thanh. Việc nầy tôi nghĩ TCS cũng không biết; cũng như không biết sự quen biết giữa cha tôi và cha của ông. Tôi không quen biết TCS; chỉ có một lần tôi đi cùng với một người bạn vô Bộ Thông Tin yêu cầu Ban Kiểm duyệt thông qua bài Nhìn Những Mùa Thu Đi, lần ấy ông nhạc sĩ cũng đi chung. Nói cho rõ thêm, việc can thiệp nầy là do ông bạn (đã chết Mậu Thân) còn tôi chỉ tình cờ đi theo.

Trước và sau vụ gạo nầy, cha tôi thật sự là homeless, nghĩa là ông chỉ lo đâu đâu ngoài đời. Ông tom góp mọi thứ trong nhà để lo cho tuần lễ đồng, tuần lễ vàng. Mẹ tôi mất sớm nên chị lo cơm nước cho mấy em.

Chị tôi gánh những gánh củi xuống chợ bán, lúc chợ ế phải gánh rong quanh Bến Ngự bán cho những người cùng thời với cha tôi. Sau chiến tranh họ vẫn còn làm chủ tiệm vàng, tiệm xe đạp, quán giải khát (buvette), chủ bàn ping pong, chủ tiệm tạp hóa  v.v…Con cái của họ xưa kia cùng đi học bây giờ áo quần bảnh bao không rách vá như chị. Không ai nhìn. Riêng chỉ có ông bà Viên Lang nhận ra, mời ăn cái bánh và chén nước. Dĩ nhiên những người như mụ Giá quét chợ thì trò chuyện huyên thuyên như ngày xưa vô nhà xúc gạo về ăn.

Nghèo chẳng có gì đáng khen hay đáng trách. Nhưng cái hay của cảnh hàn vi là nó giúp mình không có phương tiện sách hại ai. Đó là trường hợp của chị tôi. Chị tôi dốt, không biết thiền là gì và cũng không biết bát văn cửu vạn (bài bạc) là gì, không biết điều khiển 16 ông tướng qua bốn vùng chiến thuật xanh đỏ trắng vàng trong bộ bài tứ sắc. Chị không biết thập ngưu đồ của thiền học. Chính chị không biết đời mình là một ngưu đồ, suốt đời tận tụy và âm thầm nghiền ngẫm sự việc chung quanh như trâu nhai lại.

Tôi tin tưởng cuộc đời vô cầu, vô tạo, vô lụy đã cho chị tôi một sự ra đi nhẹ nhàng. Vào nhà thương khám bệnh định kỳ, đột nhiên hôn mê và từ giả mười giờ sau. Đây là một ví dụ, một trường hợp cụ thể của triết lý Đông Phương, đến từ hư vô và trở về với hư vô hay nói khác chẳng đến chẳng đi. 82 tuổi đời, mà e chừng đã có gần 70 tuổi đạo, đạo vái lạy kẻ nghèo đói, đạo chắp tay lạy người.-
(Bài đầu tiên của blogspot nầy)