add this

Sunday, August 30, 2026

 

Bố tôi, người lính miền Nam
Hai Le *** 21 thg 06, 2017

Tôi có một người cha già, tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á Đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.
Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà lại là bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi? Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi từng là một người lính miền Nam, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe, cách xa nhà tôi bốn dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim…
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.
Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ I love you Tammy! Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ trìu mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.
Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.
Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa.

Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những dòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.
Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín.
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở bậc đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.

Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.
– Này Tammy
Tôi thường trả lời: – Dạ, gì thế bố?
– Bố thương con nhiều.
– Con cũng thế. I love you!


Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là
KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắt là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại).
Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là
Chùa Thiên M, Cu Tràng Tin…
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt Nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 1975, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều.
Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.

Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bầu ông là
Người cha thương con nht thế gii!.
Ngày lễ cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo: “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần”.
Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc lửa khói. Lật ra đằng sau, những ngày tháng cũ, 1968, 1970, 1971, 1972… với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh… Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc áo quần lính.

Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho cuộc chiến bảo vệ quê hương.
Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời.
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã quá muộn! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với dòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, bố thương con nhiều! Vĩnh biệt!”.
Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời này mãi mãi tôi sẽ không bao giờ còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác bố, tôi bỏ theo khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thắm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi…

Wednesday, August 26, 2026

chắp tay lạy người

Bờ sông Gia Hội, xưa và ất xưa

CHẮP TAY LẠY NGƯỜI

Tôn Thất Tuệ • 2012

Chị tôi sinh 1930 Canh Ngọ vừa qua đời trước Tết Con Rồng 2012, một ngày trước khi ông Táo về chầu trời.

Chiến tranh Việt Pháp 1946 đã đưa anh chị em tôi vào tình trạng các bạn cứ tưởng tượng như bỗng dưng con cái ra đường sống cuộc đời vô gia cư, homeless. Chị không đi học tiếp mà sống nơi nhà thờ họ ngoại với ông trưởng tộc nghèo, chung nhau tìm cách sống qua ngày. Rồi chị cũng lớn lên sống với nhà chồng gần Đàn Nam Giao. Còn nhớ ông cha chồng có nói với dì tôi: Thưa bà Lãnh (chồng lãnh binh), nếu không có sự đảo lộn thì làm sao tôi có thể đến nhà bà xin cưới dâu.

Hão huyền xã hội ấy không phải là điều tôi muốn ghi lại. Điều chính yếu muốn nói là nhờ những đổi thay xã hội ấy, chị tôi vì nghèo, ít học, đã không làm gì có thể hại ai, mắng chưởi ai, tống tiền, cho vay cắt cổ, gạt gẫm, kể cả không có dịp làm những sai lầm ngoài ý muốn như phạt tù kẻ vô tội. Chị tôi hay cúi nhìn xuống đất, nghĩa bóng và đen. Chị luôn hất cục đá vô lề, lượm những cành gai, những mẻ chai mẻ sành, đinh… sợ người ta đạp què giò.
Thỉnh thoảng chị gánh xuống chợ Bến Ngự bán những sản phẩm nhà vườn. Nghe ghê quá. Nhưng chỉ có: một trái mít non, một mụt măng tre pheo, vài mụt măng cán giáo, mươi trái vả, vài bó chè xanh, trái thơm non.

Quan trọng và đầy màu sắc là cái ngãu ớt mọi, ớt tím, ớt chìa vôi, còn xanh còn hườm theo thị hiếu ở Huế. Khi nào trời thưởng, thì có thêm nhúm nấm mối mọc dưới lá tre mục, hoặc vài ba chục tai nấm mèo phơi còn ẩm.

Mấy thứ ấy không nặng bằng một thùng nước nên chị kèm theo năm bảy bó củi. Mấy bó củi nầy đầy tính chất phấn son, tô phết. Bên ngoài là những liếp gỗ mỏng trắng tươi từ thân cây dương liễu; bên trong đủ thứ tầm khào, kể cả nhánh vông gai xốp. Chẳng che dấu lường gạt ai được nhưng cái đẹp cũng câu khách, có giá vậy. Quanh xóm ai cũng nghèo, cho nên không thể mua đi bán lại, có chi bán nấy. Tường trình đầu tiên khi ở chợ về chỉ có hai chữ hoặc “gạo hơn” hoặc “gạo thua”. Đến nay tôi chưa hiểu vì đâu có hai thuật ngữ ấy, gạo hơn là giá hạ, gạo thua là giá cao; tạm hiểu cùng một số tiền, thua là bớt gạo; hơn thì thêm một chút.

Nhưng gạo đã làm chị bận tâm một cách khác vào tuổi đôi tám (1945). Hơn mười năm trước, tôi có về Huế lo dời mồ mã tổ tiên bị giải tỏa khu núi Ngự Bình. Tôi chẳng đi đâu, ngoài công việc chính yếu trên. Tôi lẩn quẩn trong vườn và tìm gặp những thứ chị mang đi bán như nói trên. Cây chè đã lão hóa, thân hình cổ quái như những cây bonsai. Mấy cây mít chỉ có trái lèo tèo như quả bưởi, nằm trên cao, chúng có cái tên không đẹp nhưng rất thông dụng ở Huế là mít đọt. Mấy bụi thơm có trái chín như hồi nhỏ người lớn hay đố, mặc áo điều áo đỏ ngồi chỏ hỏ sau nương. Cây vả xưa đã chết, mới trồng cây con.

Chiều hôm trước ngày tôi trở lại Saigon, hai chị em ngồi yên lặng dưới giàn hoa. Bỗng nhiên chị tôi nói: Ba rất kính trọng người ăn mày.
Đến đây các bạn sẽ hiểu vì sao tôi nói chị bận tâm về gạo. 1945 thì chị đã 15, tuổi ta là mười sáu đôi tám là đúng rồi, tuổi đủ để nhớ và biết nhiều. Chị nói vào kỳ đói, gia đình tôi nấu cháo từng nồi lớn, mỗi người đi qua được mời một tô cháo trắng. Chị múc và cha tôi hai tay dâng bát (cái đọi) cháo rồi vái lạy người người ăn. Mỗi người chỉ có một tô, đi quanh đi quất đâu đó trở lui ăn nữa nhưng ăn liền tô thứ hai thì không được. Của ít người nhiều.

Tôi chưa bao giờ chứng kiến cảnh đãi cháo ấy; có lẽ nấu đâu ngoài chợ vì nhà tôi ở trong kiệt. Nhưng tôi nhớ mồn một cha tôi mua nhiều gạo lắm (trẻ con thì thấy gì cũng to cũng nhiều). Tự nhiên cái chái trước thành chỗ cao chỗ thấp cho tôi nhảy lên nhảy xuống. Chị phải lo đem gạo cho bà con tận Cồn Hến, có khi qua đò nước lụt rất ghê sợ.

Năm đó cha tôi đi buôn gạo với bác Thanh, tức là cha của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tôi còn nhớ bác Thanh có đến nhà tôi một lần. Sau hồi cư tôi có thấy bác vài lần trên xe vespa trước khi bác chết vì tai nạn xe cộ trên đường từ phi trường Phú Bài về Huế. Tôi không hiểu số gạo để tại nhà để đem cho bà con lối xóm hay nấu cháo có phần của bác Thanh hay không. Tuy vậy tôi luôn nguyện hồi hướng công đức cho bác Trịnh Thanh. Việc nầy tôi nghĩ TCS cũng không biết; cũng như không biết sự quen biết giữa cha tôi và cha của ông. Tôi không quen biết TCS; chỉ có một lần tôi đi cùng với một người bạn vô Bộ Thông Tin yêu cầu Ban Kiểm duyệt thông qua bài Nhìn Những Mùa Thu Đi, lần ấy ông nhạc sĩ cũng đi chung. Nói cho rõ thêm, việc can thiệp nầy là do ông bạn (đã chết Mậu Thân) còn tôi chỉ tình cờ đi theo.

Trước và sau vụ gạo nầy, cha tôi thật sự là homeless, nghĩa là ông chỉ lo đâu đâu ngoài đời. Ông tom góp mọi thứ trong nhà để lo cho tuần lễ đồng, tuần lễ vàng. Mẹ tôi mất sớm nên chị lo cơm nước cho mấy em.

Chị tôi gánh những gánh củi xuống chợ bán, lúc chợ ế phải gánh rong quanh Bến Ngự bán cho những người cùng thời với cha tôi. Sau chiến tranh họ vẫn còn làm chủ tiệm vàng, tiệm xe đạp, quán giải khát (buvette), chủ bàn ping pong, chủ tiệm tạp hóa  v.v…Con cái của họ xưa kia cùng đi học bây giờ áo quần bảnh bao không rách vá như chị. Không ai nhìn. Riêng chỉ có ông bà Viên Lang nhận ra, mời ăn cái bánh và chén nước. Dĩ nhiên những người như mụ Giá quét chợ thì trò chuyện huyên thuyên như ngày xưa vô nhà xúc gạo về ăn.

Nghèo chẳng có gì đáng khen hay đáng trách. Nhưng cái hay của cảnh hàn vi là nó giúp mình không có phương tiện sách hại ai. Đó là trường hợp của chị tôi. Chị tôi dốt, không biết thiền là gì và cũng không biết bát văn cửu vạn (bài bạc) là gì, không biết điều khiển 16 ông tướng qua bốn vùng chiến thuật xanh đỏ trắng vàng trong bộ bài tứ sắc. Chị không biết thập ngưu đồ của thiền học. Chính chị không biết đời mình là một ngưu đồ, suốt đời tận tụy và âm thầm nghiền ngẫm sự việc chung quanh như trâu nhai lại.

Tôi tin tưởng cuộc đời vô cầu, vô tạo, vô lụy đã cho chị tôi một sự ra đi nhẹ nhàng. Vào nhà thương khám bệnh định kỳ, đột nhiên hôn mê và từ giả mười giờ sau. Đây là một ví dụ, một trường hợp cụ thể của triết lý Đông Phương, đến từ hư vô và trở về với hư vô hay nói khác chẳng đến chẳng đi. 82 tuổi đời, mà e chừng đã có gần 70 tuổi đạo, đạo vái lạy kẻ nghèo đói, đạo chắp tay lạy người.-
(Bài đầu tiên của blogspot nầy)



Tuesday, August 18, 2026

chó đẻ, đẻ ra chó

 


  cây chó đẻ

 

chó đẻ * đẻ chó

Tôn Thất Tuệ

Nơi tôi ở đã ướm thu; một thứ cỏ thu đã mọc nhiều tiếp theo rau càng cua. Đó là cây chó đẻ, một loài thân thảo, cao trung bình 40 cm, lá như lá me, dưới lá có dãy hột tròn như cườm. Một thời pharmacy internet ngày nào cũng cây chó để trị đủ thứ. Nó có nhiều tên tùy hiệu ứng y dược nhưng tên đẹp nhất là trân châu thảo vì những hột cườm dưới lá xem như hột trai, hột bẹt (perle / pearl).

Chó cái mới sinh con thường ăn cây nầy. Cứ đoán mò cây nầy làm cho nhiều sữa hay trị các biến chứng, nhiễm trùng bộ phận sinh sản. Các bà mẹ VN thì ăn cây cỏ mực trừ băng huyết.

Nữ văn sĩ Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, một thời cộng tác đắc lực với web Hồn Việt và trang nhà của Việt Thường, cho rằng từ cây chó đẻ mà có tên gọi HCM chó đẻ. Bà giữ công trạng ấy cho Phan Khôi, đồng hương Quảng Nam. Nhưng giải thích của người có dòng nước mắt như sông Hàn cần bổ túc mới sáng ra được.

Bà Tuyền kể rằng vào năm HCM xuất hiện và được tung hô là cha già dân tộc, 1945 hay1946, Quảng Nam tự nhiên rộ cây chó đẻ, dân chúng xem đó là cây thuốc vì súc vật rất thính các dược thảo. Ai có trồng cây thì biết, mỗi năm một thứ cây phát triển mạnh gọi là rộ. Mà thời gian ấy bệnh cũng khá nhiều, chiến tranh đi đôi với bệnh tật là chuyện thường. Nhiều người đã hái cây chó đẻ ăn sống, luộc, đâm lấy nước uống v.v…Lòng tin là thuốc trị bệnh tốt nhất, họ tin cây chó đẻ có sức trị bá bệnh.

Học giả Phan Khôi bèn gọi cây thuốc nầy là cây HCM hàm ý HCM là Hoa Đà, là Biện Thước cứu nhân độ thế.

Chừng một hay hai năm sau, Nam Ngãi nhiều người thuộc lòng bốn câu thơ:

Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi,

Chú khiêng tôi đến Chiến Khu rồi

Thi Đua cho lắm thua đi mãi

Kháng chiến lâu ngày khiến chán(g) thôi.


Không rõ của ai nhưng Phan Khôi được bàn vô bàn ra là tác giả. Trong bầu không khí hoài nghi mới, dân chúng gọi cây thuốc HCM là cây chó đẻ HCM với thâm ý dần dần có tên gọi chó đẻ HCM. Theo Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, Phan Khôi là tác giả cả hai tên ấy.

Chúng tôi chỉ nghe vậy, chứ không chắc PK ở chỗ nào. Theo Wikidepia, PK được mời ra Hà Nội 1945 tham chính và trở về Quảng Ngãi cầm đầu đảng bộ địa phương của Quốc Dân Đảng, không rõ lúc nào ra bắc lần nữa để năm 1954 về Hà Nội trước khi bị thanh trừng trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Ông vẫn hoạt động với chính quyền CS thì sao gọi HCM là chó đẻ.

Nhưng cứ xem PK khai sinh thành ngữ chó đẻ HCM thì PK khá giảo hoặc, từ cái tên thần thánh y dược đến chó đẻ loài do con chó đẻ ra.

Lắc léo nầy cũng như lắc léo của Trịnh Cung đối với Trịnh Công Sơn. Trên trang nhà của TCS, Trịnh Cung vui mừng mang ơn TCS vì TCS mà ông ở lại, tuy có đường đi. Về sau TC, trong bài gởi ra hải ngoại, nói rằng vì TCS mà ông ở lại để chịu những thiệt thòi, tuy có đường đi. Phần chính của bài là tố cáo Đinh Cường đủ tư cách đại diện chính quyền CS cấp chứng chỉ cho người nầy người kia thuộc thành phần không chống đối CS.

Ngoài lối hàng hai, TC không có đường đi. TC ở cạnh nhà tôi, chiều 29 Nguyễn Thượng Hiệp lái xe jeep chở tôi và TC đi tìm đường mà không có. Khi hôm sau Dương Văn Minh đầu hàng, tôi và TC mỗi người đứng ở cửa nhà mình, TC cười chua chát. Việc đi hay ở của TC không do TCS mà ra.

Trở lại chó đẻ. Chó đẻ trong lời xỉ vả không phải là con chó mẹ mới sinh con. Mà là cái thứ được sinh bởi con chó cái.

Qua tạp chí Đại Học (Huế), Nguyễn Văn Trung mở thêm lối viết mới kết nạp triết lý và đời sống. Ông bắt đầu với Thanh Thúy; cảm nhận của người ngồi quán cà phê nghe Thanh Thúy qua dĩa hát, cũng như xem Thanh Thúy hát trong phòng trà. Hình như Thanh Thúy không hát cho người đi nghe mà hát vào hư không, rất lạnh lùng và áo não.

Lại có bài với đại ý thế nầy: giả dụ ông A mắng ông B mầy là thú vật, mầy là chó đẻ. Nếu ông B thành con chó thật thì ông A buồn lắm vì con chó đâu thấy cái sỉ nhục mà A muốn tròng vào cổ B. Nói khác, A lo sợ canh cánh B thành con chó; đến đền miễu cầu cho B sống mãi, không bị thần linh vặn cổ hay xe đụng, muôn năm ông B, không chết và không làm chó.

Nếu tôi là ông B thì tôi rất mừng vì có người cầu xin cho không chết. Mặc dầu ý hướng của A không thiện mà rất ác, tôi vẫn được sống bền. Đúng vào trường hợp kẻ cướp cầm dao vào nhà hăm dọa, bị cảnh sát đến phải tẩu thoát, thả lại con dao, chủ nhà đem xài tự nhiên.

Bài thầy Trung, tôi không nói láo, nói láo ông táo xé áo, mụ táo xé quần, lòi khu lòi đít, cảnh sát phạt.

Tôi không bao giờ gọi ai là chó đẻ. Nếu cần tôi sẽ nói: bạn là thứ người đẻ (que tu sois mis au monde par une personne humaine / that you be born by a human being). Con người ớn lắm, nay quốc gia mai cộng sản. Như ông Trịnh Cung đem TCS ra làm cục kê mà nói nhân nghĩa tình đời hai chiều. Nhưng ớn nữa là không gì ra gì, không như Nguyễn Đắc Xuân nói rõ vị trí của mình là mặt trận, là CS.

Con chó đẻ há; đụng con nó là nó cắn thấy mồ, nó không núp dưới những bộ áo dày: đi cải tạo, vượt biên, gia sản bị kiểm kê, cha bị CS giết như Phạm Tuyên con Phạm Quỳnh, con theo đạo Thiên Chúa làm dâu rể nhà đại Cần Lao.

1945 người Nhật buôn bán phải chờ Nhật đổ bộ mới đeo lon vào. Ngày nay lắm kẻ tiêu lòn xin CS xức dầu thánh để được nổi danh, để kiếm chút cháo … thịt bò, cháo cá Chợ Cũ. Tôi nào chống cộng, tôi chỉ chống gậy. Tôi chỉ thay đổi chỗ ở (lời của Phạm Duy).

Chống cộng ồn ào không ai nghe; chống cộng tế nhị thì cô đơn cũng không ai nghe.

Thà làm chó đẻ hay hơn đẻ chó: đẻ những lời ngụy biện bịp đời, đem cả Trời Phật Thánh Chúa nói lời điêu ngoa xiêng xẹo. Xin lỗi chó, vì thiếu chữ phải dùng thành ngữ “đẻ chó”; xin lỗi chó lần nữa, vì chó hiện thân của lòng trung thành.-

==========================================================


===============================

Wednesday, August 12, 2026


Mong Manh

Tôn Thất Tuệ

Em sẽ đến một vùng đất rất lạ
lá đổ vàng sau tháng hạ không mây
những mùa thu em gọi suốt tháng ngày
nay đã đến nơi hàng cây đỏ úa.

Em chưa thấy sắc thu nơi bờ dậu
vì quê ta mưa nắng có hai mùa
nhưng tiếng vọng thu về không cần dấu
thấm xuyên lòng khi em nghĩ đến tình ta.

Này em ơi, nơi vùng đất lạ
em nghe chăng tiếng thu về ngoài lối ngõ
lá xạc xào hay tiếng bước ai lại tìm nhau.
Em nghe chăng tiếng thu về ngoài lối ngõ
dáng bâng khuâng tay áo gió nâng niu
che thẹn thùng đưa tin ngày anh đến.

Anh đau đớn nghĩ đến ngày gặp lại
anh tầm thường anh sợ
phút chia ly thêm đau đớn
như ngày kia xa làng lên tỉnh học
bóng đa rậm ôm chân thời bé bỏng
như tim em cầm giữ bước chân anh.

Chẳng mấy chốc rừng huyên trút lá
đứng nín thinh tĩnh lặng bốn bề
em nào ngỡ thân anh thành hạt tuyết
đến thăm em khi ngày đông dừng bước
đọng trên cành ngủ đỗ giá băng
rồi theo gió ra về chiều ngắn ngủi.
Chiều mong manh
đời mong manh, hạt tuyết mong manh.

Linh hồn tan giữa trăng sao Serenade, Schubert, Thái Hòa, Nguyễn Hoàng Đô



Monday, July 27, 2026

 


KỶ NIỆM TUỔI THƠ BÊN BÀ NỘI
Nguyen Jenny [FB Ngày Mới 27.7.2026]

Sáng hôm ấy tôi dậy thật sớm, vệ sinh cá nhân, ăn sáng thay quần áo vì một lát nữa sẽ có người đưa tôi ra phi trường bay về Huế sống với bà Nội tôi.
.
Cũng không phải chờ lâu, chú Bình bạn rất thân của Cha tôi đã đến đón.
Mẹ tôi muốn đưa tôi ra phi trường, ngồi bên tôi đứa con gái bé nhỏ ngày nào giờ đây sắp rời xa vòng tay mẹ. Tôi cảm nhận được sự đau xót mà mẹ đã cố gắng kềm nén để không bật thành tiếng khóc và cũng để tôi an lòng ra đi. Bàn tay mẹ nắm lấy tay tôi siết chặt, một tay ôm quàng lấy tôi như muốn truyền hơi ấm cho tôi, trước khi tôi rời xa vòng tay của bà.
.
Bầu trời hôm ấy không trong xanh như mọi ngày mà xam xám u buồn, ông trời cũng cảm động khi nhìn thấy sự chia lìa của hai mẹ con tôi. Tôi như chú chim non đang rời khỏi tổ, giang đôi cánh nhỏ chấp chới bay trong đơn lẻ…
Chiếc xe tiến vào cổng Long Vân, bất giác mẹ ôm tôi thật chặt, tôi thấy có giọt nước mắt nóng rơi trên má mình. Lúc ấy tôi muốn òa khóc, nhưng vội nén lại vì tôi nghĩ tôi phải can đảm lên, không thể khóc, tôi phải cố gắng vui để mẹ yên lòng. Chiếc xe đã dừng trước cửa vào. Tay mẹ xách vali nhỏ của tôi, cũng không có gì nhiều, thêm cái áo len vì nghe nội nói Huế đang mưa dầm, trời rất lạnh.
.
Chú Bình cho xe vào chỗ đậu và tất tả chạy đến. Tôi ôm lấy mẹ, mẹ dặn tôi ngoan ngoãn nghe lời nội. Tôi nhìn mẹ mĩm cười gật đầu, tuyệt đối không khóc. Mẹ tôi nói với chú Bình đôi lời, ôm hôn tôi và nhìn theo tôi đi cùng chú lên chiếc Cessna L-19. Chú đưa tôi bay ra Huế.
Tôi nhìn xuống bóng mẹ vẫn còn đứng dưới phi trường mắt dõi theo đứa con gái vừa xa rời vòng tay yêu thương của mình. Bất chợt nước mắt chảy, tôi quay đi lau vội … tôi không muốn ai nhìn thấy tôi khóc, tôi phải cứng rắn lên vì giờ đây tôi không có mẹ bên cạnh mình.
.
Ít lâu sau tôi rơi vào giấc ngủ vì có lẻ đêm qua tôi cứ nôn nao mà giấc ngủ đến với tôi chập chờn không thẳng giấc.
.
Máy bay đã an toàn hạ cánh ở phi trường Phú Bài. Chú Bình đưa tôi tới nhà ga phi trường nơi mà bà nội và chú tôi đang chờ.
Chú giao tôi cho nội và nói lời tạm biệt. Chú phải bay về Nha Trang, ôm tôi xoa đầu và dặn dò tôi phải ngoan nhé… rồi chú rời đi.
.
Thành phố Huế đón tôi với cơn mưa dầm lạnh lẽo … mưa rơi trắng xóa cả không gian. Nội mặc áo lạnh vào cho tôi. Cảm giác ấm áp tràn đầy, tôi ngồi sát vào bà, gục đầu vào lòng bà và một lần nữa tôi lại nhẹ nhàng rơi vào giấc ngủ …
.
Trong ký ức tuổi thơ tôi, những ngày tháng sống bên bà tại mảnh đất cố đô luôn là khoảng thời gian bình yên và hạnh phúc nhất.
Giờ đây, dù bà đã đi về miền miên viễn… nhưng mỗi khi nhớ về, lòng tôi lại trào dâng một cảm giác ấm áp đến lạ kỳ.
.
Nhà nội tôi là một ngôi biệt thự rộng lớn nằm ngay trong lòng thành phố Huế, nổi bật với một khu vườn ngập tràn hương sắc.
Nơi đó hội tụ biết bao loài hoa tuyệt đẹp như hồng, cúc đại đóa, trà mi, ngọc lan và trúc đào. Nhưng có lẽ, ấn tượng nhất trong tôi vẫn là những cây ăn trái sai trĩu quả. Cứ mỗi đêm xuân, hương hoa thanh trà lại tỏa ra nồng nàn, len lỏi từ ngoài vườn vào tận trong nhà, ướp hương cho cả giấc ngủ của tôi.
.
Trong vườn có cây thanh trà cho trái tròn lẳn, vỏ mỏng, mọng nước và mang vị ngọt thanh tao.
Cạnh đó là những cây sầu riêng, trái chín thường rụng vào ban đêm, tỏa ra mùi thơm nức mũi.
Tôi còn nhớ vài cây ổi xá lị trái to sần sùi nhưng ngọt và giòn tan.
.
Thuở ấy, tôi thường thoăn thoắt leo lên cây hái trái, chỉ cần chùi sơ qua áo là đã có thể cắn ăn một cách ngon lành.
Phía sau nhà nội nhìn ra là đồng ruộng bao la, nơi những thảm lúa xanh mơn mởn dập dìu theo gió, mịn màng và mượt mà như những dải lụa nhung.
.
Vì mồ côi cha từ năm lên bốn nên tôi được đón về sống với bà nội. Chính vì hoàn cảnh ấy, tôi trở thành đứa cháu được hết mực cưng chiều.
Mọi tình yêu thương của nội, của các cô, các chú đều gom hết lại để bù đắp cho tôi.
Ngày đó, nội đi đâu tôi cũng là cái đuôi nhỏ lăng xăng bám theo sau.
.
Kỷ niệm vui nhất của tôi là những buổi chiều xách cần câu, móc con trùn hổ ra bờ ruộng câu cá rô. Thấy tôi ham thích, bà nội kêu chị Sâm ra chợ mua cho tôi một bộ nồi niêu nho nhỏ bằng đất sét để chơi trò nấu ăn.
.
Chị Sâm là cháu họ ngoài làng, đã vào ở với nội tôi từ nhỏ nên rất mực thương tôi. Những con cá rô tôi câu được đều được chị Sâm giúp đánh vảy, làm sạch và khía sẵn. Tôi liền sang bếp xin nước mắm, đường, bột ngọt, tiêu để tự tay làm món cá rô kho tộ.
Tôi còn xin thêm ít gạo sạch cho vào chiếc nồi đất nhỏ, rồi gắp vài viên than hồng từ bếp chính ra để tự nhóm bếp cơm của mình.
Tất cả những món tôi chơi ngày ấy đều là đồ thật, nấu thật và ăn được thật, khiến trò chơi con trẻ trở nên vô cùng sống động.
.
Mùa hè ở xứ Huế vốn nổi tiếng với cái nóng gay gắt. Để giải nhiệt, bà nội cùng vợ chồng cô ruột và chú tôi thường thuê một chiếc ghe lớn để cả nhà ra ngủ đêm giữa dòng sông Hương.
.
Khi màn đêm buông xuống, không gian trên sông lồng lộng gió, mát rượi và sảng khoái vô cùng. Thú vị nhất là cảnh những chiếc thuyền bán hàng rong chèo lướt qua, cặp sát vào ghe của chúng tôi để bán đủ thứ món ngon lành như: bún bò Huế, bánh canh, cơm hến cho đến chè đậu ván, chè đậu ngự, chè hột sen. Vốn mê bún bò Huế, tôi lúc nào cũng háo hức chờ đợi món ăn này.
.
Sau khi ăn xong tô bún có chút xíu ớt để bắt chước người lớn hít hà cho vui, tôi lại được thưởng thức thêm ly chè bột lọc bọc thịt quay hoặc chén chè đậu ván đặc ngọt bùi, thiệt thơm.
Giữa không gian gió sông mát lồng lộng… tôi ôm chặt lấy tay bà nội rồi ngủ một giấc ngon lành.
Huế khi mùa mưa đến, những ngày mưa dầm, trời lạnh cắt da cắt thịt. Những lúc như vậy, chị Sâm hay làm món ruốc kho với thịt ba chỉ. Tôi thích nhất món này, nên cứ mỗi khi ngửi thấy mùi ruốc thơm nồng đưa ra từ căn bếp là tôi lại tự giác ngồi vào bàn ăn ngon lành mà không cần ai phải kêu cả.
.
Thuở đó, nhìn những cơn mưa cố đô rả rích, từ ngày này qua ngày khác, tôi cảm nhận được cái mùa mưa xứ Huế buồn “vô hậu”. Khi nớ, tôi vốn chẳng hiểu câu "buồn vô hậu" nghĩa là chi cả, nhưng cái miệng nhỏ cứ thích bắt chước điệu bộ của bà nội, lâu lâu lại nhìn ra trời mưa trắng xóa mà thốt lên một câu như rứa...
.
Tuổi thơ của tôi là những tháng ngày trôi qua êm đềm, ấm áp và hạnh phúc trong tình yêu thương của bên nội.
Giờ đây, khi lật lại những thước phim ký ức, tôi thầm cảm ơn những ngày tháng được sống trong vòng tay bảo bọc, chiều chuộng của bà. Đó chính là hành trang hạnh phúc nâng bước tôi đi suốt cả cuộc đời.
NJ 27/7/26

                        buồn vô hậu

Tôn Tht Tu


Nơi tôi chiu nay mưa như Huế
khí hu khô nên không khn kh như ngoài kia.
Hơn thế na
cơm ngày ba ba tm ra hai ln
có cái áo dày hơn bao b
mt đồng thôi cũng đủ m qua mùa.
Kinh Di Đà vn còn như xưa nơi Thun Hóa
Như th ngã văn nht thi Pht ti Xá V quc *
Pht nói gì nghe l quá đi
x ca Pht đất bng như rung lúa
nhà bên nhà gm ph màn hoa
người quên đói vì theo hương ca gió
ca không khóa.
K Pht quc độ thượng vô ác đạo chi danh
hà hung hu thit.**

Mưa như mưa chiu kia ngoài x Huế.
Kinh Di Đà lôi ra đọc quán McDonald
Nếu trn gian không đem tin mua súng đạn
thì sá gì nhà gm vi châu sa,
trường tr rng nhà thương thơm hơn mít.
Nhưng thy Pht là tôi bun vô hu
Pht sinh ra nơi chn ác ôn
Chúa hin thân nơi người xem nhau thua con chó.
i mưa ơi, chiu nay bun vô hu,
Bun vô hu nên để lng bài thơ.
 
* Tôi nghe như vầy, một thời Phật tại nước Xá Vệ...
** Nơi xứ Phật, không có danh tự chỉ tội ác, huống là tội ác thật.

Monday, July 20, 2026


Thay đổi địa chỉ

Bà Nguyễn Thị Minh Lệ, phu nhân của thầy Võ Văn Dật (nhà văn Võ Hương An) đã từ giả San Jose ngày 01 thg 07, 2026 đến trú sở mới trong vùng quản nhiệm của Phật Di Đà. Nơi nầy: vô tam ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt; trì trung liên hoa đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang ... vi diệu hương khiết.*

Đã gần ba năm nay từ khi biết chị Dật đi đứng khó nhăn, tôi đã cầu nguyện hằng ngày cho anh chị bình yên, trong mục cầu nguyên cho thân hữu.
Nếu thầy là cha thì tôi và chị Lệ là sister and brother; chi Lệ con thầy Nguyễn Đình Hàm, người thầy cao quý nhất đời tôi.


* Thế giới Cực Lạc không có danh tự gọi các việc ác, huống là có tội thiệt; trong đầm hoa sen to như bánh xe, màu xanh chiếu ra ánh sáng xanh, màu trắng chiếu ra ánh sáng trắng; hương thơm diệu vợi.




CÂY ĐỘC [không trái; gái độc không con] 
Nguyên Thảo

Lần nào tôi về Huế, người đón đầu tiên cũng là O. Người đứng tiễn sau cùng, khi xe đã lăn bánh ra khỏi ngõ, cũng là O. Như một cái hẹn không ai nói ra, bao năm rồi chưa từng trật.
O là con ông nội thúc, ở lại giữ nhà từ đường họ Kim Hoàn làng Kế Môn. Làng nhỏ nép bên sông Bồ, năm nào đến 27 tháng 2 âm lịch là khói hương lại quyện vào tiếng đục, tiếng chạm. Ngày giỗ tổ, ai đi xa mấy cũng ráng về, thắp một nén nhang rồi lại vội đi. Chỉ có O là ở lại.
Trong họ ai cũng kể, hồi con gái O đẹp nhất nhì Kế Môn. Da trắng như bông bưởi đầu mùa, tóc đen quá lưng, cười một cái là mấy anh thợ bạc đánh rơi cả cây dũa. Mười tám tuổi O lấy chồng, gả qua bên kia phá Tam Giang. Ba năm sau, người ta trả O về. Chỉ một câu gọn lỏn:
“Cây độc không trái, gái độc không con”.
O ôm gói áo cũ, lội qua phá mà về. Rồi ở vậy luôn.
Căn nhà từ đường ấy không phải của O, nhưng O giữ. Sân rộng mà lá rụng nhiều. Ngày nào cũng nghe tiếng chổi tre O quét sân, xào xạc như tiếng thở dài. Bàn thờ tổ lúc nào tro cũng còn ấm. O nói: lửa ni phải giữ, lửa tắt là họ tàn.
Ngày giỗ tổ, sân đông không thể tả. Người từ bốn phương đổ về, trong nước ngoài nước, áo quần tươm tất. tiếng cười nói rộn như phiên chợ Tết.
O đứng nép bên cây cột, cười hiền. Ai O cũng nhớ, đứa nào đậu đại học, đứa nào ly dị, đứa nào giàu to, đứa nào vỡ nợ... Vậy mà không ai hỏi O sống ra răng.
Giổ xong, mọi người lại lần lượt ra về, sân từ đường vắng hoe. O lại lẳng lặng ra khép cổng. Một mình.
Có đêm trở trời đau lưng, O nằm nghe mưa Huế gõ trên mái ngói âm dương, dầm dề. O đưa tay sờ bụng mình, bụng phẳng, lạnh ngắt. Hồi trẻ O thèm một tiếng kêu mạ đến phát điên, thấy con nít là phải quay mặt đi, sợ nhìn lâu rồi hóa ác. Rồi giờ O hết thèm. Hay O tưởng mình đã hết thèm.
O không nuôi con. O nuôi thứ khác. O nuôi căn nhà từ đường, nuôi ngọn đèn dầu không để tắt, nuôi mấy chậu kim tiền ngoài sân xanh quanh năm mà chẳng trổ hoa.
Người ta bảo cây không trái là cây độc. O nghe rồi chỉ cười:
Đàn bà không con ngày xưa họ cũng kêu rứa.
Mà O nghĩ: Cây không trái thì cho bóng mát. Không con thì giữ nòi. Mỗi người một kiểu nối dõi chứ.
O tiễn tôi ra xe. Gió sông Bồ thốc lên, ngọn đèn trong nhà từ đường chao một cái. O lật đật chạy vào châm thêm dầu.
Bóng O in lên vách, một mình, dài và mỏng
Xe lăn bánh. Tôi ngoái lại nhìn, cái bóng cây độc ấy cứ xa dần, xa dần…
Cỏ
(trích từ FB Nguyên Thảo)