add this

Thursday, February 5, 2026

Tết là gì?

 



Tết Songkhan Thái Lan

Tết là gì?

BS. Nguyn Hy Vng

Tết không phải do chữ Tiết của Tàu mà ra.

Tết là tên riêng [nom propre] gọi ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở khắp miền đông nam Á, còn tiết chỉ là một tên thường [nom commun] của Tàu gọi những thời tiết thay đổi trong một năm.

Chỉ có người Việt gọi là Tết, trong khi cả ngàn triệu nguời Tàu gọi ngày đó là 'duỳn tản [nguyên đán] hay là xin nển' [tân niên]. Vậy tại sao họ không gọi là Tết ? vì Tết không phải là tiếng của họ.

Giờ ta hãy trở lại với cái tên gọi là Tết.

Cách hợp lý để tìm cho ra nguồn gốc và ý nghĩa của chữ Tết là đi tìm trong tất cả các ngôn ngữ khác nhau ở miền nam Á châu, xem thử có ngôn ngữ nào cũng có cái tên là tết và cũng có cách phát âm, cách đọc, cách nói và cũng có nghĩa là ngày lễ ăn mừng đầu năm không, dù cho tiếng ấy không phải là tiếng Việt hay là tiếng Tàu.

Nếu không có thì đành vậy chứ sao! Vậy mà có đấy mà lại có rất nhiều và rất giống nhau gần y hệt, các bạn ơi !

Thật ra từ xưa, con người xưa ở miền rộng lớn Đông Nam Á biết đuợc là cứ đều đều mỗi năm thì mùa gió đổi chiều và đem lại mùa mưa khoảng tháng tư tháng năm, tùy theo từng vùng gió mùa, trước hết là từ bờ biển phía tây của lục địa Ấn Độ, rồi chuyển dần qua ngang vùng đất Ấn Độ rồi tiếp tục lan qua phía đông đến lần lượt các xứ Bangladesh, Assam, qua Miến điện, (Myanmar bây giờ) rồi thổi qua Thái Lan, Lào mà đến Việt Nam, rồi tiếp tục cùng lúc lên phía đông bắc là vùng Hoa Nam bên Tàu và xuống phía đông nam là 15. 000 hòn đảo của Indonesia.

Ấn Độ, lễ mừng mưa mới
Cách đây cả chục ngàn năm, con nguời ở vùng gió mùa mênh mộng ấy đã gọi tên là Tết cho hiện tuợng trời đất gặp nhau qua mùa gió này và họ ăn mừng lúc giao mùa đó bằng tên là Tết, vì ai mà chẳng biết là không có mùa mưa đến thì kể như không trồng trọt gì được, huống chi là là trồng lúa.

Đông Nam Á là vùng của gió mùa mưa, mùa của mấy chục triệu con trâu, của mấy trăm triệu con người sống với cây lúa, nơi mà những hạt lúa oriza sativa đã đựợc tìm ra từ 6000 năm trước [tài liệu của William Solzheim, đại học Hawai].

Gió mùa và mưa mùa là quyết định trọng yếu của đất trời cho con nguời ở Đông Nam Á. Khi mưa gió không thuận hoà thì hạn hán và đói kém sẽ bao trùm, cuồng phong và lụt lội sẽ tàn phá hàng trăm ngàn mẫu ruộng lúa và giết hại hàng ngàn người. Nông nghiệp và sự sống còn của hàng chục triệu nguời hoàn toàn tùy thuộc vào ân huệ vừa phải của mùa mưa đến hàng năm trên phần đất mênh mông này !

Gió mưa đầu mùa là hứa hẹn của năm mới, của một đời sống mới, được chờ đợi khoắc khoải và đón mừng hân hoan, và triền miên có mặt trong mọi lãnh vực tin tuởng, huyền thoại hay tâm linh, và thực tế của đời sống hàng ngày của nguời đi cày đi cấy, cũng gắn liền với bao nhiêu tin tưởng đó.

Trên những trống đồng từ ba ngàn năm trước, mấy con ếch, cóc nhái, ễnh ương ệnh oạng nằm chồng lên nhau, mỗi góc trống ba con, như một ám ảnh không ngừng về mùa mưa, về ruộng đồng ao hồ sông nuớc, về bất cứ mảnh đất nào mà cây lúa có thể mọc lên.

Biết bao nhiêu ca dao tục ngữ, bài vè nói về mùa mưa, về lúa gạo về ếch nhái và về ngày Tết trong tiếng Việt.

Nepal, lễ cấy lúa đầu mùa mưa
Ở xứ Nepal bên đông bắc Ấn Độ, ngày lễ đầu mùa mưa cũng gọi là Teetj ; trong mấy ngày đó, dân bản xứ ăn mừng, ca hát, nhảy múa, đánh đu, uống ruợu, tạt nuớc vào nhau để chúc mừng, chúc lành cho nhau, chúc Teetj. Chung quanh xứ Nepal như ở Sikkhim và Bhutan, dân ở đó cũng gọi ngày đầu mùa mưa là Tiitj.

Bên Miến điện và Thái Lan thì tha hồ xịt nuớc tạt nuớc nhau ướt mèm vào ngày đó.

Năm 1986 tôi qua học tiếng Mon bên Thái, gặp ngày lễ Song khràn, ngày tết âm lịch cổ truyền của dân Thái xưa, có nghĩa là giao mùa, trùng với mùa lễ Têj, vào 13 đến 15 april của năm dương lịch, bị một cô nguời Thái ở đền Nakhon Pathom lén bỏ một cục nước đá vào cổ áo sơmi của tôi nó lọt vào xuống lưng lạnh ngắt, cô ấy cười xin lỗi và nói là muốn chúc tết bất ngờ cho tôi theo kiểu tạt nuớc vào nhau của họ !

Người Lào Thái còn gọi ngày ấy là 'wan pi may', ngày năm mới.

Người dân Kampuchia thì gọi ngày đó là "thngày chul thnăm chmây", ngày vào năm mới [trong lịch cũ của họ thì họ gọi tháng giêng là khae Chêt, tháng tết].

Người Chàm thì gọi là bulan Chit, tháng tết.

Các dân tộc mạn ngược ngoài Bắc Việt, cũng như nhiều dân tộc miền núi ở Trung Việt vẫn có ăn mừng hội mùa mưa, hội ngày mùa còn lớn hon cả hội mùa xuân [theo tài liệu của Nguyễn văn Huyên ; "Les chants alternés des garcons et des filles en Annam, 1934 ".

Kể từ khi Tàu đô hộ Giao Chỉ cách đây 2000 năm, người Giao Chỉ không còn ăn tết vào tháng tư tháng năm của lịch Muờng xưa "lịch ngày lui tháng tới " đó nữa mà ăn Tết theo lịch Tàu, mà lịch Tàu hồi xưa thì cũng " bất thùng chi thình ", khi thì ngày đầu năm của Tàu rớt vào tháng chạp, khi thì nhằm vào tháng giêng của họ, và sau nhiều thay đổi, mới gọi là ngày "duỳn tán xin nển" của họ, chứ Tàu không gọi ngày đầu năm của họ là tiết nhật bao giờ.

Mưa lụt Bangladesh


Chỉ có vài ông Hán Việt "chợ chiều" khư khư cố mà tìm cho ra đuợc một cái âm huởng tàu cho tiếng Tết, nên cố tình guợng gạo mà ép cho nó là tiết , cũng như họ đã giải thích kiểu " tầm phào " là Giao Chỉ là ngón chân giao nhau, thật là nói tàm bậy !.

Lạc là chim lạc, ghe chài là ghe tải ! xem Lê ngọc Trụ [trời đất !].

Sau đây là những cognates, từ đồng nguyên, khắp Đông Nam Á, dính líu với TẾT.

** Alexandre de Rhodes: Tết Tết năm [sic], Tết ai, ăn Tết.

** Từ Điển Khai Trí Tiến Đức: không hề cho rằng Tết là tiết của Tàu.

** Nùng: Tết. niên Tết là năm Tết.

** Mường: Thết ăn Thết là ăn Tết

** Thái : Thêts Lễ mừng năm mới [New Year celebration].

Thêts khal là Mùa Tết, những ngày Tết.

Thêts Thày là Tết Thái [Thai New Year's celebration].

Thrếts là Tết [theo Từ Điển Francais-Thái của Pallegoix].

Thrếts Chìn là Tết Tàu / Chinese New Year [Chìn là Tàu].

Chêtr là Tết của Thái [fifth lunar month / mid April festival].

Tết / Đết là tên ông thần mưa [rain god, monsoon deity].

Trôts là lễ hội Thái từ xưa vào đầu mùa mưa, cuối April-May.

Trốts Farăng là Tết Hoa-Lang [Western New Year's Day].

** Zhuang: Xit / Sit là lễ Tết của 20 triệu người Zhuang bên Quảng Tây, nói tiếng Tai, tiếng Thái xưa !

'đuon sít' là tháng Tết [mois de festival célébrant la mousson].

** Chàm: Tít là lễ tháng năm của lịch xưa Chàm [tháng gió mùa bắt đầu thổi] băng Tít là ăn Tết. Chêt là Tết. bu-lăn chêt là tháng Tết [

Ktêh là lễ lớn nhất trong năm của người Chàm.

** Mon: Kteh là Ngày đầu năm của dân tộc Mon ở Myannar.o-Teh là lễ lội bùn đầu năm.

o-Tet id

k-Tât là nghi lễ đầu năm.

k-Tet id

** Khmer: Chêtr là Tết, lễ mừng tháng năm theo cổ lịch Khmer, là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á. [tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm].

khae Chêtr là tháng Tết [khae là tháng] khoảng 13 tháng 4 dương lịch, khoảng 23 tháng ba âm lịch. Chêtr khal là thời gian có lễ Tết [khal là thời gian].

** India: Chêtr là tên tháng tư và tháng năm của cổ lịch Ấn Độ, tên của tháng giao mùa đem mưa đến. [mois du début de la mousson].

** Nepal: Teej là lễ đầu năm của dân xứ Nepal.

** Mustang: Tidj / Tidji là lễ đầu năm của xứ Mustang, bên cạnh xứ Nepal, đông bắc Ấn Độ.

** Munda: Teej là hội Gió Mùa, các nữ sinh ca hát những bài hát cổ Teej, để đánh dấu Gió Mùa trở lại và sự hứa hẹn thịnh vượng.[National Geographic magazine].

** Kinh Lễ Ký: Tế-Sạ !   [âm Hán Việt là Tế Chá]. Khổng Tử nói [trong kinh Lễ Ký]: " Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ lớn của bọn người Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó. Họ gọi tên cho ngày đó là "TẾ SẠ". ".

Khổng Tử không nghĩ rằng " tiết " là cái âm sinh ra Tết, nên ổng mới phiên âm khác đi là Tế-Sạ. Hơn nữa, xem trên, có cả chục ngôn ngữ và nền văn hóa khác với Tàu. Ăn mừng ngày đầu năm của họ mà vẫn mang những cái tên mà ý nghĩa, phát âm, cùng cách nói và cách đọc đều giống với cái âm, cái tên, cái tiếng Tết của dân Giao Chỉ và của dân Mường, nên ta phải " suy nghĩ lại " về cái hiểu lầm Tết là Tiết của các ông " Hán Việt " hơn mấy trăm năm qua.

Như vậy, tết là tên gọi ngày ăn mừng đầu mùa mưa và sau này trở thành ngày ăn mừng đầu năm âm lịch luôn của các dân Mường, Nùng, Thái, Zhuang, Chàm, Mon, Khmer, Vùng đông bắc Ấn độ, Nepal. Mustang, Munda.

Hỏi nhỏ bạn, bạn có còn cho rằng Tết là Tiết của Tàu mà ra không ? ./-

* * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *

May xưa, mai sơ

Tôn Tht Tu

Một học giả Huế nghiên cứu những danh từ đặc thù Thừa Thiên nói rằng chữ "may xưa" phải do chữ Tàu mà ra. Đó là mai sơ, và định nghĩa là buổi sáng sớm. Ông được chúng tăng đề cao là học giả tài ba chưa từng có ở Đế Đô.

Tuy chỉ là gà què ăn quẩn cối xay, chúng tôi xin phạm thượng có ý kiến bất đồng.

Ngoại trừ những từ điển hiếm không ai có thể tra cứu, những từ điển online hiện nay về Hán Việt, không chỗ nào giải thích "mai" là buổi sáng.

TĐ Hán Việt Thiều Chửu ghi rõ "triêu" là buổi sáng 

♦(Danh) Sớm, sáng mai. Như: chung triêu 終朝 từ sáng sớm đến lúc ăn cơm sáng xong, xuân triêu 春朝 buổi sáng mùa xuân. Triêu dương 朝陽. Mặt trời ban mai, mặt trời mới mọc. Tương tự: húc nhật 旭日Tương phản: tịch dương 夕陽.

Chữ "triêu'' nổi tiếng bên Tàu qua câu thơ của Lý Bạch (Tương Tiến Tửu):

Quân bất kiến

Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi !

Hựu bất kiến

Cao đường minh kính bi bạch phát,

Triêu như thanh ti mộ thành tuyết. ** tóc buổi sáng còn xanh chiều đã trắng bạc.

Như vậy “mai sơ” không có trong Hán Việt. Về thời gian, sơ chỉ những ngày mồng, sơ tam sơ tứ, nguyệt mông lung. Sơ chỉ lúc thời gian mới có: hổn mang chi sơ Bàn Cổ thủy xuất vị phán âm dương; không thấy nói chi buổi mai. Hơn nữa, theo cách dùng thông thường, tĩnh từ Hán tự để trước như sơ mai nếu cần, sơ giao, sơ phát, sơ đồ.

Vì nhu cầu hướng Trung (sinocentric) các tác giả đã phải bày ra một chữ Hán để dựa vào cho hợp đạo lý ngôn ngữ vua tôi. Vì hướng trung mà rau tập tàn được khai sinh từ bụng mẹ "thập toàn"; nhưng may thập toàn có chữ.

Cho dù có chữ, "mai sơ" chưa nói lên cái hên xui, mua mau bán nhanh của các hoạt động thương mãi lớn nhỏ. Danh từ nầy chỉ nói đến thời gian.

Bàn về tiếng Việt nhất là phần nói thì phải chú ý đến nhu cầu nhịp điệu. Nhu cầu nầy đã sinh ra nhiều thành ngữ kỳ quái và vô lý nhưng hiểu được rất nhanh. Ví dụ trong mùa khô ráo nứt da, khi bạn hỏi 'mấy bữa nay nơi bác ở có mưa không?,  một trong những câu trả lời là: mấy bữa nay có mưa nắng gì đâu. Có quá nhiều nắng đi chứ, không có mưa. Người Việt thường thêm nhiều chữ tạm gọi là âm, vì thích nhịp điệu và vì tiếng mình độc âm không khéo thành cộc lốc. Ví dụ thời nay là "tiếng Anh tiếng u" của tôi nhiều lắm chỉ nói bằng tay. Với kinh nghiệm nầy, chúng ta có thể nghĩ rằng xưa kia các bà bán hàng nói: may sớm (cái may mua bán rất quan trọng) và thêm may sớm may sưa. Ngay cả chữ say thường thêm say sưa (sưa không nghĩa gì).

Tiếng Pháp không nhiều nhưng vẫn có những chữ vô nghĩa, có khi tương phản gọi là explétif. J'aime à chanter les mélodies d'opéra italien. 'À' thừa và nguy hại vì động từ aimer cần túc từ trực tiếp nhưng vì nhịp điệu mà thêm vô; do đó khi chuyển qua thể nghi vấn thì không dùng nó vì sai vận: aimez-vous chanter?

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng đã rất nhiều lần lên tiếng chuyện hướng trung đã tạo ra biết bao sai lạc. Trong một bài rất dài ông đã chứng minh chữ Tết không có gì Tàu, học giả VN nhất quyết do chữ tiết mà ra. Nhà ngữ học Thừa Thiên nầy không sợ mất lòng: vài ông Hán Việt "chợ chiều" khư khư cố mà tìm cho ra đựợc một cái âm hửởng Tàu cho tiếng Tết, nên cố tình guợng gạo mà ép cho nó là tiết. Trường hợp "tết' không khác gì hai chữ "mai sơ", nhưng khá hơn, Tàu có chữ "tiết" mà không có "mai sơ".

Đó là lý do chúng tôi chép lại bài về chữ Tết của BS Nguyễn Hy Vọng.

Tuesday, January 27, 2026

chắp tay lạy người



sông Bồ, Huế; ảnh Ngô Lễ
chắp tay lạy người

Tôn Thất Tuệ • 2012

Chị tôi sinh 1930 Canh Ngọ vừa qua đời trước Tết Con Rồng 2012, một ngày trước khi ông Táo về chầu trời.

Chiến tranh Việt Pháp 1946 đã đưa anh chị em tôi vào tình trạng các bạn cứ tưởng tượng như bỗng dưng con cái ra đường sống cuộc đời vô gia cư, homeless. Chị không đi học tiếp mà sống nơi nhà thờ họ ngoại với ông trưởng tộc nghèo, chung nhau tìm cách sống qua ngày. Rồi chị cũng lớn lên sống với nhà chồng gần Đàn Nam Giao. Còn nhớ ông cha chồng có nói với dì tôi: Thưa bà Lãnh (chồng lãnh binh), nếu không có sự đảo lộn thì làm sao tôi có thể đến nhà bà xin cưới dâu.

Hão huyền xã hội ấy không phải là điều tôi muốn ghi lại. Điều chính yếu muốn nói là nhờ những đổi thay xã hội ấy, chị tôi vì nghèo, ít học, đã không làm gì có thể hại ai, mắng chưởi ai, tống tiền, cho vay cắt cổ, gạt gẫm, kể cả không có dịp làm những sai lầm ngoài ý muốn như phạt tù kẻ vô tội. Chị tôi hay cúi nhìn xuống đất, nghĩa bóng và đen. Chị luôn hất cục đá vô lề, lượm những cành gai, những mẻ chai mẻ sành, đinh… sợ người ta đạp què giò.
Thỉnh thoảng chị gánh xuống chợ Bến Ngự bán những sản phẩm nhà vườn. Nghe ghê quá. Nhưng chỉ có: một trái mít non, một mụt măng tre pheo, vài mụt măng cán giáo, mươi trái vả, vài bó chè xanh, trái thơm non.

Quan trọng và đầy màu sắc là cái ngãu ớt mọi, ớt tím, ớt chìa vôi, còn xanh còn hườm theo thị hiếu ở Huế. Khi nào trời thưởng, thì có thêm nhúm nấm mối mọc dưới lá tre mục, hoặc vài ba chục tai nấm mèo phơi còn ẩm.

Mấy thứ ấy không nặng bằng một thùng nước nên chị kèm theo năm bảy bó củi. Mấy bó củi nầy đầy tính chất phấn son, tô phết. Bên ngoài là những liếp gỗ mỏng trắng tươi từ thân cây dương liễu; bên trong đủ thứ tầm khào, kể cả nhánh vông gai xốp. Chẳng che dấu lường gạt ai được nhưng cái đẹp cũng câu khách, có giá vậy. Quanh xóm ai cũng nghèo, cho nên không thể mua đi bán lại, có chi bán nấy. Tường trình đầu tiên khi ở chợ về chỉ có hai chữ hoặc “gạo hơn” hoặc “gạo thua”. Đến nay tôi chưa hiểu vì đâu có hai thuật ngữ ấy, gạo hơn là giá hạ, gạo thua là giá cao; tạm hiểu cùng một số tiền, thua là bớt gạo; hơn thì thêm một chút.

Nhưng gạo đã làm chị bận tâm một cách khác vào tuổi đôi tám (1945). Hơn mười năm trước, tôi có về Huế lo dời mồ mã tổ tiên bị giải tỏa khu núi Ngự Bình. Tôi chẳng đi đâu, ngoài công việc chính yếu trên. Tôi lẩn quẩn trong vườn và tìm gặp những thứ chị mang đi bán như nói trên. Cây chè đã lão hóa, thân hình cổ quái như những cây bonsai. Mấy cây mít chỉ có trái lèo tèo như quả bưởi, nằm trên cao, chúng có cái tên không đẹp nhưng rất thông dụng ở Huế là mít đọt. Mấy bụi thơm có trái chín như hồi nhỏ người lớn hay đố, mặc áo điều áo đỏ ngồi chỏ hỏ sau nương. Cây vả xưa đã chết, mới trồng cây con.

Chiều hôm trước ngày tôi trở lại Saigon, hai chị em ngồi yên lặng dưới giàn hoa. Bỗng nhiên chị tôi nói: Ba rất kính trọng người ăn mày.
Đến đây các bạn sẽ hiểu vì sao tôi nói chị bận tâm về gạo. 1945 thì chị đã 15, tuổi ta là mười sáu đôi tám là đúng rồi, tuổi đủ để nhớ và biết nhiều. Chị nói vào kỳ đói, gia đình tôi nấu cháo từng nồi lớn, mỗi người đi qua được mời một tô cháo trắng. Chị múc và cha tôi hai tay dâng bát (cái đọi) cháo rồi vái lạy người người ăn. Mỗi người chỉ có một tô, đi quanh đi quất đâu đó trở lui ăn nữa nhưng ăn liền tô thứ hai thì không được. Của ít người nhiều.

Tôi chưa bao giờ chứng kiến cảnh đãi cháo ấy; có lẽ nấu đâu ngoài chợ vì nhà tôi ở trong kiệt. Nhưng tôi nhớ mồn một cha tôi mua nhiều gạo lắm (trẻ con thì thấy gì cũng to cũng nhiều). Tự nhiên cái chái trước thành chỗ cao chỗ thấp cho tôi nhảy lên nhảy xuống. Chị phải lo đem gạo cho bà con tận Cồn Hến, có khi qua đò nước lụt rất ghê sợ.

Năm đó cha tôi đi buôn gạo với bác Thanh, tức là cha của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tôi còn nhớ bác Thanh có đến nhà tôi một lần. Sau hồi cư tôi có thấy bác vài lần trên xe Vespa trước khi bác chết vì tai nạn xe cộ trên đường từ phi trường Phú Bài về Huế. Tôi không hiểu số gạo để tại nhà để đem cho bà con lối xóm hay nấu cháo có phần của bác Thanh hay không. Tuy vậy tôi luôn nguyện hồi hướng công đức cho bác Trịnh Thanh. Việc nầy tôi nghĩ TCS cũng không biết; cũng như không biết sự quen biết giữa cha tôi và cha của ông. Tôi không quen biết TCS; chỉ có một lần tôi đi cùng với một người bạn vô Bộ Thông Tin yêu cầu Ban Kiểm duyệt thông qua bài Nhìn Những Mùa Thu Đi, lần ấy ông nhạc sĩ cũng đi chung. Nói cho rõ thêm, việc can thiệp nầy là do ông bạn (đã chết Mậu Thân) còn tôi chỉ tình cờ đi theo.

Trước và sau vụ gạo nầy, cha tôi thật sự là homeless, nghĩa là ông chỉ lo đâu đâu ngoài đời. Ông tom góp mọi thứ trong nhà để lo cho tuần lễ đồng, tuần lễ vàng. Mẹ tôi mất sớm nên chị lo cơm nước cho mấy em.

Chị tôi gánh những gánh củi xuống chợ bán, lúc chợ ế phải gánh rong quanh Bến Ngự bán cho những người cùng thời với cha tôi. Sau chiến tranh họ vẫn còn làm chủ tiệm vàng, tiệm xe đạp, quán giải khát (buvette), chủ bàn ping pong, chủ tiệm tạp hóa  v.v…Con cái của họ xưa kia cùng đi học bây giờ áo quần bảnh bao không rách vá như chị. Không ai nhìn. Riêng chỉ có ông bà Viên Lang nhận ra, mời ăn cái bánh và chén nước. Dĩ nhiên những người như mụ Giá quét chợ thì trò chuyện huyên thuyên như ngày xưa vô nhà xúc gạo về ăn.

Nghèo chẳng có gì đáng khen hay đáng trách. Nhưng cái hay của cảnh hàn vi là nó giúp mình không có phương tiện sách hại ai. Đó là trường hợp của chị tôi. Chị tôi dốt, không biết thiền là gì và cũng không biết bát văn cửu vạn (bài bạc) là gì, không biết điều khiển 16 ông tướng qua bốn vùng chiến thuật xanh đỏ trắng vàng trong bộ bài tứ sắc. Chị không biết thập ngưu đồ của thiền học. Chính chị không biết đời mình là một ngưu đồ, suốt đời tận tụy và âm thầm nghiền ngẫm sự việc chung quanh như trâu nhai lại.

Tôi tin tưởng cuộc đời vô cầu, vô tạo, vô lụy đã cho chị tôi một sự ra đi nhẹ nhàng. Vào nhà thương khám bệnh định kỳ, đột nhiên hôn mê và từ giả mười giờ sau. Đây là một ví dụ, một trường hợp cụ thể của triết lý Đông Phương, đến từ hư vô và trở về với hư vô hay nói khác chẳng đến chẳng đi. 82 tuổi đời, mà e chừng đã có gần 70 tuổi đạo, đạo vái lạy kẻ nghèo đói, đạo chắp tay lạy người.-

Saturday, January 17, 2026



FLEXIBLE REALISM
ngoại giao thực tiển uyển chuyển

Linda Kinstler • New York Times Jan 9, 2026


Sau vụ đột kích bắt Maduro, phụ tá của Trump, Stephen Miller tự nhiên thoải mái trình bày quan điểm của WH khi trả lời phỏng vấn của CNN: Chúng ta sống trong một thế giới hiện thực được cai quản bởi sức mạnh, bởi vũ lực, bởi quyền lực. Đó là luật sắt từ khi có thời gian.
Những lời ấy phản ảnh trung thực lời của Trump sau vụ bắt vợ chồng Maduro dẫn độ về Mỹ. Ông nói tác vụ nầy có nghĩa rằng luật sắt đã quyết định thành hình uy quyền toàn cầu. "Tôi không cần luật quốc tế." 
Hôm sau, ông tuyên bố: HK không cho phép một cường quốc nào tước đoạt quyền lợi của dân chúng Mỹ, đẩy HK vào xó kẹt hay ra khỏi bán cầu nầy. Trong chiến lược an ninh quốc gia mới, việc HK thống lãnh Tây Bán Cầu không còn ai thắc mắc hạch hỏi". Như vậy muốn tái lập sự thống lãnh nầy, HK sẽ làm sống lại chủ thuyết Monroe từ năm 1823.
Kỷ yếu National Security Strategy* công bố cuối năm 2025 nêu ra một danh tự mới định danh một trong những nguyên tắc căn bản của chính sách đối ngoại: đường lối hiện thực uyển chuyển (flexible realism). HK sẽ thực hiện hòa bình bằng sức mạnh, không can thiệp, bảo vệ chủ quyền của các quốc gia. Tài liệu nầy tái xác nhận sự thống lãnh của HK ở Tây Bán Cầu.
Theo kỷ yếu nầy, không có gì mâu thuẩn hay hay sai quấy trong hành động đối ứng một tệ trạng hay hợp tác với các chính thể không dân chủ, nếu phục vụ quyền lợi quốc gia. Đọc hết tài liệu ngắn nầy, chúng ta sẽ thấy thế giới quan của HK; ấy là Tây Bán Cầu là vùng vô cùng quan trọng của HK; và đó là một thế giới quan thực tiển.

Trump họp báo, Miller đứng bên cạnh

Trường phái thực tiển nầy không tin vào tiềm năng một thứ luật pháp quốc tế có thể cưởng ép các quốc gia hành sử tử tế, có trật tự; trái lại thế giới là một khối bất khả trị. Trong khi giới học thuật cho rằng chủ thuyết thực tiển là công nhận thế giới nó là như vậy, cần chấp nhận thì Trump và quần thần xem thực tiển là một cách vẽ lại bản đồ thế giới để tránh tiếng chủ nghĩa đế quốc Mỹ, là lời biện hộ cho các hành vi bạo lực.
Chủ thuyết Monroe được dùng như căn bản lý thuyết của trường phái thực tiển nầy. Nguyên khởi chủ thuyết nầy viết ra giấy nhằm ngăn chận các nước Âu Châu thuộc địa hóa Tây Bán Cầu, rồi được dùng trong thế kỷ 20 như một công cụ biện minh các sự can thiệp quân sự của HK. HK đã nại lý thuyết nầy để năm 1941 chiếm Greenland để đảo nầy không mất vào tay Hitler. Từ ngày đó đến giờ HK vẫn có quân đồn trú ở đấy, và ngày nay Trump muốn dùng tiền lệ trên để đòi sáp nhập Greenland bằng mọi cách.

Chính phủ Mỹ đã làm cuộc "thí nghiệm lớn", do đó đã đổi thay nền ngoại giao. Bộ trưởng QP Pete Hegseth nói: HK đang đánh dấu một kỷ nguyên mới với chủ trương hiện thực, cương nghị, cứng như đồng. Đường lối hiện thực dựa trên luật của sức mạnh nay là chính sách chính thức của HK; và việc đột kích bắt Maduro là một sản phẩm áp dụng.
Hải quân HK ngoài khôi Venezuela

Ursula Leyden, chủ tịch Liên Âu nói rằng Âu Châu cần nhận chân một thực tế của thế giới ngày nay và ứng xử thích đáng. Ngoại trưởng Singapore nói rằng trật tự quốc tế đặt trên luật lệ nay đã chuyển vào thời đại thế giới chia thành từng khối chi phối bởi các đại cường. Trump không mô tả thế giới như hiện thực mà ông đã tạo ra một thế giới mới.

Sau Thế Chiến 2, chủ trương hiện thực đã là khung sườn suy nghĩ về bản chất của chính trị. Sự thất bại của Cộng Hòa Weimar, của Hội Quốc Liên và sự diệt chủng Do Thái đã làm cho một thế hệ học giả chính trị học - gồm có Hans Morgenthau, Paul Nitze, Henry Kissinger và Reinhold Niebuhr -  đi đến kết luận rằng tại căn bản chính trị không thuần lý và rằng quốc gia nhà nước từ trong cốt tủy không phải là một năng lực làm việc tốt lành. Các học giả nầy đã xây dựng một triết lý quan hệ quốc tế trên quan niệm rằng chính trị đại cường là một thực thể sống.
Lối suy nghĩ thực tiển ấy chiếm vị thế hàng đầu suốt Chiến Tranh Lạnh, lúc HK và Liên Xô là hai thế lực bá quyền kình chống nhau. NATO thành hình là phản tác thực tế mối đe dọa hạch nhân của Nga Sô. Sau khi đế quốc Nga sụp đổ, chủ thuyết hiện thực không được ưu ái như xưa vì thế giới bước vào giai đoạn chỉ có một cực duy nhất.
Tuy có danh xưng gần với thuyết thực tế của HK, các nhà realists thực tế hơn và hòa bình hơn. Các cường quốc phải biết giới hạn của mình về tài nguyên, về chính trị trong vùng, về nguồn nhân lực. Việc dùng quá độ sức mạnh với kẻ yếu sẽ đến thảm họa. Xưa Athens đã dùng và Hy Lạp đã lụn bại mất uy thế nhường địa bàn cho đế quốc La Mã. Gần hơn nữa, HK đã phung phí không có kết quả ở VN, Iraq, Afganistan.

Kỷ yếu National Security Strategie chỉ là bộ mặt mới, viết thành văn đường lối ngoại giao can thiệp, bắt đầu từ thời Roosevelt với quan niệm an ninh quốc gia thay quan niệm quyền lợi quốc gia. Tài liệu nầy mang hình thức một bạch thư, nói rõ đường lối ngoại giao chính thức của chính phủ đương thời. Nếu ngừng ở chỗ nầy thì tạm yên. Nhưng sẽ tạo nên nhiều hậu quả nếu dùng làm phương tiện biện giải mọi hành động thái quá theo châm ngôn xưa của Hy Lạp: "kẻ mạnh có thể làm bất cứ điều gì và kẻ yếu chỉ có việc chịu đựng".

Sunday, January 11, 2026

nữ tổng thống Venezuela



Bom lửa trên đường phố thủ đô Venezuela 2014

Ở SAO CHO VỪA LÒNG NGƯỜI
New York Times Jan. 10, 2026


Năm ấy, đường phố Venezuela (Venez) như bốc lửa vì biểu tình phản đối nền cai trị phi nhân. Các đơn vị bán quân sự và lực lượng an ninh đã sát hại ba bốn chục người. Năm ấy 2014, Delcy Rodriguez (DR) tổng trưởng ngoại giao, đã mời các đại sứ đến họp để giải độc, lật ngược tin tức, hầu tránh cấm vận.
Trong buổi họp kín nầy, DR đã mắng mỏ đại sứ HK và Liên Âu, bà chỉ tay nói: những người bị hạ sát không phải là kẻ đi biểu tình mà là bọn khủng bố. Cử chỉ đấu tranh ấy đã giúp bà thăng tiến trong chính phủ dưới quyền thống trị của các đấng nam nhi, các tướng lãnh hay các nhà ý thức hệ hét ra lửa.
Bây giờ với sự chấp thuận của Donald Trump, DR xử lý thường vụ ngôi vị cao nhất của Venez, khi tiền nhiệm của bà cùng vợ bị bắt, ra tòa ở New York. 
DR, 56 tuổi, đang gặp cuộc thách thức rộng lớn. Bà phải làm yên lòng một ông tổng thống sẽ cai trị Venez trong ba bốn năm sắp đến; ổn định một nền kinh tế rách nát, kiểm soát cơ cấu chính quyền, giữ vững uy quyền điều động giới thân cận đang hận thù HK nhảy vào tiếm quyền.
Bà phải dùng lối ngoại giao võ biền mới vừa lòng Maduro hầu giữ các chức vụ quan trọng để sau đó hành sử thực tiển. Kết quả bà đã sống sót qua các lần thanh trừng nội bộ và đổi thay chính địa mới nhất. Sự chuyển hóa từ một lý thuyết gia ý thức hệ gây dựng chế độ sang một chuyên gia uyển chuyển là kết quả của cố gắng lôi Venez dần dần ra khỏi sự sụp đổ kinh tế đánh dấu bởi trẻ em chết đói. Đồng thời, kết quả ấy giúp DR trở thành nhân vật có thẩm quyền chuyên môn đảm trách quốc sự trong thời gian chuyển tiếp nầy, với sự thỏa thuận của HK.
Ngoài bằng cấp ở Anh và Pháp, bà còn hưởng quy chế trong nước là con của một du kích quân mác xít đã thành "thánh tử đạo" chết trong tù, thời có chính phủ thân Mỹ.
Nhờ chức vụ ngoại trưởng, DR đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hướng ngoại giao mới với HK năm 2017 khi Trump bắt đầu nhiệm kỳ thứ nhất. Cigco Petroleum, chi nhánh tại Mỹ của công ty quốc doanh dầu hỏa của Venez, đã biếu Trump 500.000 đô vào quỹ tổ chức lễ nhậm chức.
Có dưới quyền một đoàn cố vấn nội địa và ngoại quốc, DR hưu chiến với giới doanh nghiệp trong và ngoài nước. DR nhanh chóng và thầm lặng tư hữu hóa các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cho các nhà đầu tư ngoại quốc thầm lén điều khiển các giếng dầu, xưởng làm xi măng, mỏ sắt...

Delcy Rodriguez ở trụ sở LHQ, 2013
Cho đến lúc cuối khi Maduro bị bắt, DR vẫn nói năng trước công luận ngôn ngữ chống đế quốc của chủ tướng. Nhưng một tuần sau vụ đột kích, bà tuyên bố đang tìm cách bình thường hóa liên hệ ngoại giao và gởi một phái đoàn đến HK.
Những cố gắng trong quá khứ của DR đem lại nhiều kết quả. Siêu, siêu lạm phát đã ngưng, phát triển kinh tế bắt đầu, đã đưa DR lên đĩnh cao danh vọng chính trị ở Venez.
"Chúng tôi đã tái hoạt nền kinh tế từ đủ loại hổn tạp", cố vấn Rafael Correa đã nhận định. Vị cựu phó tổng thống khuynh tả của Ecuador nầy ở trong ban tham mưu của DR từ 2018, ông là kinh tế gia tốt nghiệp tại Mỹ. Trong mấy năm qua, Venez có tỷ số phát triên cao nhất ở Nam Mỹ.
Trước khi bị bắt, Maduro đã giao trọn quyền kinh tế cho DR, bà cũng là phó tổng thống, tổng trưởng tài chánh, tổng trưởng dầu mỏ.

DR và Marudo 2017
Bây giờ nhà lãnh đạo mới nầy trực diện một thách thức khó tả, làm sao vừa thỏa mãn những yêu sách của Mỹ đồng thời hóa giải các áp lực nội địa. Theo lời Trump, DR luôn liên lạc với ngoại trưởng Rubio. Sau vụ đột kích, DR khôn khéo nói: "Venezuela là một nước yêu chuộng hòa bình, đã bị tấn công bởi một cường quốc nguyên tử".
Nhưng với trách nhiệm mới, DR thực tế sẽ ưng thuận cho các công ty HK đặc quyền khai thác trữ lượng dầu.

Lúc DR 7 tuổi thì cha chết. Jorge Antonio Rodríguez là một kháng quân mác xít, tổ chức bắt cóc William Niehous, một doanh nhân Mỹ ở Illinois. Thập niên 1970 ông lãnh đạo nhóm đấu tranh vũ trang; Maduro gia nhập. Ông chết trong tù năm 1974 về tội bắt cóc trên. Khi cha chết, DR tiếp tục sống trong những cơn bão xoáy chính trị trong xứ dân chủ nhưng chia làm hai phe tả hữu có những chính sách cực đoan riêng. 

biểu tình ủng hộ Maduro
Tốt nghiệp đại học Caracas, DR học luật lao động ở Sorbonne. Khi từ Pháp trở về, DR thấy xứ sở đang co giật, uốn vặn trong cơn đau chính trị.
Hugo Chavez lên nắm quyền, đẩy mạnh phong trào XHCN, gọi là Cách mạng Boliviar. DR gia nhập ngoại giao đoàn và làm việc tại tòa đại sứ ở Anh, dịp nầy bà theo lớp chính trị học ở Birkbeck College. Nhờ có hai thứ ngoại ngữ, DR đã nổi bậc giữa các viên chức cao cấp chỉ biết tiếng xì.
Thời gian DR từ Paris về, cha bà được tôn sùng là thánh tử đạo của cách mạng. Được hưởng lây, anh của bà đã làm cố vấn cho Chavez rồi thành phó tổng thống trước khi thành chủ tịch quốc hội cho đến nay. Như vậy, giờ nầy anh giữ lập pháp, cô em gái hành pháp.

Khi Chavez chết và Maduro thay, DR lên như diều nhờ sự che chở của người anh, đồng thời vì bà đã âm mưu loại các đối thủ, có người phải đi tù. DR thành công nhờ hiểu biết chuyên môn, hùng biện, nhờ trợ giúp các cố vấn có chủ trương thị trường tự do. DR vừa chỉ định một người trong nhóm làm tổng trưởng tài chánh.
DR không có con và chưa bao giờ kết hôn. Tuy được nuôi dưỡng thành công giáo La Mã, DR theo một giáo phái Ấn Độ mà đạo trưởng là Sri Sathya Sai Baba, đã hành hương tại tiểu bang Andhra Pradesh. Vợ chồng Maduro cũng theo ông guru nầy.-


Saturday, January 10, 2026

năm tháng rã rời ...

Tĩnh Vật, Hoàng Nguyên Thạch

NĂM THÁNG RÃ RỜI NHƯ CÁNH CỬA
Nguyễn Thiên Ngân 2022

Thoáng chốc mà kìa đã hết năm
Cánh đào năm trước chửa tàn xong
Bài ca xuân cũ còn chưa tắt
Khói còn tha thiết tỏa mù sông.

Kìa ai vai cứng sần như đá
Đã thản nhiên quen chuyện gánh gồng
Chiều nay ghé mặt soi gương nước
Mắt buồn như đựng chín dòng sông.

Kìa ai vai mỏng gầy như lá
Đường chẳng ai về chung gió mưa
Mảnh trăng xanh buốt cài trên tóc
Tri kỷ đâu ai bảo em chờ…

Kìa ai cay mắt mà quên khóc
Hẳn mất nhiều hơn có thể ngờ.
Kìa ai trống rỗng, thân phiêu hốt
Chắc còn trong túi ít câu thơ?!

Năm tháng rã rời như cánh cửa
Hết mở ra thôi lại đóng vào
Ta có cuộc đời ta sấp ngửa
Trùng ngộ cuồng say với ly tao.

FB Trích Diễm 31 Dec 2025



lý thuyết thiên hạ

Vua, thấy thuốc Thần Nông

LÝ THUYẾT QUỐC TẾ THIÊN HẠ
Tianxia as Anticosmopolitan Theory
Liam C. Kelley (Lê Minh Khai)

Trong mấy chục năm rồi, ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Cộng gia tăng quá mức trên địa bàn thế giới khiến một số học giả tìm kiếm những lý thuyết mới về bang giao quốc tế. Mục đích là để thay thế trật tự thế giới của Tây Phương, thứ trật tự cũ nầy không những đã chủ trì cạnh tranh giữa các quốc gia mà còn đưa đến chủ nghĩa đế quốc, thực dân và chiến tranh. Nhiều tác giả đã bắt đầu hành trình mới nầy. Người ảnh hưởng nhiều nhất là Triệu Đinh Dương 趙汀陽.
Theo ông, truyền thống tư tưởng Tàu có rất nhiều ý niệm để phát triển thành một lý thuyết mới về bang giao quốc tế và điều hợp thế giới. Đó là thiên hạ thể hệ 天 下體系.

Danh tự nầy cho thấy sự khác biệt trọng yếu giữa hai quan niệm của Tàu và của Tây Phương.
Thế giới quan của Tây Phương bắt đầu với quốc gia nhà nước. Ví dụ trật tự Westphalie hay trật tự các nước tân thời dựng nên, không phải là một trật tự thực sự mà là hệ thống quyền lực toàn cầu, một hệ thống cạnh tranh trong đó quốc gia nầy đô hộ quốc gia kia, hậu quả là chủ thuyết quốc gia và chủ thuyết phân chủng.
Trái lại, theo ông Triệu nầy, viễn tượng "thiên hạ" mang tính chất thế giới, toàn cõi chứ không phải quốc tế (giữa vài nước với nhau), sẽ giảm thiểu sự chia cắt, phân vùng.
Lý thuyết thiên hạ như một hệ thống tư tưởng chưa có trong lịch sử nhưng lịch sử cung cấp những thành tố để xây dựng hệ thống nầy. Những yếu tô nầy đã nằm trong hai chữ thiên hạ. Thiên hạ có ba ý nghĩa chính:
• quả đất, toàn thế giới dưới bầu trời
• ý nguyện chung của mọi người, tức là dân tâm 民心
• một định chế tổng thể của thế giới, một điều vô tưởng, thế giới là một gia đình duy nhất và hòa thuận.

Triệu Đinh Dương không nói có một định chế tốt đẹp như vậy, định chế làm mọi người đồng thuận hết lòng chấp nhận. Nhưng ông đã dùng lịch sử làm căn cứ lập luận. Nói theo khoa học nhân văn, ông theo khuynh hướng giải thực (decoloniality). Theo lối suy nghĩ nầy, không những đã chiếm phần lớn thế giới vào cao điểm của chủ trương đế quốc, Tây Phương đã thi hành chủ trương bạo động có suy nghĩ dự mưu chống cả thế giới bằng cách áp đặt quan niệm chia rẻ về quốc gia, chủng tộc và giới tính. Các học giả phái giải thực lập luận rằng trước khi giao tiếp với Tây Phương, rất nhiều xã hội trên quả đất đã có những viễn tượng, những tầm nhìn đa dạng và hội nhập hơn Tây Phương. Những xã hội nầy nay cần giải thực bởi chính mình khỏi những mô hình tri thức mà Tây Phương áp đặt lên đầu.
Triệu Quân có khá nhiều người nghe theo khi ông đặt hệ thống thiên hạ đối kháng với trật tự thế giới mà Tây Phương đã dựng lên. Ông được ưa thích vì nói đường lối của Tàu hay hơn. Tuy nhiên những điều ông rút ra từ cổ sử làm căn cứ lập luận đã được giải thích lệch lạc.
Ví dụ vô ngoại  無外 được Triệu Đinh Dương xem là tính chất toàn cầu (worldness) của thiên hạ, không có cái gì ngoài thiên hạ; thiên hạ là thế giới, không có cái gì được quan niệm là to hơn rộng hơn thế giới, trong nghĩa thế giới là vũ trụ. Thiên hạ không có phân biệt chủng tộc, biên giới, thiên hạ là một gia đình, không có gì ngoài gia đình. 天下爲家而無外 thiên hạ vi gia nhi vô ngoại. 
Triệu Đinh Dương củng cố lý thuyết bằng hai tài liệu xưa.
Sách Độc Đoạn 獨斷 của Thái Ung 蔡邕 (133–192) có câu Thiên tử vô ngoại, dĩ thiên hạ chi gia 天 子無外, 以天下為家
và Hán Sử 漢書 có câu Thiên Tử dĩ tứ hải vi gia 子以四海為家.

Trong lối diễn dịch của Triệu Đinh Dương, thiên hạ là chủ thể, như một gia đình, ngoài gia đình không gì được quan niệm là có. Nhưng trong những tài liệu ông liệt kê, Thiên Tử là chủ thể cùng nhãn quan của chủ thể ấy. Thiên Tử thấy gì? không phải là thế giới mà là toàn dân và đặc biệt những nhân vật quan trọng giúp thiên tử cai trị vương quốc. Tác giả đã bỏ qua đoạn chính yếu trong chương Thiên Gia  天家, 百官小吏 之所稱, 天子無外, 以天下為家, 故稱天家 Thiên gia: bách quan tiểu lai chi sở xưng; thiên tử vô ngoại dĩ thiên hạ vi gia. [Thiên gia là danh xưng chung cho tất cả triều thần và quan lại. Đối với Thiên Tử ngoài ra không có gì nữa; Thiên Tử lấy thiên hạ làm nhà. Cho nên gọi là đại gia đình, thiên gia]. Thiên hạ không phải là thế giới, một không gian địa dư. Thiên Hạ là những người giúp vua cai trị, quan lại các cấp và nhà vua xem mọi người như nhau chung trong một gia đình.
Về câu trích từ Hán Sử, cần đặt lại trong hoàn cảnh lịch sử để hiểu chính xác, nó nằm trong chương kể việc xây cất kinh đô vào những năm đầu của Hán Triều. Khi thấy nhiều dinh thự tráng lệ (壯麗), Cao Đế 高帝 202–195 BCE bất bình la rầy thuộc cấp: thiên hạ vẫn còn bất an, còn nhiều kẻ chưa thần phục, tức là còn nhiều việc quan trọng hơn phải làm. Viên chức phụ trách biện bạch: thiên hạ chưa yên, chưa thần phục, cho nên lúc nầy là lúc cần xây các dinh thự nầy. Thiên Tử lấy bốn biển làm nhà. Vậy nếu cung điện không đủ to lớn thì không thể cho thấy uy quyền to lớn của vương triều (trọng uy 重威).




Wednesday, January 7, 2026

Tàu là Venezuela thứ hai?


Tập Cận Bình tiếp đón Maduro 2023

TÀU LÀ VENEZUELA THỨ HAI?
Li Yuan (Viên Lỵ ) •  New York Times Jan. 6, 2026

Vụ đột kích bắt Maduro đã làm dư luận trên internet Tàu sôi bỏng ngay từ phút đầu. 600 triệu cái nhắp chuột chia nhau hai khuynh hướng khác biệt.
• Vì sao Tàu không dám làm như vậy với Đài Loan, bắt tổng thống sở tại.
• Tại sao không phải là lão Tập Cận Bình thay cho Maduro?!
Một hình ảnh sao lại từ X đã bị kiểm duyệt. Đó là dòng chữ Tàu và Anh quẹt trên cửa một nhà vệ sinh công cộng: “We welcome Trump to capture Xi Jinping and free 1.4 billion Chinese people.” (mừng Trump đến tóm cổ Tập Cận Bình, giải thoát 1,4 tỷ người Hoa)

Quan điểm thứ nhất là của những người Tàu theo chủ thuyết quốc gia, nước Tàu phải thống nhất dưới sự lãnh đạo của Bắc Kinh. Hành động của Mỹ cho thấy không còn gì là luật pháp thì Bắc Kinh không việc gì tự giới hạn hành động. Hãy bắt tổng thống sở tại và thống nhất xứ sở. Bắc Kinh có thể làm nhưng không dám làm; khổ ở chỗ đó.

Quan điểm thứ hai cho rằng nước Tàu có đủ những yếu tố đưa đến thảm trạng Maduro: quản lý nền kinh tế tồi tệ sai lạc, ý thức hệ độc đoán một chiều, tôn vinh cá nhân. Bao nhiêu năm nay, Tàu đã đã hậu thuẩn Maduro tối đa về chính trị và tài chánh; nay thì thấy rõ là vô bổ, chẳng có ý nghĩa gì.
Venezuela chiếm một vị trí quan trọng trong tâm tưởng của Tàu. Bắc Kinh dùng Venezuela làm bằng chứng rằng Tàu có thể tạo dựng một trật tự toàn cầu mới thay cái cũ, dựa trên chủ quyền và hợp tác giữa các quốc gia mà không can thiệp nội bộ của nhau. Viễn tượng ấy có thể thành tựu nhờ tiền bạc. Đầu ngàn năm mới, Tàu đã cho Venezuela vay 10 tỷ dollar, trả dần bằng dầu mỏ.
Nghe có lý chứ. Tàu cần nhiên liệu; Venezuela cần tiền và hậu thuẩn chính trị. Truyền thông của chính phủ và các tuyên bố chính thức mô tả kết ước nầy thành công vì dựa trên thị trường. Hugo Chavez, tiền nhiệm của Maduro, nói rằng hợp tác nầy là khuôn mẫu cho các nước Nam Mỹ. Khi Chavez chết và Maduro lên thay năm 2013, Bắc Kinh vẫn hậu thuẩn như trước, dù Tây Phương áp đặt cấm vận nhiều hơn.
Khi nền kinh tế suy sụp thì không thể sản xuất dầu mỏ và các hạ tầng cơ sở hư mòn. Lấy gì trả nợ cho Tàu. Nhưng Bắc Kinh nói không sao, mọi việc đều tiến hành có trật tự. Năm 2023, Maduro đến Bắc Kinh Tập Cận Bình tiếp đón bằng một cuộc diễn binh, 21 phát súng đại bác và thiếu nhi ca múa.
Giới trí thức Tàu có tư tưởng tự do thường nêu rõ sự song hành giống nhau trong cách thức Tập và Chavez lên nắm quyền: chiến dịch chống tham nhũng, hứa hẹn kinh tế mỵ dân và hủy bỏ giới hạn nhiệm kỳ. Maduro tiếp tục đường lối bàn tay sắt của tiền nhiệm.
Trong lối suy nghĩ trên, Venezuela không đơn thuần là một tệ trạng ngoại giao mà trở thành một trường hợp nghiên cứu để biết điều gì sẽ xẩy ra một khi các thể lệ độc đoán đông cứng trì trệ, khi các định chế rỗng tếch, khi trung thành chính trị mù quáng thay cho khả năng. Câu hỏi của thời đại là: Phải chăng Tàu sẽ trở thanh một Venezuela?   
Trong mấy ngày vừa qua câu hỏi nầy trở nên sống động khi các web share qua share về một tiểu luận của học giả chính trị học Liu Y nhan đề: "Làm sao phá hủy một quốc gia". Bài nầy, viết trước khi có dịch cúm Corona, không xem Venezuela là một sự bất thường đột biến mà là một báo động, một di lụy kết tụ qua thời gian từ những thất bại trong việc điều hành quốc sự.
Mối lo âu trở thành Venezuela thứ hai đã gây tiếng dội hơn năm nay khi sự ngưng đọng kinh tế của Tàu đã được tìm thấy mang tính chất cơ cấu, chứ không có tính cách biểu kiến, bề ngoài. Người Tàu ưu lo vì sự thể hôm nay không phải là sự suy sụp bất ngờ mà là sự hủy hoại tiệm tiến, từng chút một. Venezuela tiêu biểu một quốc gia có các hệ thống ngưng hoạt động từ từ, thiếu hụt trở nên thường lệ, các hoạt động của quốc gia không được phục hồi đầy đủ bình thường.
Trong bối cảnh sâu rộng ấy, phản ứng trên mạn trước việc Maduro bị bắt chẳng phải là thất vọng hay vui mừng nhưng là một nhận chân thực tế rùng mình nhún vai trước cách thức các thế lực hành sử trên thế giới. Chẳng có phê phán đúng sai nhưng biết rằng các đại cường quốc hoạt động như nhau khi quyền lợi bị thương tổn.