add this

Sunday, October 18, 2026

dòng sông mắt thẫm

 

                    Amazon River
                          Amazone. 
Dòng Sông Mắt Thẫm
Tôn Thất Tuệ

Kìa cái tên quái dị đến bên người
tên trĩu dẻo ngoằn ngoèo như rắn
tên nhiều tay hóa phép nàng tiên
nào phải tên em với ngàn sợi tóc
tà áo xanh cuốn mãi trong chiều
sao lại đến trong đầu anh lạ quá:
Amazone, dòng sông dài bí ẩn

Anh ngẩn mặt lên trời xin giọt nước
của rừng mây trôi dạt phương nao
về một chốn dòng sông hùng vĩ
không tiếc gì hương gió cho ngàn rêu.
Con cá sấu nằm quên ngoài nắng
ngẫm nghĩ hoài câu thơ thuở nọ:
Hoàng Hà nước từ lưng trời
tuôn xuống bể không vời trở lại*
Anh ngâm theo:
Đài gương soi mái tóc
sáng như tơ mà chiều lại như sương.*

Amazone tên gọi của dòng sông
thân củi mục băng ngang ghềnh đá
ngẩn lên trời nhìn mây cao nhiệt đới
tụ muôn phương giọt nước khóc đời
thêm biển nước tràn dâng nguồn khơi mới.

Amazone nằm đâu em nhỉ
mà anh quen hơn cả dáng em đi
mà sông dài sâu m sông sâu
chiều xuống chậm đi theo dòng nước
ai thản buồn đếm tiếng bèo xanh.
Amazone nguồn khơi cuồng cuộng
chạy lên trời rồi lại biển khơi.
Những chiếc bách như bàn tay non dại
vẫn trôi hoài không thấy nỗi mong manh
khi cơn gió thổi xa bờ êm ấm
dáng dật dờ con nước nhửng ròng xuôi.

Amazone ở phương nào em nhỉ
trí óc anh mung lung mờ ảo
anh chỉ biết là dòng sông dài lắm
như dòng đời xoắn quyện vết tang thương
cũng có lúc hát vang bình minh sáng
nỗi u hoài móc trên ngọn lá dừa cong.

Này em hởi dạy giúp anh bài địa lý
ở nơi đâu anh tìm gặp Amazone.
Em nín thinh trong dòng sông mắt thẫm.
Ôi quý thay phút lắng yên ngà ngọc,
cả dòng đời trôi chảy cả dòng sông;
em ủ rũ lá dừa cong muốn khóc
em cười tươi bình minh ca ngợi.
Em khơi ngôi một nguồn khơi mới
như dòng sông ôm cả những dòng sông.-


                  *Lý Bạch

Tuesday, October 13, 2026

Nam ai, nam bình, Gia Long, Phú Xuan . . .

 




Nam ai, Nam bình, Nietzsche, Gia Long, Phú Xuân, v.v…

Tôn Thất Tuệ

Còn nhớ chừng 1953, 1954, Huế rộ phong trào đi biển Thuận An mùa hè. Xe đạp từng đoàn qua Đập Đá xuống Chợ Mai, Chợ Nọ v.v… đi đò qua phá rồi mới tới bãi biển, cắm trại dựng lều. Tuy chưa thành thời thượng, các nàng (bây giờ trên dưới 80) bắt đầu khoe cặp giò với áo tắm bain de soleil. Một lần tôi qua đò đã tối, trăng đã lên. Bến khá vắng, mà người đi phần nhiều là dân trong vùng. Một vị trung niên áo bà ba thay cô lái mà đưa người sang bến. Ông hò từ đầu chí cuối. Tôi nhớ được câu ni:

Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc

Địa sanh thảo hà thảo vô căn

Một mình em đứng giữa bọng thuyền dưới nước trên trăng

Biết ai vô đây mà trao duyên gởi nợ cho bằng thá gian?!

Tôi chưa đọc chưa nghe lần thứ hai. Nhưng tôi thích lắm. Nay tìm gặp trong bài diễn thuyết ở Saigon 1933 của Thái Nam Vân. Trước khi đọc bài nầy, tôi thương yêu câu hò đúng như tinh thần của Pierre Loti: Aime ce que jamais tu ne verras deux fois, hãy yêu thương những gì bạn không thể thấy hai lần.

Thái Vân Nam cho rằng những câu ca dao bắt đầu với những dòng chữ Hán chỉ có ở Huế.

Hai câu chữ Hán không hẳn được mượn chỉ để gieo vần; mà làm nền cho một nhân sinh quan không cao mà siêu, thấm thấu, như đạn xuyên táo, như mưa nguồn cây lớn cây nhỏ đều hút nước no đủ. Nhân sinh quan nầy là: em đứng giữa trăng và nước giữa trời và đất. Em cùng trời và đất trong thế chân vạc, vững như kiềng.

Âm vọng (écho) và tâm ý vọng (vocation) đều rộng lớn vì em còn nghĩ đến mọi người là thá gian (thế gian). Nhưng trong thá gian ấy, em chỉ sẽ trao duyên gởi nợ cho một người, chưa biết là ai mà không mâu thuẩn với ai cả, không đấu tranh giai cấp, không kèn cựa ý thức hệ. Nhưng em ngầm hiểu, người ấy miễn là người, không phải là ác quỷ mặt người, không phải là thiên thần quái dị.

Đồng thời em ở trong bọng thuyền, trong một khung cảnh thực tế như một ngôi nhà, như một xóm làng. 

Phần phụ câu ca dao nầy giúp tôi khá nhiều, làm tôi không bận bịu cần được người khác nhớ ơn. Nào có ơn gì đòi người ta nhớ. Những điều thế gian cho là việc lớn cho là giúp đỡ, như nhớ ơn lãnh tụ anh minh, đều là vô sở trụ. Nếu tôi biếu người khác 10 đồng, ấy là lộc của người ấy, là ân sủng thiên hựu, hay chính là thiện nghiệp quả của người ấy, còn tôi chỉ là người đưa thơ. Hà nhơn vô lộc là nghĩa nó như vậy. Hà thảo vô căn? Gốc rễ của tôi từ vĩnh cửu, như cây bầu nhà tôi có rễ tận Thanh Hóa.

Tôi nói quá nhiều vì mừng tri ngộ bài diễn thuyết của Thái Nam Vân, 1933, sáu năm trước khi tôi chào đời.

Tài liệu song ngữ nầy là kết quả thuyết trình Huế & ses Chansons tại trụ sở Hiệp Hội Giáo Chức Nam Kỳ (Société d’Enseignement Mutuel de Cochinchine) và được diễn giả dịch qua Việt Văn (Huế và Ca Dao Huế) để in thành sách mỏng (brochure) với 20 trang.

Thật khó lòng mà đoán mục đích tối hậu của bài diễn thuyết. Với những vị nhạy bén chính trị (au sens politique), Thái Nam Vân đưa ra một lời kêu gọi cho chủ trương quốc gia (nationaliste), khéo léo và bất ngờ tiếp theo sự mô tả lịch sử xứ Huế theo dòng lịch sử chung của Đàng Trong, tiếp theo sự trình bày chuyên nghiệp về âm nhạc xứ Huế. Nam ai là gì? Nam bình là gì? Đâu là mái đẩy, tứ đại cảnh, lưu thủy, hành vân….

Thái Nam Vân chú ý đặc biệt nam ai, như tiếng kêu bi ai, sầu thảm, phẩn nộ của một giống nòi đã chết (đừng hiểu là dân tộc Chàm) nhưng giống nòi nầy không muốn chết nữa. Vế thứ hai “không chết nữa” nằm trong nam bình (nam ng). Thái Nam Vân không cho nam bình tính chất hùng tráng như âm nhạc tây phương, ông cho nam bình là thái độ quân tử, hùng tráng ở nội lực hơn là diễn võ dương oai. Nam bình là một nhận chân sự thể đau buồn để rồi không buồn nữa mà hành động để không chết nữa. Thái Nam Vân cho rằng thái độ tích cực ấy tương ứng với “tinh thần Nietzsche” mà thanh niên sẽ chấp nhận để xây dụng một nước Việt mới.

Bài diễn thuyết chấm dứt với đoạn nầy:  Ce peuple se meurt, c’est un fait, et vous l’avez constaté dans le caractère de sa musique et de ses chansons. Ce peuple ne veut pas mourir, c’est un autre et vous pouvez l’observer autour de vous. Mais pour revivre d'une vie nouvellle, il a besoin de faire sien cet esprit nietzschéen … Cet esprit, j’espère bien que la jeunesse annamite présente l’aura, pas trop, mais suffisamment, pour bâtir l’Annam Nouveau.

[Dân tộc nầy đang chết đây, sự đó quý vị đã thấy trong điệu nhạc, tiếng ca dao. Dân tộc nầy chưa muốn tiêu diệt, sự đó quý vị cứ trông ngay vào chung quanh mình thì biết. Nhưng mà muốn sống lại cái đời mới, thì tôi tưởng phải có cái tư cách nietzschéen. Cái tư cách nầy, tôi rất mong là thanh niên ngày nay đều có, không nhiều lắm mà vừa vừa thôi, để đào tạo lên cái Tân Việt Nam vậy.]

Đoạn nầy cho phép nói Thái Nam Vân nêu lên một lời kêu gọi chủ nghĩa quốc gia. Thật vậy, buổi diễn thuyết xẩy ra trong thời gian không riêng VN mà cả ĐNÁ đang đặt vấn đề quốc gia, dân tộc và chủ quyền.

Người Huế tên Thái Nam Vân nói chuyện ở Nam Kỳ, ông không bị chia lìa theo tổ chức hành chánh thuộc địa trung nam bắc, vì đặt vấn đề dân tộc. Tuy đề tài là âm nhạc Huế, diễn giả nói rằng những thâm thúy tinh anh, những ước nguyện có chút khác biệt rất nhỏ về hình thức, là những đặc tính chung của dân tộc, của Trung Nam Bắc.

*** Hai mươi trang sách không nhiều lắm. Thái Nam Vân nhấn mạnh tính chất hữu tình êm dịu mà thiên nhiên đã cho đất Phú Xuân mà ông dịch là “Riche Printemps”. Ông đã trích dẫn rất nhiều sách sử, cho biết Huế xưa đã có một lịch sử đặc biệt, là một đế đô như chúa Nguyễn Phúc Khoát đã định danh cho nơi Đàng Trong làm thủ đô. Quân đội hùng mạnh, có thủy quân, bộ binh, tượng binh, có cung phi mỹ nữ, có văn quan, có võ quan.

Lịch sử xứ này đánh dấu bởi việc Nguyễn Hoàng cho lập tháp Linh Mụ, và kinh đô hình tượng từ khi Sãi Vương thiên đô từ Ái Tử Quảng Trị vào đây. Nhưng những kiến trúc đền đài ấy đều bị phá hủy khi Tây Sơn chiếm.

Đọc đến đấy, chúng ta có thể suy nghĩ thêm. Những cung điện đền đài ấy tốn kém công quỹ và tiền bạc của dân chúng. Trong Nam dẫu nhiều tài nguyên hơn vẫn chưa phát triển. Chúa Nguyễn Phúc Khoát xuất thân là một người khiêm nhường đã không chịu theo đề nghị xưng hoàng đế mà chỉ giữ tước vương như một chư hầu của nhà Lê.

Nhưng chúa đã để cho người bà con là Trương Phúc Loan lộng hành, đưa chúa vào đường ăn chơi bỏ bê chính sự. Trương Phúc Loan không cho con chúa là Nguyễn Phúc Luân, nối ngôi; Nguyễn Phúc Luân chính cha của Nguyễn Ánh. Nhờ thế yếu ấy mà anh em Tây Sơn đã chiếm toàn cõi. Chúa Nguyễn không những mất kinh đô Phú Xuân mà còn mất cả Gia Định, hậu cứ kinh tế xã hội quan trọng nhất.

Ở một điểm khác, Thái Nam Vân giúp chúng ta thấy nhiều sự kiện giải thích vì sao Gia Long có thêm lý do chọn Phú Xuân làm kinh đô. Tổng quát,  Phú Xuân là nơi Nguyễn Hoàng đã muốn làm đất cắm dùi để “vạn đại dung thân” phía nam Đèo Ngang (Hoành Sơn). Nhiều lần di đô, xa như từ Ái Tử, gần như Khuông Phò (Sịa) hay cả Kim Long.

Nguyễn Ánh lên ngôi 1802. Đến năm 1818, một thuyền trưởng người Anh tên Rey được yết kiến. Trong hồi ký, Rey kể lại lúc ấy Huế vẫn còn là một vùng điêu tàn. (La ville capitale n’est qu’un amas de ruines). Thật vậy, chiến tranh, hận thù đã phá hết; Nguyễn Huệ không cần phải tái thiết vì Nguyễn Huệ đã có ý định lập kinh đô ở Nghệ An.

Gia Long đã vận dụng óc sáng tạo để xây kinh thành ăn nhịp với nét hài hòa của thiên nhiên; phát triển các vùng phụ cận. Khuôn mặt kinh đô do Gia Long tạo ra. Trong cuốn Souvernir de Huế, Michel Đức Chaigneau tả đủ kinh thành và sinh hoạt của triều đình cho phép nói rằng Huế đô vẫn như xưa. Huế mà de Courcy thấy khi đến năm 1885 không khác Huế Gia Long để lại.

Nhưng tên Gia Long đã xóa khỏi tên đường Huế, Ngả Giữa Gia Long đã thành Phan Bội Châu năm 1954 khi bắt đầu chế độ Ngô Đình Diệm.

Sau khi nhắc đến sầu cố quốc, quyền cai trị vào tay người Âu, Thái Nam Vân không ngần ngại khen óc thẩm Mỹ của người Pháp. Chính quyền mới tôn trọng những kiến trúc cũ, và sự đô thị hóa Hữu Ngạn cũng hòa đồng với thiên nhiên. Nhờ đó Huế không mất nét hữu tình, như lâng lâng sống trong hoài niệm, thở những hơi thở của nền văn minh xưa, vang bóng đế quốc Đại Nam.

Người Huế đã hình tượng những nét Huế qua hòn non bộ, có sông có núi, có cây, có thú rừng, có những tịch cốc ở sườn đồi, có tiều phu, có ngư ông.

Những thứ ấy, những tiếng nhạc, những tâm tình …các thân hữu sẽ rõ hơn khi đọc đấy đủ brochure ngắn nầy. Nhưng xin lưu ý Thái Nam Vân nói về những ngày xa xưa chưa có những đổi thay văn hóa xã hội đầy xáo trộn.

Nếu, e không phải nếu mà có thật, những nhẹ êm, hữu tình, thi vị nơi ngòi bút của Thái Nam Vân không còn nữa, thì Huế xưa là một niềm thương yêu thâm sâu, câm nín tưởng như lãng quên, trong công thức của Pierre Loti: Hãy yêu thương những gì không thể thấy hai lần (Aime ce que jamais tu ne verras deux fois). Làm chi có lần thứ hai mà chộ.

Huế & ses chansons - Huế và ca dao Huế

Thursday, October 8, 2026

NGHE TỪ THẾ GIỚI LẮNG THINH

Pierre FAVRE

Á Châu, vương quốc duy nhất nơi có thể sống ra ngoài thời gian
Những bờ biển bão táp đánh tả tơi vẫn an bình hơn trời Âu.
Á Châu, vương quốc duy nhất nơi có thể sống ra ngoài thời gian
Không đào đâu ra triết gia, chỉ có hiền nhân, 
hiền giả đã tìm được đạo, đường đời.
Á Châu vương quốc duy nhất cũng có những lời ca vang, những tiếng hét lớn
nhưng bạn nghe biết sự lắng thinh, nghe biết thế giới không lời.
Á Châu, vương quốc duy nhất.
•
Chúng tôi dịch bậy mấy câu thơ ngắn của Pierre Favre do một ông Pierre khác người Việt trích đăng năm 1935 ở Hà Nội. Pierre Đỗ Đình mà chúng tôi hân hạnh gới thiệu là Đỗ Đình Thạch, có dạy thời gian ngắn ở VĐH Huế lúc sơ khai, ông đã giới thiệu tuyên ngôn cùa trường phái tượng trưng (symbolisme). Nguyên tác:

Asie, unique royaume où l'on vive en dehors du temps,
tes rivages déchirés de typhons sont plus calmes que cette Europe.
Asie, unique royaume où l'on vive en dehors du temps.
Ils n'ont plus que des philosophes les sages ont trouvé la Voie.
Asie, unique royaume. Ils ont les chants et les cris 
mais tu connais le silence
Asie, unique royaume.

Ý chính của Pierre Đỗ Đình không nằm ở mấy câu thơ nầy, bài giới thiệu của ông rất nặng về ý tưởng và rất trừu tượng, đúng vậy, trên thế giới không có nước nào trừu tượng bằng nước Pháp. Ông giới thiệu thi sĩ Pierre Favre trong số những văn thi sĩ người Pháp ở Đông Dương. Tuy Đỗ Đình không nói, xin thêm rằng ít nhất thời ấy, giới văn học chính quốc không cho là chính thống những nhà văn ở Đông Dương, phải chăng họ thấm nhuần tư tưởng Đông Phương và Âu Châu tự đặt mình trong thế đối lập Đông Tây.

Vương quốc, royaume, kingdom...là danh từ cụ thể thuộc địa giới đã được mượn tạm để chỉ cả cõi trời. Tăng lữ Do Thái Giáo không thể giết Jesus bèn mượn tay quân quản Pilate, vu khống  Ngài xưng là vua Do Thái, hành động ly khai phản nghịch đế quốc La Mã. Jesus nói: Vương quốc của ta không ở chỗ nầy, ta thuộc về vương quốc của God, vương quốc của Cha ta.

Như vậy Favre hiểu "royaume" vương quốc cụ thể là một vùng rộng rãi, vừa thế giới tâm linh như các nhà thần học giải thích lời Jesus "the kingdom of God" là cái tâm của mọi người, tự tánh của chúng sinh.
Thuần túy ngữ pháp, có điểm chúng tôi không rõ nhờ chư vị trợ giúp. Đó là động từ "vivre" (où l'on vive). Theo cách chia động từ hiện nay, "vive" thuộc về thể cách subjonctif, không có tính chất xác quyết của indicatif, [où l'on vit]. Câu hỏi sẽ là: phải chăng Favre cẩn trọng nên dùng subjonctif vừa là hiện thực vừa là ước mong? Phải chăng xưa, indicatif của vivre là 'il vive'?

• 
[Asia, the unique kingdom where they live beyond the time
Your typhoon battered sea shores are still much in calmness more than this Europe
Asia, the unique kingdom where they live beyond the time
there philosophers vanished to become wise men fathoming the road, the way of life.
Asia, the unique kingdom.]

◙ Xin thêm vài cái nhìn khác về Á Châu

    • William Gordon East

The One and The Other Asia
Love, if you will, your roses and your nightingales
Those mountains neighbour to the sky
Those microcosms meshed in silk and stone
Those intricate fossil thoughts too old to die.
But remember the river bones dry and their shingles spread like ash
The cattle gasping in fragmented fields
The vultures wheeling down from brazen sky
and the usurer's pious text as he counts his yield.

Nếu thích, xin bạn hãy yêu thương khóm hoa hồng và lũ sơn ca,
Những ngọn núi cao ngất cao bằng trời
Những tiểu vũ trụ trong tơ tằm trong đất cát
Những nguồn tư tưởng dày đặc đã hóa thạch, không phai mờ vì đã quá xưa.
Nhưng xin nhớ những dòng sông cạn như bộ xương khô, lòng sông như suối tro than;
Những con bò gặm cỏ trong những cánh đồng chia nát xẻ nhỏ li ti.
Những con kên kên bay lượn từ bầu trời trân tráo rồi đâm xuống tìm mồi
Và xấp giấy dày, linh thiêng thần thánh, trong tay người cho vay cắt cổ ghi số tiền lời đã thu được.

    •  Okakura Kakuzo

"Á Châu là một. Hy Mã Lạp Sơn đã chia thành hai nền văn minh to lớn. Trung Hoa chủ trương cộng đồng sống chung theo Khổng Tử; và Ấn Độ chủ trương từng cá nhân tự thức tĩnh theo kinh Vệ Đà. Nhưng những ngọn núi tuyết nầy không ngăn chận lòng tha thiết đối với (điều gọi là) Tối Thượng và Phổ Quát, để tạo ra các tôn giáo lớn nhất thế giới ăn sâu vào đời sống tâm linh các các dân tộc Á Châu; làm nổi bật sự khác biệt với các dân tộc miền biển ở Địa Trung Hải và Baltic; những dân tộc nầy chỉ chú trọng đến các đặc thù riêng biệt, chỉ mưu cầu các phương tiện của đời sống; chứ không nghĩ đến cứu cánh của đời sống" (to search out the means, not the end, of the life). Okakura Kakuzo, tác giả Trà Thư.

   •  Virgil Gheorghiu
Khi nền văn hóa Tây Phương sụp đổ, Đông Phương sẽ chiếu ánh sáng tâm linh cứu độ Tây Phương. Đông Phương là "the East" không bao gồm Nga Sô như báo chí dùng East để phân biệt với West là Tây Phương, vì Nga Sô cũng chỉ là sản phẩm của West. ♠ Ý nầy trong cuốn Giờ Thứ 25, cuốn nầy không còn là kẻ thù số một và hiện đưọc lưu hành ở VN.

Ý đạo trong lòng em

Hảo Tiên, khi nhật nguyệt linh đài đổ vỡ, sẽ còn nơi cửa sổ phòng anh một ngọn đèn soi sáng hồn thơ và ý đạo; soi sáng hồn thơ trong anh và ý đạo trong lòng em. Và như Pierre Favre đã nói, hiền giả đã tìm ra đạo, để sống đời sống đạo, ý đạo trong lòng em, cao hơn các tôn giáo khuất chìm trong lễ nghi và giàu sang. Người Tây vẫn hiểu được người Đông. 

Friday, September 25, 2026

 

vết đạn xuyên from the bullet hole



Thư Viện Abraham Lincohn, Saigon 1964...
from the bullet hole
tôn thất tuệ
From the old skull sheltering my grey mass
I saw in the sluggish world someone
sowing a soybean seed, a single one
on the sandy tape along the shore.
@
Doubtlessly, you've passed the fiery land
around the boiling front up North
embalmed by wild eucalyptus bushes
in the fragrance released from the leaves
by the almighty solar disk.
There a soldier died, fingers holding fast the ground.
His half stood alone nearly dead nearby.
Untamed gusts bid farewell in bowls of dust
mummifying the carcass and the past.
@
Don't you know her, the young collegian?
Charming, she came embrace the epitaph
as if embracing his warm body.
She sighed inwardly, strictly in the realm of the heart
but a drop of diamond betrayed her
by falling down, watering the weed.
Frail hand, on the stone, inscribed in a twist
Vergissmeinnicht, a German word for forget me not
and name of a flower the forget-me-not.
Armed opened, eyes to skies, she cited a verse:
Over here became one a lover and a gunman 
and the Death who thundered the soldier
with a lethal blast has chosen my darling.*
The sheer melancholy over the vale remained integral.
@
Naughty is the slim sight from pupil desks.
Give me a bullet in the chest
And from the bullet hole
I will see and I will love
the eucalyptus wreathed battle guy,
the young college student with her vergissmeinnicht
and the one sowing a soybean seed on the salty beach
claiming divinely the eternal rhythm to his search.----

* Disclosure : the third part [the scene of a college student visiting her lover's tomb] was conceived through a vague memory of mine regarding a poem from a bilingual anthology (French and English ) displayed in the lobby of the United States Information Service, Saigon VietNam around 1962-1963 at the opening of its new location and  The Abraham Lincoln Library. The title of the poem and the book as well as the name of the author escape my recollection. At the time, the collection was not available to borrowers. But please be advised that the German word "vergissmeinnich" was from there, not from me, a German illiterate.

vết đạn xuyên
tôn thất tuệ
Có một kẻ cuộc đời rách nát
tay nâng niu hạt đậu ươm mầm
gieo trên cát đất khô muối mặn
tưới tin yêu bằng mồ hôi và nước mắt.
@
Có khi nao em qua vùng hỏa tuyến
mặt trận Bắc, Quảng Trị mờ khói súng
mùi khuynh diệp xoa êm cơn thống khổ
khi mặt trời đập vỡ lá tràm tươi.
Có anh lính chết nguyên trong nhung phục
mười ngón tay bấu vào đất nóng
quá yêu thương đất mẹ ngàn năm.
Cô vợ quê đứng bên thành khối đá.
Lũ gió chướng ôm ngàn nắm cát
ướp xác người cho sống với thời gian,
vĩnh biệt anh đưa anh về cõi lạc.
@
Và đây nữa, cô sinh viên trường luật
ôm tấm bia như ôm thân chàng nóng ấm.
Nàng nuốt khóc nhưng khóc đầy hồn rỗng
thế mà sao mắt đổ giọt kim cương
phản bội nàng, tưới vùng cỏ úa.
Tay yếu mềm viết không trên đá trắng
nét vòng vo như tóc rối gió không buông
ôi anh ơi, bâng khuâng tím còn tên nào khác nữa?
"chớ quên em"  là dòng họ của loài hoa.
Cô bé mộng vung tay mở rộng
nhìn xa xăm mà hát một lời thơ.
Nấm mộ nầy chôn chung người yêu và tay súng.
Nhưng Tử Thần trong đường thương ma quái
khi đấu sức với người lính chiến đã giết luôn
người tình yêu dấu của đời tôi.*
Thu hoang sơ vẫn im nguyên qua đáy núi.
@
Em đã thấy nhưng ta nhìn quá hẹp
ghế trường làng lé đé bờ ao.
Hãy giúp ta bằng viên đạn qua người
xuyên vết trổ, ta học bài đau khổ
xuyên vết trổ ta biết yêu người lính
vòng hoa trán kết bởi những ngọn lá tràm
cô nữ sinh lòng bâng khuâng tím
cuối góc hồn sầu mộ chiêm bao
yêu kẻ yếu gieo mầm trên đất chết
xin niềm vui cho đồng loại ngoài trong.-

Hậu thư
Không nhớ năm nào, ít lâu sau khi đến Mỹ, giữa thập niên 1980 tôi đọc mấy câu thơ của Rose Nguyễn trên một tập san sinh viên. Cô chỉ nói đến những tàn phá của chiến tranh nhìn từ ngôi nhà mẹ (From the mother’s window). Do đó tôi viết From The Bullet Hole như một tham luận muốn nói cô hãy nhìn cuộc chiến đầy đủ hơn; không biết họ có đăng hay không.
Mãi cho đến thời gian rất gần đây, khi tôi đầu hàng computer phải dùng internet, email giúp tôi liên lạc với một số bạn cũ từ thời mới qua tiểu học, những người bạn xa cách từ lâu không riêng gì cuộc đổi đời tai ách. Một trong những đứa “cúp ca rê” (cắt tóc ngắn hơn nhà binh) là Vũ Minh Châu đang ở tỉnh Côn Luân (?) Cologne, Đức Quốc. Hôm nhớ đến hắn tôi đã nghẹt thở (nghĩa đen), không phải vì hắn nhưng cả một thời thơ ấu 1952, 1953… đè nặng lên ngực. Tôi phải viết vội mấy chữ để xem mình còn linh hoạt hay không. Tôi đã viết Chiều chưa có tên. Tôi chợt nhớ trong bài tiếng Anh nói trên có chữ vergissmeinnicht không biết đánh vần ra sao, “đừng quên tôi” vừa là tên hoa forget-me-not. Lúc ấy tôi có ý viết qua tiếng Việt thích ứng với ngôn ngữ của mình, nó thành bài Vết Đạn Xuyên, 2009.

           Over here became one a lover and a gunman
           and the Death who thundered the soldier
           with a lethal blast has chosen my darling.*

           Nấm mộ nầy chôn chung người yêu và tay súng.
           Nhưng Tử Thần trong đường thương ma quái
          khi đấu sức với người lính chiến đã giết luôn
          người tình yêu dấu của đời tôi.

Để khỏi mang tiếng đạo văn như các chính khách trên thế giới, tôi xin nói rõ vì sao có hai phần trích ngay bên trên từ hai bản Anh Việt. Khoảng 1962, 63, người Mỹ đã mở rộng Phòng Thông Tin (USIS) và thuê trụ sở lớn đối diện thương xá Tax, cạnh rạp Rex. Vì người Việt biết tiếng Pháp, Abraham Lincohn chưng ngay ở cửa vào sách báo song ngữ Anh Pháp. Anh Pháp thì tôi chỉ lai rai “to be, to have”, “être, avoir” nhưng chụp được cuốn thơ song ngữ, tôi đọc bài Vergissmeinnicht.
Nay tôi quên hết, chỉ nhớ bài thơ tả cảnh một nữ sinh đi thăm mộ người yêu chết trong thế chiến, cô viết trên bia đá chữ vergissmeinnicht, rồi nói:
          Ici se mêlent l’amant et le tueur;
          mais la Mort qui frappa le soldat
          d’un coup mortel a choisi mon amant.

Tôi cố đọc lại vài lần nữa nhưng gặp một người quen rủ qua Pole Nord; tôi xếp sách ngay theo tiếng gọi của hương café, mà uống chùa, không mất tiền. May ra còn nhớ khung cảnh và một câu mà sử dụng lai rai…..
2014, khi thu ngấp nghé muốn nhảy vào rừng thưa.

Thursday, September 10, 2026

Sáng thu lành, đoản văn

 



nắng thu yếu, đâu đó ở Hội An?

MỘT SÁNG THU LÀNH
Tôn Thất Tuệ

Vâng, sáng nay thu lành và thu khóc như bé nầy đứng khóc.
Một em bé vào tuổi khá khôn đứng khóc góc đường gần chợ. Một bộ hành đến hỏi lý do và được biết cấy chi rứa. Số là mẹ em đưa em một đồng (bằng kim loại) bảo để mua một đồng đường, bé cầm một tay; mẹ lại đưa thêm một đồng nữa, bé cầm tay kia khi mẹ bảo mua một đồng muối. Mỏi tay bé bỏ chung một túi. Đến chợ không phân biệt được đồng mô để mua muối và đồng mô để mua đường.

Thu cũng vậy, biết lòng nầy đem gởi cho ai. 

Người nơi đây, nơi tôi ở, thích bắn súng, thích bắn nai; nên người nơi đây chẳng nhúc nhích nỗi lòng khi thấy xác nai xe đụng bên đường. Có lẽ việc nầy dành cho thu, mùa thu đầy ý nồng. 
Sáng nay thu lành, thu khóc vì không biết tâm cảm dành đâu. Lòng thu rộng nhưng thu không có ngàn mắt ngàn tay, thiên thủ thiên nhãn, thu chỉ có đôi chân và đôi tay.
Này thu nhé, ta chỉ cho thu một con đường: người dưng khác họ đem lòng nhớ thương. Ta cũng là người dưng, đem lòng nhớ thương ta nhé.
Thu cứ khóc như thằng bé khóc. Trí của bé vẫn còn tươi, đồng muối khác đồng đường.
Đến đó thì cứ biết đến đó; đến khi sang đông biết đâu thu chết vì lạnh, nói sớm quá chận đường thu như chận ngõ về của ý.

Nơi ta ở, phát súng lệnh thu về chẳng phải là lá ngô đồng* mà lá đỏ như máu của thân cây leo ngứa phỏng mình**. Thu hóa thân thành vạn loại và vạn loại hóa thành thu. Nếu hiểu lá vàng là thu thì lá vàng rụng đầy nhà ta khi tháng hạ còn tươi, chẳng đợi thi mất công.
Ta vẫn tin thu không ai thấy được mà chỉ thấy những hóa hiện của thu. Cũng như ta không thể thấy bản chất của người vợ, là người tình xưa, ta bèn thốt lên:
Cảm ơn em, một hóa hiện hình người.
Cảm ơn thu, thu lành, thu biết khóc, cảm ơn thu hóa hiện trong ta và ngoài ta.-

*Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu ** poison ivy

•
Phụ bản
Sầu Ai Lao
Đỗ Hữu
Đã lâu trăng cứ vàng hiu hắt
Mây cứ sầu tuôn núi võ vàng
Lá vẫn phai chàm trên sắc áo
Mưa nguồn thác đổ đá mù sương.

Giữa ngày lạc lõng trên rừng rậm
Với nắng bâng khuâng mây thuở nào
Với núi xanh lơ chiều tím nhạt
Mây trời bàng bạc sầu Ai Lao.

Lưng đèo quán gió mờ hun hút
Thôn bản nằm trơ dưới nắng chiều
Tai vẫn nghe đều dòng thác đổ
Người ơi, thương nhớ biết bao nhiêu!

Ở đây hơi đá chiều vây khắp
Khép chặt mình tôi giữa núi rừng
Buồn quá ngày đi đêm trở lại
Hoàng hôn hoa bản phấn rưng rưng.

Người có theo tôi lên dốc nắng
Nhìn xem hoa rải sắc trên đường
Chiều nay gió thổi buồn ghê lắm
Lá đổ sau chân một lối vàng.---