add this

Friday, March 29, 2019

Sihanouk em chả em chả


1967 Jacqueline Kennedy Visits Cambodia and Angkor Wat
Jacqueline Kennedy và Sihanouk
Sihanouk, Sihanouk, Sihanouk
Michael Field 1980 điểm sách, ttt dịch
War and Hope: The Case for Cambodia
by Prince Norodom Sihanouk.

n bản Anh ngữ cuốn sách thứ hai của Sihanouk được trình làng vào lúc ông hoàng tuyên bố chấm dứt mọi hoạt động chính trị, và không đi đâu xa khỏi nước ngoại trừ Singapore, Úc và vài nước khác. Như vậy ngầm hiểu ông sẽ không đến thăm đồng bào tỵ nạn ở biên giới Thái, mặc dầu Thái cuối cùng cho biết sẽ tiếp đón ông. Nếu ông nói thực lòng thì có nghĩa hủy bỏ mọi cố gắng triệu tập hội nghị Genvève để trung lập hóa Kampuchea (KPC), xứ mà ông cho nay thành cái áo rách sau một thập niên chiến tranh và tự hủy.
Nhưng ông hoàng đã từng tuyên bố nhiều lần như thế. Vậy thì không nên ngây ngô mà cho rằng đây là lời rút lui chắc chắn. Trong những ngày nắng đẹp thời thịnh trị từ 1955 đến 1965 có hòa bình và sung túc, Sihanouk nhiều lần “sạt bình điện” (nguyên văn recharge) uy tín bằng cách công khai tuyên bố với lời lẽ thảm thiết sẽ từ chức và giao số mệnh KPC cho đế quốc tây phương và cộng sản. Liền sau đó có cuộc biểu tình của Thanh Niên Hoàng Gia Khmer mà ông là lãnh tụ, khẩn nài ông ở lại cứu nạn cho quốc gia. Một đại sứ Anh đã so sánh diễn tiến nầy với thái độ dân biểu Anh cứ “em chả em chả muốn, xin trả ghế lại”.

1956 lần đầu tiên tôi đến Phnom Penh. Kinh đô tưng bừng trong đường lối tuyên truyền chính thức của Sihanouk: “cõi mộng hòa bình, êm ả vui tươi đối với người ngoại quốc trái ngược không khí căng thẳng và khắc khổ của một Saigon trong tay Ngô Đình Diệm”. Sihanouk có sự ủng hộ của nông dân mù chữ và thế hệ lớn tuổi mừng nền độc lập không đập đổ lối sống nhàn hạ của họ. Hoài nghi và phê bình xuất phát từ sinh viên và giới trẻ Âu hóa, tuy ít khi dám nói ra, phẩn uất thực tại độc đoán núp sau “nền dân chủ trực tiếp” của Sihanouk. Chủ nghĩa xã hội Phật Giáo, ý thức hệ mơ hồ của chế độ, dường như thích hợp với một dân tộc dễ dàng tha thứ sau bao thế kỷ thụ động nhiều lần bị gián đoạn bằng những cuộc bạo động chết chóc nguy hại.

Cuối thập niên 60, sự hòa hợp xã hội nầy tan vỡ. Sau bao năm cầm quyền, Sihanouk không thể được giải trừ trách nhiệm về tình trạng tham nhũng leo thang ở Phnom Penh và sự đàn áp tàn bạo của quân đội hoàng gia đối với sự phản kháng sơ sài của nông dân. Những lần đánh đập bằng gậy gộc xẩy ra đầu tiên năm 1967. Về sau Khmer Đỏ đã hoàn thiện cải biến phương pháp nầy để khỏi tốn đạn.

Nhưng cho đến khi sự việc trở nên tồi tệ năm 1965, Sihanouk là một trong những lãnh tụ quốc gia sáng giá của Thế Giới Thứ Ba. Ông đã dùng trực giác đặc biệt lèo lái Kampuchea khỏi lâm vào chiến tranh. Lối chơi nước đôi của ông gây bực tức cho HK và Tây Phương nói chung. Nhưng năm 1961 khi cuộc khủng hoãng Lào gia tăng, giới ngoại giao tây phương hướng về ông, yêu cầu ông đưa ra một giải pháp kỳ diệu; đó là đường lối trung lập đã thành công ở nước Miên. Sự dàn xếp Lào không kéo dài được bao lâu nhưng không do lỗi của ông. Ông đã lưu ý Tây Phương rằng các chính sách về Lào sau hiệp định Genève 54 đã thất bại cho nên nay quá trễ Lào không thể theo đường lối trung lập.

Chu An Lai viếng KPC lần đầu tiên một năm sau khi gặp Sihanouk tại hội nghị Á Phi Bandung 1955. Lần đến thứ hai 1960 đặt nền móng vững chắc cho mối bang giao thân thiện để rồi có những hậu quá sâu xa cho Sihanouk và KPC. Sự gia tăng thân hữu Tàu Miên làm Bộ Ngoại Giao Mỹ phẩn nộ, vì lúc ấy chính sách Á Châu thập niên 50 của Mỹ nằm trọn trong sự thù nghịch không thuyên giảm với Bắc Kinh.

Các sứ quán Tây Phương đầy ắp cố vấn sùng máu. Một người Anh nói: Sihanouk công nhận Bắc Kinh có nghĩa là Đông Nam Á đi đong: vị trị địa dư của KPC sẽ xoay ngược thế cờ của Miền Nam VN; Thái Lan và Mã Lai cũng lâm nguy trực tiếp; ngay cả không lưu và hải vận đến Hongkong và Nhật cũng bị đe đọa. Lời tiên tri đen tối nầy là trạng thái tâm thần của thời đại.

Sứ quán HK tại Phnom Penh có vài nhà ngoại giao có cảm nhận âm thầm về tình thế. Đại sứ Carl Strom khuyến cáo nên hiểu rõ thêm về chủ trương trung lập của Sihanouk nhưng bị quở trách không phải từ Washington mà từ đại sứ ở Saigon, kết án ông bị nặng “bệnh địa phương”. Tuy nhiên các cố gắng giảm thiểu sự bộc phát chống Mỹ cũng khá rắc rối. Hy vọng làm ông vừa lòng, trong dịp trình diễn nhân ngày Độc Lập Mỹ, một ban hợp ca đã hát quốc ca KPC ‘Nokoreach’. Sihanouk không chút xúc động mà tỏ ra giận dữ hơn trên các báo Mỹ.
Trước các lời bình luận không thân thiện của New York Times và các báo chính, một mặt Sihanouk tuông tràn nộ khí, một mặt khoái cảm. Tuy nói thích báo chỉ trích hơn báo khen, ông hoàng đã ra lệnh bộ thông tin của Chau Seng chận mọi sự chuyển tin điện ra khỏi biên giới nếu đi quá xa, (Chau Seng bị Khmer Đỏ tra tấn và giết).

Từ 1956 cho đến đảo chính Lon Nol, Sihanouk thu dụng một người Pháp nhiều khả năng viết diễn văn và làm kẻ thân tín tâm tình: Charles Meyer, cựu nhân viên Sở Địa Dư Đông Dương của Pháp. Gọi Meyer là cố vấn, giáo thọ, phụ tá không đủ để diễn tả mối quan hệ một thời giữa một ông hoàng đòi hỏi đủ điều, lắm khi hờn dỗi và một nhà trí thức Pháp rất thực tiển không viễn vông. Cuối cùng khi chiến tranh đã bất lợi cho vương quốc, Sihanouk khó lòng ra khỏi các biến chuyển tiếp nhau cùng các cách giải quyết vụng về.
Nay theo như những gì Meyer kể, Sihanouk đánh đu giữa trung lập cổ điển và các nhượng bộ mâu thuẩn của hai bên Bắc Việt và HK. Meyer không ngần ngại kết tội Sihanouk vô trách nhiệm trong những năm trước 1970. Ông đã dùng hầu hết thời gian để làm phim mà kết quả không phải Sihanouk mà dân Miên trả quá cao đổi lấy lối giải trí nầy. Cuốn Sau Nụ Cười Miên (Derrière le sourire Khmer) hẳn làm Sihaunouk bực tức xem đó là sự phản bội, không còn giữ các sự kín đáo tâm tình ngày xưa; không có người ngoại quốc nào thân cận với Sihanouk bằng tác giả. Cuốn sách mô tả đầy đủ nhất sự nghiệp của Sihanouk trước 1970, viết rõ ràng, học thức và nhiều giá trị.

Meyer không ngớt ca tụng tài năng của Sihanouk đã đưa xứ sở của ông khỏi sự kiếm soát của Pháp và tách khỏi sự dính líu của HK thời kế tiếp hiệp định Genève 1954. Nhưng tiếp đó, tác giả đã vạch ra sự băng hoại mất sạch phẩm chất của chính quyền KPC trong thập niên 60. Tác giả tin rằng hư danh, tự kiêu và lòng mong trả thù là những động lực mạnh nhất làm cho Sihanouk nhập phe với Khmer Đỏ, nhóm mà ông thanh trừng và đã biết có chủ trương cực đoan giết chóc làm phương tiện chính.
Ngày nay, người tỵ nạn ở Paris và các nơi khác vẫn qui trách nhiệm cho Sihanouk trong thảm cảnh nầy. Nhưng với những ai can đảm tìm ra tìm lối thoát, thì đấy thuộc về quá khứ. Dù lịch sử phán xét thế nào, Sihanouk vẫn là (thời điểm 1980) người Khmer duy nhất có tầm vóc, có một chút hy vọng mong manh – so sánh với mớ bòng bong nham nhở hiện tại – có khả thể vận động thành hình một giải pháp quốc tế khả dĩ cứu dân Khmer khỏi diệt vong đang đe dọa trầm trọng.

War and Hope 

Với những ai tin, hay cố gắng tin, sự hồi phục của cựu hoàng, War and Hope là cuốn sách cần thiết để khuyến khích và xóa mờ ảo tưởng. Nguyên bản Chronicle de guerre et d’espoir mang ít nhiều phong thái của de Gaule nhưng đi sâu hơn thì nhiều khác biệt.
Lối biện giải xưa vẫn còn nhưng âm vận đạm bạc hơn, buồn hơn; tuy là kẻ được ân huệ sống sót khỏi lò sát sanh Khmer, Sihanouk đã sống qua chuổi ngày dài cay nghiệt câu lưu tại gia, không biết chết lúc nào. Không còn nét vui tươi bóng bẩy trong các loạt diễn văn tại các nghị trường Phnom Penh. Bài viết ảm đạm, ngắn và căn bản là bi quan. Vài chỗ khiếm nhã. Nhưng đáng chú ý là không nêu chi tiết nào về cuộc sống ngày qua ngày sau khi ông chọn Bắc Kinh mà tá túc và giao cho Khmer đặc quyền và uy tín to lớn của mình.

Từ đầu chí cuối Sihanouk tố cao Khmer Đỏ nhưng chỉ đưa ra một số ít chi tiết cụ thể. Ông kể trẻ con dùng chó, mèo, cóc, nhái thực tập cách giết người để áp dụng trong việc tiêu trừ thành phần thuộc xã hội cũ. Ông nói đã chứng kiến tận mắt khi ở trong trại giam.
Sihanouk không phải bận tâm thương tiếc gia đình, bạn hữu và ủng hộ viên chết hay mất tích. Chất vua, tính cách uy nghi hoàng gia ép ông than khóc trong bóng tối chăng?

Cuốn sách là một lời công kích có phân tích lý luận chống giới lãnh đạo Khmer Đỏ. Nhưng nó gợi ý rằng niềm hy vọng duy nhất là theo đuổi chính sách khôn vặt xảo quyệt là sống chung với quân xâm lăng Việt Nam. Ông nhấn mạnh rằng sự kỳ thị chủng tộc thô bạo của Khmer Đỏ, ngông nghênh, tham vọng đã khiêu khích VN xâm chiếm; nhất là vì sự diệt chủng và ảo vọng tuyệt đối đòi lại đất.

Lòng tin tưởng vào nhu cầu sống chung Miên Việt, luồn lách giữa mâu thuẩn Nga Hoa đã đưa ông đến các sự so sánh ngoài tầm: sau thế chiến 2, Pháp và Đức xích lại gần nhau; Mỹ cộng tác với Nhật. Sự so sánh khập khểnh nầy giống như so sánh việc giết người của Khmer Đỏ với việc nhân vật Desdemona trong bi kịch Ortello của Shakespeare bị chồng giết oan. Nhưng với kẻ đã quá biết cá tính bồng bột của Sihanouk thì không lấy chi làm lạ. Nó ăn khớp với nghề phim ảnh, với sở thích dành cho tranh vẽ vĩa hè, pa tê phoa (pâté de foie) và rượu sâm banh.

Những sở thích ấy công hiến các ký giả các màu sắc của năm tháng. Tây Phương không biết rằng Sihanouk không có gia sản riêng và không dùng địa vị để làm giàu. Trong bối cảnh duy nhất nầy, ông không cần tiền của riêng: ông chỉ rút tiền ngân khố quốc gia để thỏa mãn các nhu cầu riêng. Cũng không có kế toán sổ sách hành chánh. Trong các cuộc du hành kế cận nhau, ông luôn đem theo một tùy viên: Ang Kim Khoan, giám đốc hệ thống khách sạn của chính phủ, ôm một xách bạc và traveller’s checks, thanh toán các chi phí ăn ở của ông hoàng và bầu đoàn.

Qua ông, người ta tìm thấy một nhà độc trị Á Châu, điểm thêm một chút Pháp. Le Cambodge c’est moi, ông đã nói như vậy. (Louis xiv: L’état c’est moi). Ký giả Jean Lacouture nói ông đã phải tới Phnom Penh để xem KPC có thật hay là điều bịa đặt của Sihanouk. Câu nói nầy tàn nhẫn dù bây giờ hay lúc xưa, nhưng nó cũng thoang thoảng một nước KPC trong đầu óc mộng mơ của Sihanouk từ một nước đã biến mất vì oanh tạc của Mỹ, vì “trật tự mới” của Khmer Đỏ, vì sự thuộc địa hóa của VN.

Cuốn sách kèm theo bức ảnh Sihanouk tay cầm máy chụp hình đang quan sát xoi mói một đập thủy điện nhỏ, “tự túc tự cường tự biên tự diễn” ở một hợp tác xã Khmer Đỏ. Có lắm điều sai trong các viện trợ Tây Phương và CS do ông dàn xếp, nhưng những điều được thực hiện không tệ hại như chỗ nầy. Dưới quyền Sihanouk Phnom Penh trở thành một thành phố nhỏ gây nhiều ấn tượng, đường sá sạch sẽ, nhiều công viên với nhiều tác phẩm điêu khắc. Hình ảnh trên thế giới và tư cách hội viên Liên Hiệp Quốc phải ghi là công trạng của ông.

Sử gia về giai đoạn bệ rạc nầy sẽ tìm được trong hồi ký buồn nản nầy của Sihanouk những sự phát giác về cấp lãnh đạo Khmer Đỏ. Ngây thơ và tự trách, ông giải thích ông được chọn làm bung xung. Khi không được phép đánh lại Lon Nol “vì vị trí quốc tế không thể thay thế”, ông muốn rút lui về tỵ nạn ở Pháp. Nhưng vợ ông công chúa Monique khóc lóc xin ông ở lại; ông nghe theo. Một lần nữa, ông được van xin hoàn thành sứ mệnh cứu quốc. Lần nầy bởi vợ ông.

Sihanouk đã châm biếm gọi lãnh tụ Khmer Đỏ là những nhà trí thức thượng thừa, có bằng cấp cao của Pháp. Khieu Samphan thay ông làm quốc trưởng có bằng tiến sĩ kinh tế. Thioum Mumm là người Miên duy nhất từ trước đến nay tốt nghiệp École Polytechnique; hai người quá vãng Hou Yuon và Hu Nim có bằng tiến sĩ luật (cả hai bị tra tấn và giết do ganh tỵ của Pol Pot). Ông đề nghị chế độ đại nghị đa đảng. Nhưng đối ảnh của lý tưởng nầy là viễn tượng bi quan về một sự trở về của Khmer Đỏ để tạo ra địa ngục trần gian.

Image result for killing field film
(Film)The Killing Field, real but not real enough

Cuốn sách mang thông điệp minh bạch của ông hoàng: giải pháp duy nhất là một nước KPC độc lập, trung lập, hòa bình và rộng mở.
Sihanouk mập mờ mâu thuẩn không giải thích vì sao ông tự lưu đày qua Bình Nhưỡng, nơi đó ông là bạn thân và người ngưỡng mộ Kim II-Sung, lãnh tụ vĩ đại và nhà dân chủ. Độc giả có thể đoán Sianouk muốn che lấp một điều thất vọng. VN không bao giờ rút khỏi KPC nếu Tàu tiếp tục “dạy những bài học”. Nếu Tàu thành công có nghĩa là Pol Pot hay một kẻ độc đoán tương tự sẽ trở về KPC.

Mặc dù hòa hoãn với Hà Nội, ông xem chính phủ Hen Samrin là bù nhìn và quả quyết quân xâm lăng đã tạo ra nạn đói trầm trọng khó chấm dứt.
Trong mấy trang cuối cùng, tác giả công nhận rằng Tàu, chung cuộc sẽ là một quyền lực trội yếu trong vùng, sẽ ủng hộ một nhân vật nào đó, kể cả thành phần phản động, để phá vỡ hoạt động của Nga.
Điều nầy có thể áp dụng cho Sihanouk nếu ông chơi ván cờ Tàu; cũng cho In Tam hay bất cứ đàn em cũ của Lon Nol, hay ngay cả nhóm nhỏ cứng đầu quốc gia của Son Sann dám đánh cả VN lẫn Khmer Đỏ (trong số ủng hộ cựu thủ tướng nầy có thành phần còn sót lại của đảng dân chủ đã từng chống đối Sihanouk vào thời tranh đấu độc lập khỏi người Pháp). Sihanouk còn tin tưởng: nếu sống sót qua nạn đói và chiến tranh và nếu có đủ thực phẩm ăn mà suy nghĩ và hành động cho chính mình, Khmer Đỏ sẽ chọn một chính thể dân chủ tự do. Nhưng chân lý tự thành nầy, đã đúng với nhiều nơi, không thể thực hiện ở vùng ảnh hưởng chính trị-địa dư Đông Nam Á nầy.

Dưới mấy chữ “kính tặng dân tộc Khmer yêu dấu của tôi”, Sihanouk phơi bày thảm trạng của một dân tộc Khmer đang dẫy chết quằn quại trong cuộc xung đột không kiềm chế của hai thứ cộng sản.

The New York Review of Books Oct 23, 1980
Cambodia, C’est Moi, Michael Filed

Norodom Sihanouk (1983).jpg
Norodom Sihanouk
Good job, Monsieur le roi!
Tôn Thất Tuệ 
Sihanouk, Sihanouk, Sihanouk là đề bài tôi bịa để dịch Cambodia c’est moi, tôi không thể dấu diếm đó là một lời than thở, chỉ nói lên phần nhỏ cảm nhận của Michael Field tác giả bài điểm sách, cũng không thể dấu diếm ngay từ đầu sự thiếu cảm tình với ông vua Miên mà khuôn mặt theo tướng số Á Đông là “sournois” (nguy hiểm tráo trở). Người như vậy không đáng nêu tên nhưng nghiệt ở chỗ linh hồn người ấy là con đường chuyên chở những tai ách, ít nhất cho Miền Nam VN và những người Việt không CS.
Đó cũng là lý do tôi minh họa mục nầy với bức hình Sihanouk tiếp đón Jacqueline Kennedy năm 1967. Ký ức còn rõ rệt, 4 năm trước Sihanouk đã tổ chức tưng bừng mừng Kennedy bị bắn chết, đến nỗi HK phải phản đối và Sihanouk triệu hồi đại sứ Miên, không 'noblesse oblige' của một quốc trưởng đối với một quốc trưởng. Sihanouk muốn lấy cảm tình của Mỹ sau khi bị cắt viện trợ. Jacqueline đang “đói” đèn màu đã bất cố kiêm sĩ muốn được chúc tụng bởi kẻ phỉ nhổ chồng.

Theo một người Việt suốt đời chỉ nói về ông Diệm để tự biện minh, người đứng đầu chế độ cộng hòa tiếp Sihanouk mà không cười, tỏ ra kiêu ngạo làm Sihanouk đã đi Bắc Kinh ngay sau đó và mở đầu cho việc cống hiến Cambodia vào thế cờ của CS để trả thù. Sự tiếp đón có thể xẩy ra trong tình trạng nầy, vì VN luôn coi Miên là mọi, còn thấp hơn Lào. Tuy vậy, nhận xét nầy quá đáng, hơn nữa Sihanouk không nói gì về cuộc gặp gỡ.
Sihanouk làm vua do sự chỉ định của toàn quyền Đông Dương, học quân sự ở Saumur mang cấp bậc trung úy của Pháp. Quanh ông hoàng không biết bao nhiêu người Pháp, không thể thiếu đảng viên CS Pháp. Mặt khác, Pháp quan niệm đế quốc thuộc địa là vinh quang (De Gaule: France n’est pas France sans gloire) đến chết vẫn phải giữ như đã làm ở Algérie, trong khi với Anh là kinh doanh, bất lợi thì bỏ. Pháp đã đeo riết KPC thúc đẩy trung lập hóa Miền Nam VN.

Sihanouk, mê hư danh, như Charles Meyer viết, thành lãnh tụ, ngồi ngang Nerhu, Chu An Lai … trong các tổ chức như Á Phi, các quốc gia không liên kết mà thực chất là của CS; Á Phi Ấn Tàu; Ấn lúc ấy hoàn toàn lệ thuộc Nga. Tại Bandung, Chu An Lai đã thu hút Sihanouk vào quỹ đạo.

Michael Field, người điểm sách, 1980, khuyên đừng ngây ngô nói ông hoàng rút lui. Thật vậy, cho đến khi chết, Sihanouk vẫn đeo riết vào quyền hành. Field đã thiết thực tiên tri, nếu cần “bắt mèo …” thì Sihanouk chính là con mèo. Sau 1980, Sihanouk vẫn là lá bài.
Field sai lầm khá nhiều, tuy không hoàn toàn, khi nói theo Charles Meyer rằng hư danh đã làm Sihanouk cộng tác Khmer Đỏ. Thực tế 1975, Sihanouk làm theo chỉ thị của Tàu về làm bung xung, đang lưu vọng ở Tàu, Khmer là con của Tàu. Bình thường, thì Pháp là nơi thích ứng nhất cho Sihanouk lưu vong nhưng tính kỹ nên đã qua Bắc Kinh và Bình Nhưỡng. Đem bài viết về tương lai chừng 20 năm thì nhận xét của Myer thêm thiếu sót vì bao lần Sihanouk không muốn Khmer có mặt trong sự sắp xếp mới, ớn quá nó giam tui, nhưng phải theo Tàu để cho Khmer Đỏ có vị trí quan trọng.

Field trích lời Sihanouk rằng vì địa vị quốc tế không thể thay đổi (tự cho), Sihanouk không thể chống lại Lon Nol mà muốn tỵ nạn ở Pháp. Thực tế Sihanouk tích cực chống Lon Nol, về quân sự, chính trị và ngoại giao.

Đầu năm 1964, Sihanouk ký mật ước với Hà Nội cho phép Tàu chuyển viện trợ qua hải cảng duy nhất Sihanoukville, quân đội KPC vận chuyển lấy tiền công và cho phép VC dùng đường mòn Sihanouk đưa tiếp liệu từ ngoài Bắc.

Được nước, sứ quán Tàu phát hành tài liệu sách báo, họp hành ... tạo ý thức cách mạng CS mà Sihanouk thấy mình là mục tiêu hạ bệ, nên ông gây khó khăn cho phái bộ ngoại giao nầy, làm mất lòng Bắc Kinh. Sihanouk nhân khi biết Jacqueline muốn xem Đế Thiên Đế Thích đã mời bà qua Miên và nhờ bà sắp xếp gặp đại sứ Mỹ tại Ấn là Chester Bowles xin tái lập quan hệ ngoại giao và than phiền VC quá nhiều trong đất KPC và nếu Mỹ thả bom thì cứ việc, ông làm lơ. Sournois! Trong cuốn sách, Sihanouk nói Mỹ thả bom làm cho KPC tiêu tan. Vì bom, lính VC phải vào các khu dân cư Miên. Sihanouk bèn công nhận chính phủ của Mặt Trận để được hứa hết chiến tranh sẽ rút quân ra khỏi nước. Đồng thời lần đầu tiên Sihanouk công nhận sự hiện diện của VC trên đất Miên. HK khoái chí bèn tái lập ngoại giao ba tháng sau. (xin xem Wikidepia rõ hơn: Sihanouk). 

Michael Field khá sâu sắc khi xếp chung tính tình bồng bột của Sihanouk với phim ảnh, thịt nguội và champagne. Sihanouk đề nghị chính thể đại nghị đa đảng và tự do trong khi ông đã cai trị độc đoán, một mình một chiếu. Óc mộng mơ làm ông hy vọng Khmer Đỏ sẽ chủ trương tự do, nhân ái và dân chủ. Ông đã lăng ba vi bộ, đu bay không biết chóng mặt. Nhưng những nhân vật chính ở Hà Nội và Bắc Kinh, trong lúc ấy, đi rất vững chắc trên đất Miên đến những mục đích nhắm từ lâu. [những bước chân đó có chăng là cho ông vài đặc quyền đặc lợi dân Miên phả trả].

Du kích chiến là điều kiện cần nhưng chưa đủ, muốn kết liễu cuộc chiến phải dùng chiến tranh quy ước. Riêng ở giai đoạn du kích, mật khu là điều kiện tiên quyết. 1949, Mao Trạch Đông chiếm Tàu lục địa, đã làm nhiều người bi quan tương lai của Pháp ở Đông Dương vì Tàu là một mật khu vô cùng quan trọng dọc theo biên giới. Đảng CS Hy Lạp đang khi gần thành công chiếm cả nước lại bỏ cuộc; chỉ vì lý do duy nhất Albany không cho phép đặt mật khu, hậu phương chất giữ vũ khí, trại huấn luyện, bệnh viện… Éo le, khôi hài của lịch sử 1972, Nixon cho dội bom phá hết mật khu VC trên đất Miên phía sau cao nguyên Boloven; nhưng sau đó chỗ nầy trở lại thành một mật khu kiên cố và lợi hại nhất, quyết định cuộc chiến. Ngay đến phút chót, Khmer Đỏ đã chiếm Phnom Penh hai tháng trước Saigon, đã mở rộng đường vô. CS không cần nhảy vào Nam Vang ám sát chủ soái, lập một chính phủ thân thiện giúp ích thành lập mật khu, hành lang vận tải. Sihanouk đã lo rồi, đã phục vụ đắc lực cho Hà Nội và Bắc Kinh. Good job, monsieur le roi!
Lại buồn cười, chiến lược gia chống Cộng quyên tiền lập mật khu để phục quốc, nhưng mật khu lại rất xa VN, không ở biên giới. Họ nói ở Thái Lan mà Thái thì cách VN cả một nước Lào và một nước Miên đỏ lòm.
Khi người Miên nói sẽ dùng Thái Lan làm mật khu để trở về Chùa Tháp thì còn tin được. Người mình California biết thêm “mật khu dĩa giấy”, đang được đưa vào từ điển chiến tranh.

See the source image


Tuesday, March 19, 2019

đào mồ ...Franco


El Valle de los Caidos
Tây Ban Nha, quá khứ, hiện tại
Spain Exhumes Its Painful Past
Omar G. Encarnacion, ttt dịch

Hiếm có kẻ độc tài nào hưởng phận lành và tôn kính, trong khung cảnh dân chủ, sau khi chết như thống tướng tổng tư lệnh Francisco Franco, người cai trị Tây Ban Nha (TBN) từ khi chấm dứt Nội Chiến 1939 cho đến khi chết 1975. Nơi an nghỉ của Franco, El Valle de los Caídos (Thung lũng của những người nằm xuống) ở ngoại ô Madrid là tượng đài công cộng to lớn nhất của TBN, hoàn tất 1959 đánh dấu 20 năm ngày chấm dứt nội chiến. Danh địa nầy có một thánh giá lưu niệm to nhất hoàn cầu, có một nhà thờ dưới đất to nhất trong thế giới Thiên Chúa Giáo, được giáo hoàng John XXIII thánh hóa năm 1960, có một bao lơn rộng rãi nhìn ra phía trường sơn hùng vĩ Guadarrama.

Lăng mộ của Franco nằm chính giữa khu mộ của thánh đường; một nhóm nhỏ linh mục dòng Benedictine, ở luôn trong El Valle hằng ngày cầu nguyện cho linh hồn Franco. Thánh lễ chủ nhật có ca đoàn thiếu nhi hát nhạc Gregoire. Hằng năm vào ngày húy kỵ 20 thg 11 của Franco, vài trăm cảm tình viên đến hành hương và cung bái ‘El Caudillo’ (lãnh tụ chính trị và quân sự) và nhớ đến gia tài của chế độ Falange.

Franco 1939 

Nhưng nay nếu theo đúng đường hướng của thủ tướng Pedro Sanchez (thuộc đảng Xã Hội), El Valle sẽ có bộ mắt mới. Tháng 6, 2018, Sanchez công bố ý định của ông là chuyển hài cốt Franco khỏi El Valle, dời đến một chỗ khác, và biến thánh địa của chủ nghĩa Franco thành nơi tưởng niệm nạn nhân của phát xít. Sanchez giải thích rõ ràng như sau: Một điều “không thể tưởng tượng ở Đức và Ý, hai nước đã là nạn nhân phát xít độc tài, cũng sẽ phải là không tưởng tượng cho xứ sở TBN”.
Như vậy, nếu được thực hiện, dự án El Valle sẽ là bước tiến rất dài trong việc giải quyết những hệ lụy kinh tởm của Nội Chiến và nền độc tài Franco.

Theo sử gia Paul Preston, con số thương vong trong ba năm từ 1936-1939 vô cùng kinh hãi, gây ra bởi phe Franco. Cuốn The Spanish Holocaust cho biết lực lượng của Franco đã tấn công chính quyền Đệ Nhị Cộng Hòa do dân bầu đã tạo nên con số tử vong các loại là gần một triệu người. 200.000 binh sĩ chết trên chiến trường. 200.000 bị hành quyết bởi quân Franco trong cuộc khủng bố đỏ, ngoại trừ 4.000 tu sĩ bị trả thù bởi các thành phần vô chính phủ, cộng sản, quá khích xã hội. Không thể nói con số thường dân bị quân Franco thả bom trong thành phố hay vùng quê.
Những năm hậu chiến cũng không kém tàn bạo. Trong chính sách tận diệt phe chống đối, 20.000 bị hành quyết ngay sau khi ngưng bắn; 370.000 bị đưa vô trại tập trung, chết bệnh chết đói… Nửa triệu người bị đày.
Mãi cho đến 2011, người dân TBN mới biết chế độ Franco đã điều khiển vụ đánh cắp 300.000 trẻ sơ sinh khỏi tay bố mẹ “thiếu tinh thần” và bán cho các gia đình “được (Chúa) chấp thuận”. Được điều động bởi một mạn lưới hắc ám gồm các nam nữ tu sĩ, bác sĩ và công chức, lúc đầu nhằm bắt trẻ nít để trừng phạt cha mẹ “đỏ”,  kế hoạch nầy trở nên một kinh doanh nhiều lợi nhuận.*


Argentine học bài Franco bắt trẻ con, phản đối hoài công

Không giống các với các chính thể dân chủ chuyển tiếp, chương trình giải thể chế độ không dự trù một tòa án liên hệ. Không có việc truy tố các tội nhân trong chính thể Franco như việc tuyên án tử hình các viên chức Nazi tại tòa Nuremberg hay việc tuyên xử tù chung thân bởi tòa quân sự dành cho các kẻ cầm đầu Dirty War* ở Argentine. TBN cũng không có đến việc tha tội cho những người cấu kết với chính quyền độc ác như khi hạ bệ độc tài Salazar ở lân quốc Portugal, cũng không có một thứ như Ủy Hội Hòa Giải ở Nam Phi kê khai tội ác của nhóm kỳ thị apartheid.
Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần buộc tội TBN vi phạm nhân quyền ở mức độ trầm trọng và không làm gì thỏa đáng cho nạn nhân nội chiến.

Franco không bị hạ bệ bởi kẻ thù, trái lại chết bình yên trên giường bệnh. Điều nầy cho phép chính quyền độc đoán nầy cải dạng thành một nền dân chủ sau khi lãnh tụ chết.

Một yếu tố không rõ rệt nhưng ảnh hưởng mạnh, đó là sự thuận hợp gọi là “minh ước tha thứ.” Với sự ủng hộ của quần chúng đã ê chề thương đau nội chiến và muốn có nhanh một nền dân chủ, sự thỏa hiệp chính trị nầy khiến các chính trị gia khắp đấu trường ý thức hệ bỏ qua việc thảo luận ai chịu trách nhiệm và không đưa ra một chính sách nào có thể gợi lại sự đau thương. Họ muốn có một nền dân chủ không dựa trên các sự xung đột. Thậm chí những đề tài như bù trừ bồi thường, xin lỗi hay truy niệm cũng được xem là trái với minh ước tha thứ. Chỉ có một điều đáng nói về nội chiến là khuyên không nên nói tới.
Năm 1986, ngày 50 năm bắt đầu chiến tranh chỉ được đánh dấu bởi một hành vi chính thức duy nhất là lời tuyên bố của thủ tướng Filipe Gonzalez: “Tính chất huynh đệ tương tàn của nội chiến làm cho việc tưởng niệm trở nên không thích đáng. Nội chiến đã chìm sâu vào quá khứ và không chút dính líu đến thực tại của xứ sở”. Những gì phát ra từ miệng vị thủ tướng tả khuynh đầu tiên làm cho lời thệ nguyện giữ im lặng được kéo dài lâu hơn.

Mãi cho đến mấy năm đầu ngàn năm mới, những tập thể như Hội Cựu Tù Nhân của Franco, Hội Tái Lập Ký Ức Lịch Sử đã bắt đầu vận động đổi thay, lập luận rằng nền dân chủ TBN không cần sự che chở của bệnh quên. Các nhóm nầy được hâm nóng vì sự việc TBN đã không thể dẫn độ Pinochet, độc tài Chile, từ Anh để truy tố tội sát hại nhiều công dân TBN và tội với nhân loại; họ vận dụng vụ nầy để lưu ý dân chúng biết rằng việc chuyển tiếp từ độc tài qua dân chủ chưa hoàn tất.

Áp lực đòi duyệt xét quá khứ đã lên cao với đạo luật 2007 có tên: Ký Ức Lịch Sử. Phán định lập pháp nầy – thi hành bởi chính phủ của thủ tướng Jose Luis Rodriguez Zapatero – tuyên bố chế độ Franco là bất chính và đưa ra chương trình đền bù các nạn nhân của sự độc ác thời nội chiến và thời độc tài tiếp theo.
Nhưng luật nầy ngừng ở chỗ thay đổi các đền đài “có ý nghĩa lịch sử” như El Valle. Quyết định nầy phản ảnh thái độ dân chúng lúc ấy; đa số chống lại việc sửa đổi quy mô đài tưởng niệm Franco. Sự do dự nầy cũng cho thấy dân TBN vẫn lơ lửng về Franco. Năm 2008, lần cuối, chính phủ thăm dò ý kiến toàn quốc về Franco: 58% cho rằng “Franco vừa tốt vừa xấu”. Nhưng các cuộc thăm dò dư luận hiện nay cho biết đa số nhận định rằng Franco không đáng được sùng bái tại El Valle.
Mặt khác, đề nghị của chính phủ Sanchez còn nằm trên đường dài phải đi để đến chỗ dung hòa với hệ lụy còn sâu sắc của nội chiến.

Từ nguồn gốc, từ huyền thoại cho đến đường nét kiến trúc, El Valle đã nằm trong tiếng xấu. Việc xây dựng khởi công 1940 để đánh dấu chiến thắng của Franco trong cái gọi là “Chiến tranh cứu rỗi”. Như vậy công trình nầy nhằm tán dương huyền thoại lâu dài nhất của chế độ Franco: đã cứu TBN khỏi sự xáo trộn và bạo động của những năm cộng hòa. Để dân chúng bày tỏ lòng tri ân, Franco không dùng tiền quốc gia để xây El Valle mà dùng nhiều phương pháp gây quỹ khác nhau, trong đó có xổ số đặc biệt toàn quốc.
Theo dự tính đầu tiên, chỉ một năm là xong. Nhưng những khó khăn kinh tế hậu chiến và khó khoét núi đá xây thánh đường buột công trình phải kéo dài 20 mới xong. Để xúc tiến dự án, chế độ Franco phải ép tù binh cộng hòa làm việc tại công trường; tù nhân được hứa sẽ rút ngắn thời gian giam giữ để thưởng công. Năm 2005, nhật báo ABC ở Madrid ước lượng 20 ngàn “cộng hòa” làm việc tại đấy.

 mồ 4.500 tù binh ở Raphael, khai quật 2008

Vào thời Giáo Hoàng đến thánh hóa El Valle, ý nghĩa biểu tượng ngôi đền dài nầy đã thay đổi triệt để: từ đài chiến thắng của Franco đến đài tưởng niệm và hòa giải quốc gia. Sự chuyển hướng nầy nhằm lôi kéo thế giới, gồm Hoa Kỳ, lúc nầy Franco đang tự đánh bóng là một chiến sĩ hàng đầu chống Cộng của Tây Phương. Để đạt mục đích nầy, Franco ra lệnh chôn gấp một số xương cốt của các nạn nhân cả hai bên cuộc tranh chấp, biến nơi nầy thành mồ tập thể lớn nhất thế giới.
Đến nay 33.833 thi hài được chôn tại El Valle, nhiều trường hợp thân nhân không biết hay không ưng thuận. Trong nhiều năm qua, thân nhân không biết các thành viên trong gia đình chôn ở đấy đã tranh đấu đem xương cốt về. Cho đến rất gần đây, chỉ một số nhỏ đạt sự mong cầu. Năm 2016, tòa cho phép khai quật mồ hai anh em ruột là Manuel và Antonio Ramino Lapena Altabas.  Sau khi bị quân Franco hành quyết năm 1936, thi thể cả hai được đem về chôn tại quê quán là tỉnh Catalayud, đông bắc TBN. Sau đó, gia đình không hay biết rằng xương cốt đã được đưa về El Valle 1959 lúc khánh thành. Ngoại trừ sự hiện diện của mấy bộ xương ‘cộng hòa’, đài kỷ niệm không có chút gì liên quan đến hòa đồng quốc gia.
Được mô tả là phát xít và bán cổ điển, thẩm mỹ kiến trúc của công trình nầy – qua tác phẩm của hai kiến trúc sư Pedro Muguruza và Diego Mendez, cùng điêu khắc gia Juan de Avalos – vinh danh đế quốc TBN và đặc biệt vinh danh tu viện hoàng gia El Escorial bên cạnh, do vua Philip II xây thế kỷ 16. Chẳng phải tình cờ: không có giai đoạn nào trong lịch sử TBN có thể sánh ngang với triều đại Philip II trong việc tạo dựng quyền lực hoàn cầu và giáo quyền độc tôn của TCG La Mã tại TBN.

Madrid El Escorial panoramatu viện hoàng gia El Escorial

Tuy vậy, trên hết mọi điều, El Valle vinh hiển các anh hùng và tử đạo trong cuộc thánh chiến vừa TCG vừa quốc gia do Franco lãnh đạo. Dường như để nhấn mạnh điểm nầy, bên cạnh mồ của Franco, ngôi mộ duy nhất có tên là của Jose Antonio Primo de Rivera, sáng lập viên Falange (đảng duy nhất được cấp phép trong xứ TBN của Franco). Rivera bị ám sát năm 1936, một cuộc ám sát hấp tấp đưa đến nội chiến.

Với tiếng không lành nầy, El Valle chiếm một chỗ kỳ dị trong ý thức và lương tri của cả nước. Người TBN khai phóng không những xem El Valle là một sự bối rối của quốc gia mà còn cho là một sáng chế không thể cứu chữa, không đáng để biến thành đài tưởng niệm nội chiến.
Các nhóm khủng bố muốn cho nổ tung El Valle thành cát bụi. Năm 1999, nhóm Cách Mạng Chống Phát Xít (Grapo) đã đặt mìn làm hư một số ghế lễ, 2005 tổ chức ly khai của Basque Eta tuyên bố trách nhiệm giật sập một cây cầu trong công viên El Valle.
Nhưng với người TBN, họ bình thản sinh sống, xem như trên đời không có cái gọi là El Valle. Tuyệt đại đa số người viếng là du khách ngoại quốc (hằng năm 240 ngàn). Thật vậy, người bản xứ đến thăm gồm một nhóm nhỏ tôn sùng Franco. Viễn ảnh một El Valle thay đổi đã đưa họ xuống đường với biểu ngữ: “no se toca” (đừng đụng tới).

Đề nghị của chính phủ Sanchez không thả vào chỗ trống không, bởi vì nó mang theo tiềm năng lợi ích về chính trị. Ông thủ tướng kỳ vọng rằng đương đầu trực diện với thứ chính trị lừa đảo liên quan đến ký ức nội chiến sẽ bảo đảm rằng việc ông thăng tiến tháng 6 vừa qua bằng phiếu bất tín nhiệm chính phủ Mariano Rajoy không phải là chuyện nhỏ, chuyện tầm thường trong lịch sử TBN. Thật vậy, lật ngược vị trí của El Valle nằm trong sách lược để thắng cử vào kỳ bầu phiếu năm 2020.

Trước tiên và trên hết, Sanchez hy vọng làm hăng say hậu cứ tả khuynh, ngõ hầu củng cố liên minh mong manh đưa ông lên ghế thủ tướng, gồm đảng Xã Hội của ông, đảng Podemos (populist) và các đảng quốc gia ở Catalonia và Basque.
Về ý thức hệ, liên minh nầy cũng chính là liên minh ngày xưa nhận mũi dùi đàn áp của Franco. Chuyển hóa El Valle là ưu tiên một của phe Xã Hội từ khi thi hành Luật Ký Ức Lịch Sử nhưng chính phủ tiền nhiệm Rajoy từ 2011 đến 2018 đã làm lu mờ sáng kiến nầy: Một bản phúc trình năm 2011 của một ủy ban chuyên gia  - đề nghị di dời mả Franco là bước đầu tiên để chuyển hóa toàn diện – đã được nghị viện TBN hậu thuẩn bằng cuộc bỏ phiếu không ép buộc năm 2017 nhưng Rajoy lờ đi.

Sanchez muốn khiêu khích phe đối lập đứng lên bênh vực Franco và những di lụy của chế độ độc tài. Lúc đó đến phiên mình, Sanchez sẽ mô tả phe hữu như hàng phế thải, dư đồ của chủ nghĩa Franco. Cho đến nay giới bảo thủ thẳng tay lên án Sanchez đã khơi lại vết thương, đáng lẽ để nó nằm yên. “Tôi sẽ không chi một euro để khai quật mồ Franco” là lập trường thủ lãnh mới của đảng Vì Dân. Đây cũng là lập luận họ dùng để chống dự luật Ký Ưc Lịch Sử.
Nhưng lập luận ấy không thể chận việc thông qua dự luật và nay có lẽ nó không thể chận việc dời mồ Franco. Dư luận quần chúng muốn vậy. Hội Đồng Giám Mục TBN – trước kia phản đối kịch kiệt dự luật nói trên – nay tuyên bố sẽ đứng trung lập trong vấn đề nầy.

Manifestació10J-293.JPG
Catalonia biều tình đòi độc lập

Đồng thời Sancez hy vọng việc quật mồ Franco sẽ gởi một thông điệp minh bạch đến vùng đất bướng bỉnh Catalonia rằng TBN đã được giải thoát khỏi quá khứ Franco. Chủ trương ly khai Catalonia thường được biện minh với lý do tiểu bang nhỏ bé nầy bị chèn ép vào thế kẹt của quá khứ. Thật vậy, Madrid không có cách gì để hóa giải đòi hỏi của Catalonia khác hơn cách đem xương cốt Franco khỏi El Valle.

Sau cùng Sanchez hy vọng thành công chính trị bằng cách thống nhất TBN. Vì cuộc khủng hoảng Catalonia, thống nhất quốc gia trở thành vấn đề quan yếu trong chính trị TBN, vượt xa mối lo âu kinh tế. Thống nhất quốc gia là chìa khóa thành công của đảng Công Dân; đảng nầy có hậu cứ là Catalonia nhưng phản đối mạnh mẽ việc ly khai. Theo các cuộc thăm dò, đảng nầy có thể đánh bại liên minh của Sanchez.

Sứ mệnh của Sanchez không thiếu chôn gai, đặc biệt nếu đi quá trớn. Hiểu điều nầy, ông không có hành động gì phá vỡ chính sách tha thứ (ví dụ đòi truy tố cộng sự viên của Franco; thực tế họ đã quá già, kèm theo hủy bỏ đạo luật ân xá 1977; hoặc thành lập ủy ban điều tra trách nhiệm tội ác thời nội chiến).
Sanchez nếu không khéo léo, sẽ gây ra những luồng khí nóng bất lợi. El Valle là một địa điểm tôn giáo, có nghĩa giáo hội TCG sẽ có phản ứng riêng. Các linh mục Benedictines hiện trụ trì đài kỷ niệm luôn phản đối các thay đổi lớn nhỏ. Xử sự làm sao với xương cốt của Rivera; Rivera, không như Franco, đã bị giết thực sự vì các xung đột nội chiến. Còn cái tên ‘El Valle de los Caidos’ phải thay chăng vì giống như công thức tôn sùng người chết trong phe Franco: “Caídos por Dios y por España” (nằm xuống vì Chúa và vì TBN). Vẫn còn một câu hỏi bỏ ngõ: những kẻ trung thành với phe thua có thèm cái El Valle, có xem El Valle là nơi thích hợp để tưởng niệm những vị đã bỏ mình vì dân chủ vì tự do hay không. Những người ủng hộ cộng hòa trả giá cao nhất ngày nay là nạn nhân chiến tranh bị bỏ quên nhiều nhất, chính họ lùi vào bóng tối không tiếng nói dù muốn dù không.----
Spain Exhumes Its Painful Past

* Năm 2013, khi Hồng Y Bergolio xứ Argentine trở thành đương kim Giáo Hoàng Francis, nhiều câu hỏi được đặt ra phải chăng GH ủng hộ và nhúng tay vào Dirty War hay không. Mọi việc êm xuôi trong vòng một tháng; điều nầy điều nọ được cải chính, ngoại trừ sự im lặng của Ngài.  Nhân dịp nầy, thiên hạ nói lại những kinh hãi trong vòng 10 năm (1974 - 1983) Dirty War từ bàn tay của nhóm quân phiệt lên cầm quyền, như một nhánh nhỏ của Operation Condor ở Nam Mỹ nhằm mục đích diệt trừ tả khuynh. Bên cạnh "thú vui" giết người như thả nạn nhân từ máy bay, thả vào hầm cá sấu, còn có vụ bắt trẻ con, học bài của Franco đồng thời dựa vào một thứ thần học kỳ quái. Có tinh thần dân chủ muốn cải tiến đều là quỷ, thời Franco gọi là "bất túc luân lý", cần giết đi, nhưng bắt con của chúng để cứu rỗi, sống theo đường lối chính thống của tôn giáo, làm con của lớp lãnh đạo. Dịp nầy The New York Times đăng lại lời kêu gọi của một thiếu nữ tìm hài cốt của cha mẹ. Cô cho biết, hằng ngày vào bữa ăn, cha nàng đều dằng cây súng lên bàn, huyên thuyên kể công hôm đó đã giết ai. Khi khá lớn, nàng biết rằng "cha chính trị và tôn giáo" đã giết bố mẹ đẻ (bio parents) để cứu rỗi nàng thoát khỏi một lũ Satan.




See the source image
quốc kỳ TBN



Saturday, March 16, 2019

lòng người vú em



lòng người vú em
Alma Guillermoprioto
điểm phim Roma 2018

Nước chảy trên màn ảnh mấy phút phim mới bắt đầu với một thiếu phụ một tay cầm xô nước, một tay cầm chổi chà. Vùng lót gạch dưới cán chổi là hiên xe của một căn nhà trong khu phố cổ của Mexico City. Nếu bạn là khán giả Mễ thì bạn biết ngay người đàn bà ấy là người giúp việc quét dọn hằng ngày vào buổi sáng. Bạn biết ngay nghề nghiệp của bà ta trước khi thấy mặt, vì nước da ngâm đen, áo quần nghèo nàn, mà còn tỏ ra bình thản và kiên nhẫn.

Quận Colonia Roma không còn tráng lệ như xưa và ngôi nhà nầy cũng đã xuống dốc, tuy khá rộng. Ngoài cô giúp việc Cleo nầy và bà bếp Adela, gia đình chủ khá đông gồm bảy người: hai vợ chồng, bốn đứa con và má vợ.
Ngôi nhà nầy thực tế chính là nhà xưa kia của đạo diễn Alfonso Cuaron của phim Roma nầy. Hư hư thực thực, cuốn phim như kể lại thời thơ ấu sôi động của Alfonso. Nhưng đây lại có thêm nhân vật chính, Cleo, người giữ trẻ với lòng thương mến hơn cả của cha mẹ hay các người giữ em khác.
Cleo nói chuyện với Adela bằng thổ ngữ Mixteco, tức là cả hai cùng gốc miền cao nguyên vô cùng nghèo phía nam gồm hai tiểu bang Puebla và Oaxaca (thực tế Yalitza Aparicio ở nơi quê quán Oaxaca khi được mời đóng vai Cleo, nay cô là một giáo viên tiểu học). Vóc dáng nhỏ thó và khuôn mặt cũng đủ nói lên điều nầy. Các sắc dân khác nhau đã đến định cư, khác nhau về ngôn ngữ tập tục và cả tầm vỏc. Giống xương dài như Apache, Mexicas; thứ đến là Zapotec, Mayas yểu điệu vừa vặn hơn; thấp nhỏ nhất là nhóm Mixteco của Cleo.

Cleo có đến hai gia đình. Một gia đình ở quê nhà trên cao nguyên, gia đình thứ hai ở phố phường Roma, nơi nàng làm việc và sống tại chỗ. Vú em, giữ trẻ thường được xem là một phần bộ của gia đình, mà gia đình là hình ảnh nhỏ của xã hội, là viên gạch xây dựng xã hội. Nhưng trong trường hợp nầy, Cleo thuộc về một gia đình với những tính chất: có đẳng cấp tôn ti, bóc lột, bất công, bất ổn nhưng lại vô cùng trung thành và đầy yêu thương.

Cleo và Adela hình như có họ với nhau. Adela lớn hơn, có lẽ đã đi trước về thành phố để, cũng như Cleo về sau, tìm một cuộc sống khả dĩ tốt đẹp hơn cuộc sống tự tồn với chuổi ngày vô tận làm lụng; cuộc sống ấy đã kéo dài biến phụ nữ thành những bà già khú trước khi đến tuổi 40.

xương rồng, vườn bách thảo Oaxaca

Đời sống ở thủ đô vừa nhộn nhịp vừa vui thú, đối với một Cleo thẹn thùng. Công việc nhẹ nhàng hơn, không như “một thứ trừng phạt” ở quê nhà. Cleo ở chung Adela trong một căn phòng nhỏ phía sau; lúc nào cũng có thể mua ổ bánh mì hay chai nước ngọt. Cả hai đều may có bà chủ dễ chịu, mỗi tuần có một ngày nghỉ. Như bất cứ bà nội trợ toàn thời gian nào, Cleo có những ngày dài như ngày của các đứa trẻ. Nàng hát ru chúng ngủ, ấp ủ khi chúng thức; nàng tự nuôi dưỡng tâm linh bằng những cặp mắt trẻ thơ đầy yêu thương khi nàng chúc chúng ngủ ngon. Cleo ít nói năng khi chúng vây quanh, một phần tiếng Spanish của nàng không trôi chảy. Nhưng với Adela, cả hai trò chuyện ríu rít huyên thuyên bằng tiếng Mixteco về bồ bịch, chủ nhà và các em.

Cleo phải lòng một chàng thị thành khôn lanh tên Fermin. Gã là đứa con trong căn nhà ổ chuột, ngoại ô thủ đô Nezahualcóyotl. Hiện nay chỗ nầy phát triển với triệu dân; nhưng vào thời nói trong phim là một khu sình lầy rất rộng, không đèn đường, không nước máy, không đường điện thoại. Nơi đây làm trạm dừng chân đầu tiên của những người bỏ quê nghèo lên tỉnh. Fermin rượu chè say sưa nhưng học được võ thuật trở thành một kẻ nhiều sức mạnh, múa gậy tài tình. Thế rồi dĩ nhiên Cleo mang bầu; và dĩ nhiên Fermin đã dứt bỏ nàng khi biết tin nầy. Cleo tìm đến Nezahualcóyotl, Fermin nói bào thai không phải của hắn và gọi Cleo là con điếm thúi. Nhìn các xe rác đậu sau bãi tập của nhóm công phu, khán giả biết rõ Fermin là người làm rác.

Bao nhiều điều xẩy ra cho Cleo. Biến cố nguy hại nhất xẩy ra vào dịp lễ Corpus Christi, lễ chuyển mình Thánh Chúa nhằm vào ngày 10 tháng 6, 1971. Một Cleo mang thai gần sinh và bà ngoại các em của cùng đến tiệm bàn ghế mua một cái nôi cho đứa bé sắp sinh. Trong ý hướng nhà đạo diễn tái tạo một ngày lễ Corpus Christi có thật trong đời, chúng ta thấy hai người đàn bà đi xuyên qua một cảnh đường phố mà dân Mễ kéo nhau xem cho biết: dọc theo đường phố là những hàng thiết vận xa nhà binh, xe cảnh sát và cảnh sát viên mang súng đầy mình, và những người mặc thường phục căng đầy khí tiết, không cần che dấu vũ khí. Chúng ta cũng thấy đông đảo thanh niên đi bộ hướng về đường Ribera de San Cosme, để nhập chung với nhóm biểu tình cách đó vài khúc phố. Trong lịch sử, chưa được ba năm sau cuộc thảm sát trong dịp Thế Vận Hội thì xẩy cuộc tuần hành Corpus Christi rầm rộ nhất từ xưa. Cuộc biểu tình bắt đầu với bài quốc ca. Lúc ấy nhạc hậu trường vọng lên quốc ca như ngày xưa. Phim tiếp với những tiếng kêu kinh hãi làm cho khách tiệm bàn ghế dồn đến cửa sổ trông ra.

Ngã tư Ribera de San Cosme Ave có tiệm bán bàn ghế

Bàng hoàng, họ thấy cuộc phản đối tan rả trước sự tấn công của những người dùng gậy gộc và súng. Đoàn biểu tình phân tán như đoàn kiến bị lửa đốt. Giờ đây sự kinh hãi đã từ ngoài đường đi vào trong, đến tận hông của Cleo. Một nhóm sát nhân mặc thường phục ùa vào phòng chưng bày bàn ghế, chỉa súng vào một người biểu tình bị thương chạy vào trốn. Chàng thanh niên bị bắn chết ngay. Một khẩu súng khác chỉa vào mặt Cleo; phía sau mũi súng ấy là một khuôn mặt đằng đằng sát khí hung bạo rừng rú; không ai khác hơn là Fermin. Còn nhớ trong lịch sử cuộc tàn sát ngày lễ Corpus Christi, số đông trong những người đàn áp biểu tình là nhân viên sở rác dưới quyền điều khiển của các ma đầu trong đảng cầm quyền. Sau lần nhận diện điên đảo nầy, Fermin thối lui, hổn loạn tiếp tục; vì xúc động Cleo vỡ bể nước ối, đưa đi bệnh viện, nhưng đứa bé chết trong bụng, giải phẩu lấy ra cũng không cứu được.

Khi tôi còn nhỏ, gia đình lúc nào cũng có người giữ em. Cha mẹ tôi sạch túi, hai bữa nhiều khi chỉ có bánh mì không và cà phê đen. Nhưng lúc nào cũng có người giữ em. Mặc dầu cha mẹ tôi trả tiền không đều, khi đực khi cái, chị không bao giờ thôi việc. Trật tự xã hội thời ấy như vậy.
Carmela cho tôi ăn điểm tâm khi không có cha mẹ ở nhà. Chị đem tôi theo bất cứ chỗ nào chị đi tới: ra chợ, đi mua thức ăn hằng ngày, tiệm sửa giày; ra công viên ngồi trên ghế đá nhìn các con bồ câu, rúc vào lòng chị hỏi lia lịa cái nầy cái kia, và ngay cả chị đem tôi theo về làng xa là Xochimilco. Nơi đây người thân của chị trú ngụ. Và chính nơi đây trên con đường đất bụi, giữa những cánh đồng bắp và những con kênh nhỏ, lần đầu tiên tôi thấy một đám tang vào lúc ngày tàn đêm sắp đến: một bài hát run rẩy trong không trung; mươi lăm người đưa tiển, đàn ông đội nón cói rộng vành, đàn bà quấn khăn dệt (rebozo) quanh mình; ai cũng cầm một cành hoa hay cây đèn; ở giữa có một chiếc hòm nhỏ màu trắng mang thi hài của một “thiên thần nhỏ” (angelito), một hài nhi chết.

Và nay ở Roma cũng có một hài nhi chết; một trẻ sơ sinh chết mà nàng Cloe héo hắc đang nhìn người ta cẩn thận bao kín bằng một khăn liệm nhỏ. Trong quá khứ, các angelito thường bay khỏi lòng mẹ cho nên việc nầy coi rất thường. Bà nội tôi sinh 12 lần nhưng chỉ sáu đứa sống sót. Tùy theo người cha và nếu hôn nhân ổn định, đàn bà thường có bầu để rồi phải xoay xở nuôi năm, tám hay mười đứa con. Đàn bà có thể chết sớm, phần nhiều vào lúc vượt cạn. Lúc ấy người cha thường tục huyền. Người vợ mới lo việc nhà và thường muốn chồng nghĩ đến con mình thay vì con vợ trước.

Gia đình có thể mong manh và là chốn nguy hiểm như Cleo đã biết. Trong thời gian mang thai, Cleo chứng kiến tan vỡ hôn nhân của ông bà chủ nhà. Người chồng mà chúng ta lần đầu tiên thấy về nhà với chiếc xe Ford Galaxie kiêu kỳ, quá to so với chỗ đậu, cũng là bác sĩ giải phẩu Cleo với thai nhi chết trong bụng, người chồng ấy nay có cuộc tình mới; ông đã theo lệnh trái tim là bỏ vợ và gia đình.

Tôi đã hỏi chuyện một số người giúp việc như Cleo. Thật khó cạy miệng mấy người trẻ, nhất là trong trường hợp từ quê lên. Lý do là sợ nói điều chi sai, sợ mất việc. Nhưng những bà khá lớn thì nhiều điều phân bua. Ngạc nhiên là phần đông cho biết họ hạnh phúc trong những gia đình nầy, tuy lắm kẻ than phiền lương lậu rất kém. Tôi thường nghe những lời phẩn nộ đối với chủ đã sa thải không báo trước và không để ý đến tấm lòng của họ. Nghĩ về những đứa trẻ họ chăm sóc thì sao? Một người nói: bị đuổi, chúng tôi phải bỏ mất những đứa bé chứ sao. Nhưng rồi phải tập thương mến những đứa mới, và luôn sợ bị đuổi và mất chúng lần nữa. Một bà đã khóc ròng và than thở: “người ta không để ý đến một sự kiện là chúng tôi yêu thương những đứa trẻ nầy”.

Nếu không hỏi đi hỏi lại thì không ai nói thêm về một sự kiện khác. Đó là những người giữ em nầy có con để lại nơi quê xa như Oaxaca, Hildago, Guerrero …cho bà nội ngoại, cô dì nuôi nấng. Nhiều lần tôi tự hỏi làm sao một vú em có thể an lòng với hoàn cảnh khó khăn nầy.
Bà đi làm cho người ta để bảo đảm cho các con một tương lai tốt đẹp hơn cuộc sống trước mắt. Có thể rằng trong khi các con ăn thịt ôi, xúp loãng thì bà ăn như hoàng hậu. Lũ trẻ dưới sự chăm sóc của bà đòi cho được điện thoại cầm tay mới nhất thì ở quê một điện thoại hư nát cả nhà xài chung. Con cái của chủ vào đại học hàng đầu, học điều hay ho, hanh thông trên đường đời. Trong lúc ấy con của bà phải khó khăn lắm mới bỏ các việc làm tay chân. Bà thân tình với con cái nhà người, con của bà không biết bà trong nghĩa thân thích yêu quý.

Như thế ấy, Cleo yêu mến bốn đứa con của ông bà chủ. Nàng đã làm một phép lạ cho chúng. Cleo đã cứu sống hai em khỏi chết trôi trong cuộc đi tắm biển mặc dầu trước đó nàng chưa bao giờ thấy biển và nàng không biết bơi. (Cuộc du ngoạn nầy do bà chủ tổ chức để nhà trống cho chồng về dọn đồ đạt ra đi). Nhưng có một điều rốt cuộc Cleo phải chấp nhận: nàng không muốn sinh đứa con của kẻ sát nhân Fermin, tuy nàng không gây cái chết cho thai nhi.

Đạo diễn Cuaron không muốn tìm cách vừa lòng khán thính giải bên ngoài Mexico cho nên chuyên chú xứ sở nầy, xoay quanh một nhân vật tầm thường là vú em Cleo, trong sự quyến quận tình thương ở cấp độ khả thi, đồng thời diễn tả cuộc sống sinh động trên quê hương của ông. Roma cũng là đời sống của nhà đạo diễn. Vú em Cleo chính là vú em Libo ngày nào của ông. Tấm lòng của Cleo và của Libo được làm nổi bật bởi những bạo hành bên ngoài xã hội. Cuaron đưa cuộc thảm sát ngày Corpus Christi vào câu chuyện một vú em âm thầm; các nhà phê bình cho đó là một quái chiêu theo nghĩa đẹp.

Roma kết nạp rất nhiều thứ: gà tây đạp mái ve vảng trong hội chợ đầu năm, bán hàng ngoài đường, cánh đồng bắp đang lên tươi tốt, thanh niên bị sát hại, người giàu nhảy múa theo điệu ‘conga’; có cô gái nghèo từ núi rừng Mixteco xuống phố không muốn sinh con với gã sát nhân nhưng cứu sống hai trẻ em khác…trèo cầu thang phía ngoài rung rinh để lên tầng thượng có bồn nước để giặt áo quần sau chuyến du ngoạn biển. Khi tôi xem phim nầy ở New York, khán giả toàn rạp ngồi yên, im lặng nhìn bản liệt kê tài tử và nhân vật trên bối cảnh gây suy tư với cầu thang sắp gảy cùng bóng dáng Cleo và nền trời trong sáng. Khán giả ngồi yên im lặng cho đến khi đèn sáng, thở dài, ra về.

The NY Reviews of Book Feb7,2019


Monday, March 11, 2019

Hoàng Văn Hoan, Tầu và Việt





Hoàng Văn Hoan, Tầu và Việt
Dương T Lp

Thằng Thực trả phép. Có mỗi mình nó là trường hợp đặc biệt được châm chước vì hoàn cảnh nhà điện lên báo tin bố mất. Tiện thể, đơn vị có mấy việc quan trọng muốn nhờ nó, nên đại đội xin ý kiến tiểu đoàn cho về hai tuần chịu tang bố.
Chiến sự nóng bỏng chưa yên nên cả trung đoàn pháo cao xạ của chúng tôi đang trong lệnh giới nghiêm nội bất xuất, ngoại bất nhập, thay nhau trực chiến.
Nó vừa bước chân vào lán, cả trung đội lao tới nói lời chia buồn và đòi nghe kể chuyện gia đình, chuyện Hà Nội. Quà thì chỉ có mấy bao thuốc lá Tam Đảo, mấy gói thuốc lào Tiên Lãng, mấy gói trà Thái, vài thanh kẹo vừng, túi kẹo bột Mễ Trì, một túi sấu chua, cùng xấp báo cũ.
– Cảm ơn, bố tao đã mồ yên mả đẹp rồi, cụ 69 tuổi, 45 tuổi ông mới sinh tao. Thôi cũng gọi là tạm thọ. Chuyện thì nhiều chuyện để kể cho bọn mày nhưng có chuyện này dính dáng đến quê hương thằng Tự Lập đấy.
Anh em lấy thuốc lá thuốc lào hút, lấy kẹo ăn và nhao nhao đòi Thực kể cho nghe.
– Bọn mày biết tin Hoàng Văn Hoan “chẩu” sang Tầu chưa?
– Chưa, chưa? Hoan té sang Tầu lâu chưa? Hồi nào hả Thực? Hồi nào hả anh Thực? Đứa nào cũng nhao nhao hỏi.
– Thế sinh hoạt đơn vị hàng tối mà chính trị viên không thông báo gì à?
– Không.
– Đ. mẹ, dân Hà Nội đồn ầm Hoan “chẩu” sang Tầu cả tuần nay rồi. Mấy trường cấp một cấp hai trong quận Đống Đa nhà tao bị bọn công an quây lại lùng sục đông lắm vì học sinh báo hiệu trưởng thấy trong ngăn bàn lớp học có những mảnh giấy bằng bàn tay ghi: “Tổ quốc đang lúc rối ren lâm nguy nên Hoàng Văn Hoan bỏ đi tìm đường cứu nước”. Mấy thân cây và cột điện xung quanh sân vận động Hàng Đẫy, trước cửa bệnh viện Xanh-Pôn, Quốc Tử Giám, Văn Miếu chúng nó dán giấy cần bán gấp nhà số 6 Hoàng Diệu. Ai có nhu cầu xin đến hỏi trực tiếp chủ nhà Lê-ba, nhà không có số điện thoại.
– Lê-ba là ai?
- Là Lê Duẩn, Ba Duẩn ấy chứ còn ai nữa.
Cả bọn cười tóe, kẻ bán tín người bán nghi hỏi: Có đúng không hả Thực?
– Tao làm sao mà biết đúng hay không? Cứ đến đấy mà hỏi thì chính xác nhất.
Vừa nói, Thực vừa rút mảnh giấy gấp nhỏ xíu nhầu nát nhét ở viền mép ba lô ra. Hắn đảo mắt ngó quanh có vẻ quan trọng rồi mở tờ giấy nói: Tao xin của đứa trẻ hàng xóm nhà tao bài thơ này, nó bảo cũng thấy ở ngăn bàn trường nó học trong ngõ Cẩm Văn, Hàng Bột.
Thằng Ánh “loe” quành tay lấy từ tay Thực mảnh giấy đọc nho nhỏ bài thơ cho anh em đủ nghe vì sợ đại đội trưởng, chính trị viên thấy thì phiền.
Chung Quy Chỉ Tại Thằng Tầu Bạn Ta
Ba Duẩn đòi triệu Trần Hoàn
Cớ sao để sổng thằng Hoan sang Tầu
Trần Hoàn run sợ quỳ tâu
Cái tội sang Tầu phải hỏi ông Chinh
Trường Chinh nghe nói giật mình
Rằng tôi có biết sự tình sao đâu
Ông Đồng bực dọc lầu bầu
Chung quy chỉ tại thằng Tầu bạn ta
Sáu Thọ tức tối vào ra
Tao thề giết hết mả cha thằng Tầu.

Đọc hết bài thơ, mọi người cười. Ánh “loe” không cười. Mấy tháng trước khi nghe chính trị viên đại đội nói tình hình chiến sự phía bắc, rồi nhắc lại câu nói của Đặng Tiểu Bình: “Sáng ăn cơm Bắc Kinh, trưa ăn cơm Hà Nội”.
Ánh ta nghe bỗng nổi dóa chửi lại: “Sáng ăn cơm Hà Nội, trưa ỉa giữa Bắc Kinh, mát đít”. Cả đại đội cười ầm. Chính trị viên Kiệm pha thêm: Để xem đồng chí Ánh có thực hiện được như ước mơ mát đít không?

See the source image

Cả nước đang sục sôi trước lệnh tổng động viên, thì Hoàng Văn Hoan lấy lý do tới Đông Đức chữa bệnh để đào tẩu sang Tàu mấy tháng ngay sau đó vào ngày 11/6/1979, qua ngả sân bay Karachi (Pakistan) có sự hỗ trợ của cục tình báo Hoa Nam; theo cuốn hồi ký (Thiên Thu Định Luận) của chú sử học Hoàng Nhật Tân, con Hoàng Văn Hoan.
Chú Tân là bạn thân của cha tôi từ ngày còn chăn trâu. Chú Tân tặng tôi cuốn đó năm 2009, sau này đọc mới biết: tới Karachi ông Hoan kêu mệt. Nhập viện xong, tối đêm, Hoan chuồn cửa sau gọi xe tắc- xi đến thẳng Lãnh sứ quán Tầu trong thành phố. Bấm chuông, cửa mở, Hoan đi thẳng vào rồi thản nhiên nhấc điện thoại gọi trực tiếp cho thủ tướng guốc vụ viện Lý Bằng đem máy bay đến đón Hoan. Hoan thông thạo cứ như nhân viên của sứ quán. Xuân Thủy đi kèm Hoan lần ấy trở về bị lụy rồi hạ cấp còn anh phụ tá của Hoan tên Thuần bị bắt ngay tại sân bay đi suốt tám năm tù. Người y tá thì bị nhẹ hơn.
Cái ác là vừa tới Bắc Kinh, Hoan đã cho họp báo quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh Tầu đánh Việt Nam vừa xảy ra. Cái ác hơn nữa là Hoan chạy đâu không chạy lại chạy sang nước Tầu.
Bác họ, Dương Văn Lan, nguyên cục trưởng Hối Đoái Ngân Hàng Việt Nam và ông ngoại tôi Hoàng Văn Hợp cùng rời làng ra đi hoạt động với Hoàng Văn Hoan. Hồi ký của Hoan đã mấy lần nhắc đến tên ông tôi. Không may cho ông tôi bị bắt trong cuộc chỉ huy biểu tình Xô-viết Nghệ-tĩnh huyện Quỳnh Lưu. Ông bị tử hình ba ngày sau đó giữa sân huyện lỵ đầu năm 1931.
Trong Bộ Chính trị đảng CSVN, có thể nói Hoàng Văn Hoan là người duy nhất, may mắn nhất, không bị bắt bớ tù đày lấy một ngày dù mang tiếng đi làm cách mạng. Hoan lại là đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh lâu năm nhất khi các chiến hữu của ông còn nếm mật nằm gai, chui bờ nấp dậu trong bưng biền, hay bị tù.
Tôi biết Hoan nói tiếng Tầu như người Tầu, không ai phân biệt được, kể cả phong cách, lối sống. Cảm nhận điều đó là vì khi làm đại sứ, ông đã có hai lần tạt vào chơi với cha mẹ tôi ở khu tập thể Nhà Hát Nhân Dân – Trần Hưng Đạo, Hà Nội, chỉ khoảng mười lăm, hai mươi phút mỗi lần. Có tay cận vệ, hai mắt như mắt rắn, người dân tộc đứng canh chừng sát bên nhìn rất gớm mặt.
Ngày Hoan chạy theo Tầu, cả nước lên án phỉ nhổ, mạt sát, nguyền rủa. Người chửi nặng nề nhất chính là bác Dương Văn Lan của tôi, bác có ảnh chụp chung với Hoàng Văn Hoan khi đi hoạt động trong hồi ký Thiên Thu Định Luận của chú Hoàng Nhật Tân.
Năm 1991, Hoan mất tại Bắc Kinh. Thể theo nguyện vọng di chúc, đảng cộng sản Tàu chia ba phần hài cốt để tro trong ba hộp nhỏ rất đặc biệt. Một hộp chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn ở Thạch Cảnh Sơn, một quận nằm phía tây Bắc Kinh. Nghĩa trang này dành cho các cán bộ cao cấp của đảng giống như nghĩa trang Mai Dịch của ta vậy. Một hộp thì được mang tới Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam. Tại đây tro được rải xuống đầu nguồn con sông Hồng đổ vào nước Việt. Hộp thứ ba, gia đình chú Hoàng Nhật Tân xin đem ông Hoan về chôn cất tại nghĩa trang quê nhà làng Quỳnh Đôi, nơi sinh Hoàng Văn Hoan.

See the source image

Năm 2008 tôi trở về thăm quê hương cha mẹ làng Quỳnh Đôi biền biệt mấy mươi năm xa cách. Sau khi thắp hương nhà thờ tổ họ Dương cho cha, cậu họ Hoàng Duy Hùng, em mẹ tôi, tôi vào thắp hương cho ông ngoại ở nhà thờ tổ họ Hoàng cách đó không xa. Nhìn lên bảng vàng vinh danh tôi ngỡ ngàng đọc các hàng chữ khắc trong tấm đá quí ghi tên các danh nhân họ Hoàng từ nhiều đời ở làng Quỳnh. Có cả tên ông ngoại tôi – Hoàng Văn Hợp, sinh năm 1902, nguyên huyện Ủy viên huyện ủy Quỳnh Lưu… Ngỡ ngàng hơn, có cả Hoàng Văn Hoan, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN; nguyên Phó chủ tịch Quốc Hội; nguyên ủy viên Trung ương; nguyên đại biểu…
– Ơ cậu ơi, sao họ Hoàng ta lại đi vinh danh kẻ phản quốc được? Ngay cả cuốn hồi ký (Giọt Nước Trong Biển Cả) của ông Hoan xuất bản tháng 7/1986 ở Bắc Kinh, cháu đọc được gần trang cuối sách, ông Hoan trả lời phỏng vấn với phóng viên báo chí về việc Lê Duẩn và đồng bọn đã đưa Hoan ra tòa án Tối cao Hà Nội xử tử hình vắng mặt ngày 10/7/1980 rồi. Họ Hoàng làng ta liều thế hả cậu? Không sợ chính phủ huy động quân đội, công an về lùa cả làng vào ngồi tù sao? Cả làng Quỳnh Đôi phản động quá rõ như ban ngày – Tôi khẳng định.
– Vì là chốn đông người tới thắp hương vào ra ồn ào, tí nữa về cậu kể cho nghe. Đừng vội vã hồ đồ như thế, cháu sai đó.
Trên đường về cậu Hùng tôi chậm rãi: Họ Hoàng làng ta đã nhiều lần ngồi họp vấn đề ông Hoan, thực hư trắng đen thế nào cho nó rõ. Họ quyết định để anh trưởng tộc Hoàng Ninh thay mặt họ Hoàng làng Quỳnh năm 1995 năm 2000 và lần cuối đầu năm 2008 mới đây dẫn đoàn họ Hoàng ra Hà Nội xin trung ương bản án tử hình ông Hoàng Văn Hoan bị xử vắng mặt năm 1980 để sao y đem về họ Hoàng của làng làm chứng cho lịch sử sau này. Nhưng cả ba lần họ trả lời ở tòa án Tối cao không có bất kỳ bản án nào như thế đối với ông Hoan. Chẳng qua Lê Duẩn, Lê Đức Thọ … lúc đó tức tối Hoàng Văn Hoan qua mặt họ, qua mặt cả bọn công an Trần Quốc Hoàn, nên mới phịa ra thế thôi. Bọn lãnh đạo nước ta thế hệ sau này rất sợ thằng Tầu. Các cậu biết tỏng ruột gan chúng nó nên mới quyết định khắc tên Hoàng Văn Hoan lên bảng vàng, vinh danh như thế làng ta vừa có thêm danh nhân họ Hoàng, vừa có tiếng là làng yêu nước, không chống đối chúng nó, không bị gọi là phản động mà vinh danh Hoàng Văn Hoan tức là vinh danh… [Cậu đưa tay che miệng nói nhỏ gần kề tai tôi rồi cười rất mỉa mai]. Chúng nó càng thích, thậm chí chúng còn khen và ủng hộ làng Quỳnh Đôi nếu như làng có việc gì cần trung ương giúp đỡ sau này.
– Tôi nghe thấy nóng gáy ông cậu, nhưng vì bề con cháu nên tôi ghìm cục máu ứa trong cổ gằn giọng hỏi lại: Làng Quỳnh Đôi có việc gì cần giúp đỡ nữa hả cậu?
– Cháu cậu còn non lắm, cậu đi với chúng nó đã sáu mươi nhăm năm tuổi đảng, cậu rành bọn này như lòng bàn tay mình.
– Chúng nó bẩn thỉu khốn nạn thế sao cậu vẫn theo là sao? Tôi bắt đầu hơi nóng.
– Có câu: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, cháu từng nghe. Vả lại cậu còn vướng mấy đứa em cháu đang làm. Lỡ chuyện gì bọn nó mất việc lúc này thì khốn, cậu phải tội. Họ Hoàng làng Quỳnh chưa dừng lại đâu. Cháu chờ xem, tới đây các cậu còn đòi lấy một đường phố ở Hà Nội gắn tên Hoàng Văn Hoan.
– Lại thế nữa, cậu có bị…
– Không, cậu không bị tâm thần như thằng cháu của cậu đâu?
Cậu tôi nhỏ nhẹ. Chính cái nhỏ nhẹ lúc này của cậu làm tôi càng điên máu, lộn ruột. Cậu bồi tiếp:
- Rồi cháu của cậu cứ chờ đấy, nhớ lấy lời cậu.
– Nhưng Hà Nội đã kín bảng tên đường rồi, lấy đâu ra chỗ mà nhét Hoàng Văn Hoan thêm nữa, tôi gân cổ.
Cậu vẫn từ tốn nhỏ nhẹ: “Không, ối kẻ không bằng Hoàng Văn Hoan, chẳng hạn phá hoại như tay Tố Hữu mà cũng có tên phố; Lê Duẩn, Lê Đức Thọ …. Khi các cậu đề nghị vinh danh tên phố cho ông Hoan chắc chắn bọn nó phải bóc bớt bỏ đi một kẻ nào đó để thế Hoàng Văn Hoan vào.
Tôi ngán ngẩm không muốn tranh luận nữa.
Bẵng đi mấy năm sau, trong lần gọi điện về thăm cậu đã gần 90 tuổi, nhưng còn minh mẫn lắm, mắt sáng tai tinh.
– Thằng Lập hả, có nhớ lời cậu Hùng nói không?
-  Cháu nhớ chứ cậu.
– Cái Hoa đọc cho cậu nghe trang Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cậu bảo nó nhắn cho thằng Lập ngay, chẳng biết nó nói với cháu chưa?
– Hoa có nhắn và cháu cũng đã xem rồi cậu ạ.
– Đã sáng mắt chưa?
– Sáng lắm rồi cậu ạ.
Hồi Hoa nhắn tin sang cho tôi, tối đó tôi vào mạng mở ngay trang “Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam” – Cơ quan trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Tiếng nói của đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam”.
Các ủy viên Trung ương đảng
Đồng chí Hoàng Văn Hoan
cập nhật lúc 9h 37 ngày 24 / 03 / 2016
Họ và tên: Hoàng Văn Hoan
Tên gọi khác: Hoàng Ngọc Ân
Ngày sinh: 1905
Quê quán: xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Cậu tôi dự đoán cực kỳ chính xác. Đảng cộng sản Việt Nam tuân thủ vâng dạ một lòng theo đảng cộng sản Tầu cứ từ từ, từ từ, âm thầm trả lại tất cả những gì mà Hoan đã phản bội, tự đánh mất nhân cách của mình bốn mươi năm về trước, ghê thật, bọn đảng này cáo già thật. Bọn trộm cướp.
Đọc xong tôi thầm nghĩ: Cậu Hoàng Duy Hùng của cháu Lập thật tài tình, cậu của cháu tài tình lắm, cháu sáng mắt rồi cậu ạ. Giờ thì cháu bái phục cậu.
Phố Hoàng Văn Hoan ở đâu đó trong Hà Nội đã lờ mờ hiện ra trước mắt tôi, không thể là chuyện đùa bỡn nữa.
Munich Germany 2019

A-Celebration-of-Women-Feature-Banner-e1352628808407 (1) 512