add this

Thursday, January 28, 2021

Buồn Thu

Buồn Thu

Nãi Thị Hà Nhân

Tôi có người bạn nói rằng nếu như thích nghệ sĩ, ca sĩ hay văn thi sĩ nào đó thì chỉ chừng đó, đừng nên tìm hiểu gì thêm vì biết nhiều sẽ làm lòng yêu thích của mình không trọn vẹn. Ngày trước ,,,vẫn cười nó quá khích, sau nầy cảm thấy không sai.

rạp Gia Hội điêu tàn
Có một ca khúc của một nhạc sĩ nói về nỗi đau đớn (của ông ta) khi phải chia tay với người mình yêu vì chàng đã có vợ, con mà nàng là một ca sĩ mầm non chưa có gia đình… Bản nhạc cảm động, buồn da diết (ít nhất với tôi), rồi một lần tôi vô tình thấy ông ta giới thiệu nhạc phẩm ấy của mình với gương mặt hớn hở, tươi vui như giới thiệu một bản nhạc tình hạnh phúc!

Tôi thích đọc truyện của một nữ văn sĩ người Huế vì lối văn là lạ và bà viết nhiều chuyện có vẻ rất thâm cung bí sử của Huế. Sau nầy mới biết là huyễn tưởng, bôi nhọ người khác bằng chữ nghĩa của mình.

Cũng như một nhà thơ nổi tiếng vì thơ cũng như tài nghệ có mấy người vợ ai cũng đều được cưới hỏi đàng hoàng vì chàng chuyên thuê người giả làm cha mẹ mình đến cưới.

Nhiều lắm ...

Không trách người mà chỉ trách mình dễ tin. Câu nói “văn là người” hẳn chỉ là câu nói khi trà dư tửu hậu.

Lắm khi nghĩ đến những ca nhạc sĩ hay văn thi sĩ, rồi nghĩ đến vợ hoặc chồng của họ, tôi thực sự bái phục; phải công nhận họ có cái đầu và trái tim bằng sắt. Tôi thì không đủ can đảm và trái tim tôi mong manh, yếu xìu, chết sớm vì ghen mất.

Huế thời xa xưa

Thu năm nay tới sớm và có lẽ mùa đông cũng tới sớm vì mới chớm thu trời đã lạnh hơn mọi năm. Trung thu năm nay trăng đẹp, không bị mây che mờ như những năm trước nhưng dịch cúm tàu nên đành nhà ai nấy ở. Xem phim xem truyện mãi cũng chán, vào thế giới ảo thì vừa hay người bạn chuyển cho nghe một bản nhạc do ca sĩ nội địa hát. Tôi vốn không thích nghe ca sĩ nội địa hát vì loại ngôn ngữ thiếu trước hụt sau, ngây ngô đến sợ; phục sức thì như những con rối rẻ tiền hoặc như nhà nghèo thiếu vải, hát không một chút truyền cảm. Ngay như họ hát "nhạc vàng”, cũng sao sao ấy.

Tôi không hiểu được mình đã nghĩ gì, có phải choáng váng? Tôi uống một ly trà nóng và xem lại. Cảm giác đầu tiên là tội nghiệp cho nhạc sĩ. Trịnh Công Sơn nếu còn sống, khi nghe mụ ca sĩ nầy hát nhạc của mình như vậy thì e là phải chạy ra sông Hương nhảy ùm xuống sông một phát cho hả tức hoặc chơi nguyên một chai Ông Già Cầm Gậy để lãng quên đời. Cảm giác kế tiếp là một con điên đang phê thuốc hát hò cho hạ hoả. Sau cùng là buồn … buồn ghê gớm ...

Bản nhạc được mụ ca sởi nầy hát tại Huế để kỷ niệm Trịnh Công Sơn!

Nếu như mụ hát ở Hà Nội thì cũng qua quít cho xong, nhưng mụ lại hát ở Huế, kỷ niệm ngày giỗ TCS. TCS được xem như là niềm hãnh diện của Huế (chúng ta không nói đến quan niệm chính trị) và thưởng thức nhạc của ông, dân miền Nam đều biết thưởng thức như thế nào, huống chi dân Huế. Để tác phẩm của “danh nhân” xứ mình bị chà đạp, hạ nhục như thế thì cà chua, trứng thối đâu sao không ném hoặc lôi đầu nó xuống mà vẫn ngồi xem như không có gì thì đúng là … "phi ní lô đia".

Huế huyền sử
Nhưng cũng không trách được, bởi Huế bây giờ không phải Huế xưa của những con đường êm ả, những ngôi nhà êm đềm sau những hàng rào bằng cây xanh ngắt đôi lúc chen lẫn những dây tơ hồng vàng ươm hay ẩn mình sau vườn cây rợp mát mà mỗi hoàng hôn, tiếng chuông chùa nhẹ như có như không cùng mùi hương trầm thoảng bay theo gió. Huế với những tà áo trắng e lệ, khép nép với mái tóc thề đen huyền che dưới chiếc nón bài thơ. Huế với áo dài … vâng, những tà áo dài rất đặc biệt của Huế, riêng Huế.

Cơn sóng đỏ đã cuốn phăng bao truyền thống, tinh hoa, văn hoá cùng những tà áo dài, những thiếu phụ dịu đàng, những mái tóc thề đen huyền của Huế! Nhìn những cô gái, những người đàn bà nhuộm tóc hung như râu bắp, áo dài màu mè, kệch cỡm, màu sắc như chưởi nhau hay những cái áo đầm "thời thượng" quê mùa, những quần tây, áo rộng hở vai, hở ngực được khoe nhặng trên “nhà” và bạn bè của họ, tôi đã ngẩn ngơ tự hỏi: "đàn bà Huế đây ư?”

Đâu rồi những tà áo dài trắng như những bông hoa nở rộ, như những cánh bướm lượn lờ, hay những tà áo màu rất dịu, rất trầm rất “cố đô”.

Đâu rồi những cô gái, những người đàn bà Huế ngày xưa đã khiến tôi một thời ngưỡng vọng, cố bắt chước để có được một chút gì của Huế!!!

Mà đâu riêng gì Huế. Cả miền Nam đều đã không còn!

Huế cắm sừng 2019
Tôi đã ngơ ngác thật lâu giữa những con đường, những khu phố, nhìn những người quanh mình. Tôi như lạc vào một thành phố nào đó, không phải là Sài gòn của tôi; mọi thứ đều xa lạ, từ kiến trúc, con người và ngay cả ngôn ngữ.

Lẽ ra tôi không nên trở về để trong lòng vẫn còn giữ mãi mùi hương ngọc lan của những tháng ngày lang thang trên những con đường Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Tú Xương, Lê Ngô Cát. Những ngày mưa nhìn lá me rơi trước trường Quốc Gia Âm Nhạc hay lượm những con cà cuống dưới những gốc cây trước trường Gia Long sau mỗi cơn mưa mà chúng tôi vẫn gọi đùa là trường Mao Bì. Hình như tôi đã khóc. Không! Thật ra tôi đã khóc và đó là lần duy nhất tôi trở lại Sài gòn.

Hãy ngủ bình yên trong đáy tim tôi, để đôi khi nhớ lại, lòng tôi sẽ rưng rưng, sẽ ngậm ngùi để nhớ về một nơi từng là quê hương của mình, một quê hương vàng son rất đẹp, rất thơ nay đã không còn.

"Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?" (thơ Vũ Đình Liên)

Nói mấy cũng không cùng!!!

PS: Không post video vì sợ bẩn nhà mình nhưng bạn nào muốn xem cho biết sự đời thì vào Youtube gõ Hạ Trắng, thanh lam. Lâu rồi, đã mấy năm nhưng cũ người, mới ta.

==================================================

Xin Còn Gọi Tên Nhau 

Trường Sa  *  Ngọc Lan

=================

Tuesday, January 19, 2021

Thiên Thư Thời Nguyễn

 







Thiên Thư Thời Nguyễn

Thiên Thư in the Early Nineteenth Century

Lê Minh Khai

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Trần Trọng Kim dịch


Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà vô cùng đặc sắc; hai câu đầu mang nhiều tính chất lịch sử: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư; tiệt nhiên phận  định tại Thiên Thư”. Sông núi đất nước Nam của, do vua Nam ở, và đã phân định rõ trong Thiên Thư. Thiên Thư được dịch thành Heaven’s Book hay Celestial Book. Thư nầy, “book” nầy nói cái gì trong đó? Không ai dám đoán chắc thứ gì ra thứ gì. Nhiều học giả VN cho rằng bản văn là do thiên cơ bút viết ra, nhưng chẳng có gì làm chứng cớ.

Bài thơ nầy xuất hiện cuối thế kỷ 11 (Lý thường Kiệt chống quân Tàu ngoại xâm). Đầu thế kỷ 11, năm 1008, một cuốn “Thiên Thư” được phát giác tại kinh đô nhà Tống. Suzanne Cahill viết về sự việc nầy như sau:

Ngày 12 tháng 02 năm 1008, một cai gác cỗng hoàng thành đã bắt gặp một tranh cuốn màu vàng bằng lụa, có niêm khằng và buột bằng dây chỉ xanh, treo lửng từ mái ngói của một cỗng thành của Đại Nội. Tống Hoàng Đế Triết Tông (trị vì từ 988 đến 1022) phán rằng cuộn lụa nầy rõ ràng là một món quà trời cho và gọi nó là Thiên Thư 天書; vua quan vui mưng tiếp đón trọng thể.

Câu chuyện nầy và nội dung hết sức phúc tạp. Nhưng theo Suzanne Cahill, sử gia Tàu xem đó là phản ứng vô hiệu hóa sức mạnh quân sự hiển nhiên của tiểu quốc Tây Hạ; hoặc là phản ứng tình trạng bè phái chia rẻ trong triều; hoặc dùng cho cả hai mục đích. Nói khác sự xuất hiện Thiên Thư cho vua Tống có sự giúp sức của Trời để cai trị và thi hành các chính sách cần thiết vào giai đoạn nguy hiểm, ngoại xâm.

“Thiên Thư” trong bài Nam Quốc Sơn Hà trông như đóng vài trò của Thiên Thư phát giác trong cỗng thành triều Tống. Tuy vậy, không chắc ý nghĩa thực sự của nó là gì.

Vài thế kỷ tiếp theo, học giả VN dùng danh tự Thiên Thư một cách dễ hiểu hơn bằng cách giảng luận trong bối cảnh Lão Giáo, rồi cho nó biến thái qua Khổng Giáo. Khổng học cho rằng trời và đất đều có những giềng mối. Những giềng mối nầy được được giải bày qua các ký tự, văn viết của bậc thầy trong Cửa Khổng. Các vị nầy có đức hạnh công chính ghi lại trung thực các quy luật, các nghi lễ của từng vương quốc. Đồng thời cho biết biên cương của các vương quốc được ấn định theo những mô biểu của trời trong tinh thần hòa hợp tam tài, thiên địa nhân.

Qua đến đầu thế kỷ 19, Lê Quang Định, học giả đại thần, đã dùng danh tự “Thiên Thư” trong tinh thần nầy khi viết bài biểu trình vua Gia Long rằng ông đã hoàn tất tập địa dư nhan đề Nhất thống dư địa ký (Gia Long thứ 5, 1806).

Bài biểu có đoạn viết như sau:

Từ thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân qua đến các triều đại Lý, Trần, Lê, Thiên Thư đến Hoành Sơn là dứt. Các tiên vương dựng nước chỉ gồm đất Chàm và Chân Lạp cùng bốn châu Qui Nhơn, Hoài An, Quảng Nam và Bình Thuân. Vào lúc ấy, đất đai vẫn còn chia cắt ở Linh Giang (Sông Danh). Dân chúng không biết đọc, công sở chánh quyền rất nhiều nhưng hổn tạp. Nay nhờ Hoàng Thiên giúp sức, nước nhà đã có một vương triều; đất nước chạy từ phương đông bọc đến chu vi phía nam. Biên cương đã được ổn định; đất đai qui tập về một mối. Giáo huấn của chư Thánh truyền khắp nơi. Tổ tiên nhà Nguyễn đã đưa thanh giáo 聲教 (giáo dục thanh khiết hóa)) đến phía Nam Hoành Sơn. Có nghĩa là Thiên Thư được quảng bá khắp Đàng Trong từ Đèo Ngang mà xuống Nam Vực. Thuận ý Trời Đất, thuận lòng dân. Tiếp tục Nam Quốc Sơn Hà ngàn năm trước.

 Xuất xứ: Thiên Thư in the Early Nineteenth Century




Monday, January 18, 2021

Thơ Tôn Nữ Thu Hồng (1922 - 1946)







êm đềm

Tôn Nữ Thu Hồng

 

Hồi tưởng nhiều mai, dưới ánh dương,

Em vừa tỉnh giấc, dậy bên giường,

Mẹ em đôi mắt đầy âu yếm,

Vây bọc chim khua, rộn giấc hường.

*

Vạn buổi êm trời, dịu mát hương

Chưa bằng đôi mắt chứa yêu đương!

Mẹ hiền tựa cửa, khi chờ ngóng,

Em thấy lòng vui, lướt dặm đường.

*

Cũng có nhiều đêm, gió rít vang,

Mẹ em ốm nặng thức trong màn,

Em ngồi mơ sách người xưa ước,

Nếu có thì em cũng ước tràn.

*

Nếu có thì em: “ước mẹ lành,

Cha cho nhiều bánh với nhiều tranh,

Cây me cao quá, bên vườn bác,

Nghiêng xuống cho em bẻ một cành”.

*

Có lắm hoàng hôn, mải cợt đùa,

Quên rằng bãi bể sóng chiều khua.

Và nhà cơm đợi, chờ em vắng,

Em sắp hàng năm, để chạy đua.

*

Rồi đến trăng nhô mới vội về,

Cha cười, song cũng chỉ roi đe:

“Mai còn chơi chậm thì con liệu

Sắm sửa vài mo để đón che”.

*

Ai có như em, một ấu thời?

Đi tìm bướm bắt để nuôi chơi,

Búp bê đem tắm hơ cho ấm,

Lửa bén vèo! Thôi, cháy mất rồi!

*

Rõ là em cũng quá lôi thôi,

Ai chả còn ghi quãng ấu thời,

Đằng đẵng đường trường cơn gió bụi,

Duy còn ôn lại những ngày vui.


 

Xóm bờ hồ, Huế, êm đềm ngủ trưa


Tôn N
ữ Thu Hồng
  * (1922-1948)

Tôn Nữ Thu Hồng, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1922 tại Tourane (Đà Nẵng), nhưng quê quán gốc là làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Bà thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn, trước học ở Tourane, sau vào học trường Đồng Khánh.

Năm 18 tuổi (1940), bà cho xuất bản tập thơ đầu tiên (và cũng là duy nhất): Sóng thơ. Tập thơ in đẹp (chưa rõ tên nhà xuất bản), có tựa của Đạm Phương nữ sĩ, và tranh vẽ bìa của nữ họa sĩ Mộng Hoa.

Giới thiệu Thu Hồng, quyển Thi nhân Việt Nam có đoạn viết:

“… người có cái ý rất đáng quý là diễn đúng hình dáng riêng của hồn mình. Có thể vì thế mà giọng nói của người có vẻ ngọng nghịu rất ít có trong thơ ta....

Thực ra, Thu Hồng cũng chỉ là trẻ con ở cái giọng, khi người ta muốn sống hoài trong thời thơ ấu…(vì) người thiếu nữ ấy đã biết tình yêu là "mầm chán nản" và người ước ao:

Mầm chán nản chớ len vào niên thiếu,

Chớ len vào sớm quá, tội em mà!

Em nghe như thời ấy vẫn còn xa,

Em chầm chậm để mong còn xa mãi,

Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái,

Hòa nồng hương mà trái lắm khi chua.

Thật là ngây thơ trong trắng :

Kìa trăng vỡ trong hồ khi nước động,

Sóng lao xao lấp loáng, ánh xa ngời.

Và búp hoa nghểnh dậy đón hương trời,

Cây tuôn bóng, lửng lơ, đò chẳng lướt!

Cảnh đẹp cứ dàn thêm bước bước,

Lời ngợi khen mỗi phút lại thay thay.

Tơ lòng với đẹp đêm nay

Rộn ràng thổn thức vì say nhiệm màu.

(Sóng thơ - Tơ lòng với đẹp)

Lúc ấy chỉ ngoài 20 tuổi, nữ sĩ đã bắt đầu nhận thức được cái kiếp ngắn ngủi và buồn tẻ của con người, diễn tả qua bài thơ "Lịch".

Lịch

Lịch trên tường mỗi ban mai tay xé,

Xé dần, đem vứt xuống giỏ mây đan.

Phải đây là xác chết của thời gian?

Mỗi tờ xuống, một ngày đi biệt tích?


Tay ngần ngại cũng thôi đành vô ích,

Lúc bình minh trong sương sớm chưa phai

Là giấy biết thân mình không thể gắng

Người đâu khác dẫu trăm ngàn cay đắng,


Vói tay dài mong níu lại ngày đi

Ý điên rồ người đeo đuổi làm chi,

Tờ mỏng quá, khác đâu ngày qua chóng!

Tình lưu luyến khiến âu sầu phấp phỏng

Lịch cùng ta nào có khác chi nhau?

*

Lịch hàng năm đem thay đổi một màu

Người một tuổi chớ mơ mòng lui lại

Lịch còn mãi, đời đâu dài được mãi?

Tờ rã tan ra tro bụi chôn vùi...

Một giọng thơ tinh tế sâu đằm. Năm 1941, bà và thơ của bà được Hoài Thanh-Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942). Năm 1968, bà lại được Nguyễn Tấn Long-Nguyễn Hữu Trọng giới thiệu trong bộ sách Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), xuất bản tại Sài Gòn. Và theo sách này, thì nữ sĩ Tôn Nữ Thu Hồng đã chết trong một trường hợp bi đát.

Thu Hồng là trí thức nói tiếng Pháp thành thạo, nhà cô thường tụ tập các thanh niên trí thức. Cô bị nghi ngờ làm gián điệp cho Tây, bị công an Việt Minh bắt, giam giữ và tra khảo mấy tháng trời, không lấy được cung. Cuối cùng, giết nhầm còn hơn bỏ sót, cô bị thủ tiêu giữa rừng Thừa Thiên. Nàng thơ ra đi ở tuổi 26. Năm đó là tháng chạp năm 1948.

-------------------------------------------------

Trên đây là phần thứ nhất trong một tài liệu rất dài về các nhà văn học bị sát hại trong thời kháng chiến như Nhượng Tống, Khái Hưng v.v...Nội dung và dàn bài không khác với mục Thu Hồng của Wikipedia.

Cung Tiến * Nguyệt Cầm * Quỳnh Giao

-------------------------------------

Sunday, January 10, 2021

khung ngọc

 


Mute swan family










(Dẫn nhập:
Khung Ngọc * đã đăng Nov 2014)
Mấy hôm rày, hoàng thân Tôn Thất Để gởi cho nhiều hình ảnh thầy trò ở Biên Hòa mà tôi không có cơ duyên biết đến. Nhưng nói đến trường, thế hệ trên dưới thất thập không tránh khỏi những bồi hồi, ngậm ngùi. Trường là nơi linh thiêng, dù đối với những kẻ trốn học như tôi. Trường có những thứ rất xa như ông hiệu trưởng, những thứ rất gần như cụ cai. Bên Khải Định ngày còn ở rể tại Đồng Khánh thì có cụ Thậm, về chốn cũ do Pháp trả lại thì có anh Đức, ông Diên đánh chuông. À há, ông Diên là cứu tinh. Lớp Tam C2 trên lầu của tôi, bức hình Ngô Tổng Thống xoay về cỗng, phản chiếu làm sao mà tôi là kẻ duy nhất thấy ông Diên cầm cây dùi sắt đi vào nhà chơi để đánh chuông đổi giờ hay tan học. Từ đó tôi là cái đồng hồ mang lại nhiều vui thích ngắn hạn cho gần cả lớp. Cũng tại QH, nay nghĩ lại sao mình yếu bóng vía không dám bắt nạt Thạch Trúc đòi mời ly chè bông cau tại quán anh Đức; lính bữa mai cai lính bữa hôm; cô nàng mới từ ĐK qua học đệ nhất.

Ông Diên là nhạc công percussion, đưa cao tiếng chuông như cách nhấn của câu hỏi. Thật vậy, cái chuông hỏi: Muốn chi? muốn chi? Tiếng trống của ĐK đi xuống theo câu trả lời đậm đà: Muốn chồng, muốn chồng.; hoặc làm đày: à, chị muốn chồng, mấy em đi chỗ khác chơi, ra gốc cây học bài, phi tú tài bất thành phu phụ, đó là giá rẻ chớ chị còn muốn cử nhân tiến sĩ.

Nền văn hóa bằng cấp ấy được diễn tả đầy đủ qua cảnh cha mẹ đứng chờ cả ngày, có khi hai ngày, kết quả thi viết tú tài bán và toàn.

Năm năm tiểu học và bảy năm trung học, chương trình không có chỗ dạy bạo động. Dĩ nhiên không tránh những điều vô lý. Vô lý như bắt thằng nhỏ 14 tuổi nghị luận luân lý “nhân chi sơ tánh bản thiện”, câu nói đông tây kim cổ chưa ai đồng ý với nhau. Đôi giày nhảy đầm và đôi giày đi làm bên nào nhẹ hơn, trong lúc thằng nhỏ chưa biết đôi guốc gỗ tròn hay vuông. Cũng như cuối thập niên 60, miền nam mới có vài giờ truyền hình, ít ai có TV, may lắm là đánh đu cửa sổ nhà người dòm ké; thế mà bộ giáo dục ra đề thi tuyển: em hãy tả một buổi gia đình ngồi bên nhau xem TV.
Chương trình soạn theo lối kiến thức tổng quát, biết cái nầy một chút cái kia một chút, để cùng đi với chuyên gia một đoạn ngắn mà không lạc đường (faire un bout de chemin avec le technicien sans s’égarer).
Tựu trung, theo thiển ý, có một nền móng nhân bản, không mang tính chất phi nhân.

Văn hóa là chút gì còn lại sau khi đã quên tất cả. Sau cuộc đổi đời, trí óc của tôi là cái bàn cạo sạch láng (tabula rasa). Nhưng cảm ơn tiềm thức, kho lẫm ngổn ngang; buồn vui không chiếm hết mà còn chừa một xó nhỏ cho những ý đạo, những ước mơ xưa cũ không vời đến được.

Những ước mơ ấy chạy nhanh với ngôn ngữ thô lỗ, hay đúng hơn những dòng thô lỗ chạy nhanh cho kịp những ước mơ trào lên khi cửa lòng mở ra. Trong hoàn cảnh ấy Khung Ngọc ra đời. Khung ngọc là mái trường tranh tre cho các em tỵ nạn, vừa là ngôi trường biểu tượng trong tâm thức mà tôi theo học cho đến giờ chót trên cõi Diêm Phủ Đề nầy.

Vì phải ra khỏi trại, tôi bỏ lững không cho chấm dứt. Rứa mà có chỗ dùng, nó như sự học của mình, biết bao giờ cho đủ để mà thôi. 
Tôi cũng xin cảm ơn người con gái ôm một mảnh gỗ làm con số của hồ sơ, miếng gỗ được xem là con thuyền trong lý lịch của cô. Trên đất liền, cô đã hét la trong đêm như mê ảo loạn. Sau mấy ngày cung phụng liền tay, cô được một người lớn tuổi đưa ra phía sau tàu. Ông nói tiếng quốc tế làm sao cho cô hiểu là cô phải đi không thì chúng sẽ giết. Ông tròng cái phao cho cô và xô cô xuống biển. Ước chừng nửa ngày sau, gió, thần linh, ơn trên …đưa một mành ván đến gần, cô chụp lấy tăng sức nổi cùng với cái phao; hơn một ngày nữa cô tấp vào bãi cát, bất tĩnh. Ông già buộc cô đi tìm cái sống trong cái chết. Cô tìm được, và may hơn một nữ bác sĩ nhà ở Cầu Lòn đã chết vì sự đòi hỏi thô bạo của nhóm chủ ghe cào trên vịnh Xiêm La. (chỉ một trong vô số trường hợp khác).

Khi mở trường tranh tre nầy, cô dạy toán lớp nhì tiểu học và là cô giáo của Khung Ngọc.

Nhân bài giới thiệu trường xưa của bạn Để, tôi xin đội ơn các thầy mà tôi không nhớ ai là ai. Tôi xin tưởng niệm đến thầy Liên, vùng Nam Giao, dạy hai chữ i tờ và dạy viết chữ i bằng gạch sổ đứng và nghiêng. Tôi xin tưởng niệm đến thầy Cao Hữu Hoành dạy những tư tưởng khai phóng và nhân bản của thế kỷ 18 “Ánh Sáng” với Montesquieu, Diderot, Rousseau. Thầy đã giảng từng chương truyện ngắn Candide của Voltaire, thầy nhấn mạnh cái thâm sâu của câu cuối cùng: Il faut cultiver notre jardin.

Vâng, phải trồng tỉa vun xới mảnh vườn của chúng ta; mảnh vườn trồng rau đậu sống qua ngày, mảnh vườn của tâm hồn của hoa tạng, mảnh vườn của liên kết tin yêu: ôi, nhân loại trong ta; ôi, nhân loại ngoài ta.


Thung lũng Subligna, Georgia ngày cuối năm 2012


khung ngọc
tôn thất tuệ

Con rắn mướt ngẩn ngơ tìm chỗ ngủ
con dế mèn trông ngóng dải cát êm
con cú vọ buồn tênh không muốn quày trở lại
thả tiếng kêu thương nhớ những cây điều.
Anh quì xuống tạ ơn và tạ lỗi
đám cỏ tranh và những ngọn lá điều
cả côn trùng thú vật và chim muông
những mốc đá nằm yên như thiền định.
Anh tạ ơn và tạ lỗi với muôn loài
bỏ tất cả khung trời tương mộng
đi về đâu ai chẳng biết đi về đâu.
Anh chỉ biết đất nầy của họ
em dẫm lên bên dấu bước của học trò
một lũ trẻ hồn nhiên như dế mọn.

@

Đây một thuở rừng cây hoang dại
nắng cháy nồng mà cỏ mát êm nhung
gió đùa lạnh mà côn trùng không rên xiết.
Lời cây cỏ anh nghe rõ từng ngày
nhạc của trời vuốt nhẹ nhánh me khô.
Có những lúc anh tưởng là Đào Nguyên trong tay áo
Lạc vào rừng nghe hát tiếng trong xanh
ru thống khổ hồn ai lưu lạc.

@

Và giờ đây anh bước vào khung ngọc
một khung trời tuổi ngọc của em thơ.
Anh vẫn gọi Vườn Đào nơi ấy
chút Đào Nguyên anh mơ mãi trong lòng.
Thôi hãy nhận Bồng Lai là có thật
để tâm hồn ngơi nghỉ ước mơ
để không chết khô cằn trong cuộc sống.

@

Sau một chuyến đi dài trên nước
sóng thuyền ru hơi ngộp gió ngàn
ta đã thấy biển mây là một
cả cỏi trời dốc ngược đảo điên.
Ta không thấy ánh trăng ngà ngọc
trăng hiền lành trăng nhẹ trên cành cây.
Rồi tâm cảm nổi lên dông tố
xoáy cõi lòng bão lửa đắng cay.

@

Nhưng khung ngọc giờ đây in nếp
tấm gương lành như mặt nước hồ yên
em soi sáng tâm hồn mẹ dựng
anh soi sáng hồn thơ ý nhạc
ta thắp sáng tâm hồn đám trẻ.

Em nghe đây một mẩu chuyện đời xưa
chuyện trong rừng Ấn Độ
rốn suy tư của Châu Á nín thinh.
Tiếng săn đuổi người la người hét
hổ mẹ già đang đợi phút sinh con
nhưng phải chạy rớt rơi con ở lại
lạc vào rừng không tìm được dấu con thơ.
Và hổ bé lớn lên bên đàn sói
và tưởng mình là sói,
nói tiếng sói, uống sữa sói.
Nhưng hôm ấy, hổ con
bước lửng lơ hồ yên lặng gió
nhìn xuống nước hổ không thấy mình là sói
mà giòng dỏi của một loài vương giả
Chúa Sơn Lâm ta mang giòng máu trong người.

Hổ kiêu hảnh hổ đã thấy được mình
tung buồng phổi làm loa gọi núi
báo tin lành cho muôn loại thần dân
giờ sinh hạ của một hoàng tử hổ
truyền quan thái sử ghi vào đá
ngày sinh đích thực: ngày hôm nay
ngày ta gióng tiếng gọi rừng.

@

Anh đã nói em soi tâm hồn mẹ dựng
cho lắng yên như mặt nước hồ yên
em khơi lại những gì đã mất
trong phi nhân trong ý hướng bạo tàn.
Trên hồ lắng lòng em trải rộng
một cánh đồng em gieo mạ tình thương.
Anh muốn nói "tâm điền" danh từ của các cụ.
Đây một lời ta mượn của Nguyễn Du:
"cái tâm kia mới bằng ba chữ tài"*,
một kết luận xây lên bằng từng khúc ruột;
ôi đoạn trường ta biết sau mấy ngọn giáo dâm;
những khúc ruột em cắt ra em để lại
trên quê nhà mà không phải quê ta.

@

Anh biết chứ
        lòng nhớ nước buồn quay cát bụi
        nỗi nhớ nhà ai hát nước mắt rơi.
Nhưng bi thảm sầu thương xin gói lại
dấu trong lòng như một khối riêng tư
cho trổi dậy khi nguồn cơn thác lũ
khi hét lên trong giấc ngủ loạn mê.

Ai cũng khổ trên đoạn đường hiện hữu
tấm thân nầy đời dập tấm thân tôi
"mảnh quần hồng hoen ố rượu rơi"**
Tỳ bà dạo tiếng ca trên nước
vẽ tranh đời vẽ khuôn mặt mọi người.
Dù thế ấy vẫn tin yêu mà sống
mảnh vườn ta ta trồng xới cho ngày mai
tìm thăng hóa từ tim ta thăng hóa
tình thăng hoa nơi lũ trẻ tinh hoa.

Anh quì xuống xin em soi sáng
những em thơ như hổ nhỏ lạc đàn
rồi phải sống trong vùng lang sói
tìm nơi em hồ gương gió lắng
một hồ gương soi rõ ánh trăng sao
và lũ trẻ soi lên tìm nhân tính,
biết tình người và được khai sinh.
Anh quì xuống vì trong em có Mẹ
Mẹ Nhân Từ và Mẹ Quán Thế Âm.
Chính vì thế anh theo em vào khung ngọc.

@

Có những lúc anh ngồi bên ghế đá
nặng trĩu lòng cho đá cuội lên mây
cho ý tưởng giam cầm nơi thiên đàn hay địa ngục
phá then vàng đốt cháy bức tường ngăn
dù ở đó là nơi Cung quản xứ loài tiên
và địa ngục có bầy ác qủi.

U tịch lắng trầm buồn tiếng gọi
não nề trĩu cánh tay.
Dành tất cả cho em nguồn tâm cảm
như ánh sáng còn vương màu nắng.
Anh nhỏ bé như côn trùng xới đất
sợ tiếng sét chiều dông mưa gió.
Anh xin em một bóng cây im rậm
mống cầu vồng nối lại hai vùng mây.

@

Chiều hôm ấy một buổi chiều nắng ấm
anh đứng mãi nhìn ngôi trường em dạy
gió bồng bềnh tóc lạc theo đường mây.
Anh chờ nghe nhạc nắng của ngày
ngày hôm đó em quên anh đi vào lớp.
Anh trở lại con người ích kỷ
anh thầm ghen với lũ học trò.
Ai hóa kiếp cho tôi thành đứa nhỏ
tôi ngồi nghe cô giáo giảng bài
tôi sẽ viết một khúc ca rất dẻo
vì cô tôi mặc chiếc áo màu hồng nhạt
hoa không cài nhưng vẽ nhẹ tà áo bay
màu hồng ngọc như khung trời tuổi ngọc.

Tôi quá sợ cô giáo hỏi bài
những công thức toán học mà cô dạy
không giúp tôi hiểu được tà áo bay
không hiểu được màu hồng ửng nhẹ
chuổi hoa màu rất dẻo như bàn tay
cô tôi vẽ đường bay vòng qũi đạo
đưa con người khám phá cõi lòng sâu
nơi trú ấn của vườn hoa nhân loại.

Tôi lơ đãng nhìn hàng rào xanh ngắc
giải mây hồng lơ lửng trời cao
tôi hoản sợ vì mất cô giáo
tà áo bay bay mãi vời cao.
Mắt quay lại nhìn lên bảng
cô còn đây, cô vẫn mặc chiếc áo hồng
và từ đó tôi chăm chú như người ngoan đạo.
Bờ suối tóc hoa vàng đã trổ
mimosa hoa nở hoa màu vàng
phấn tre mọt rơi từ mái lá,
phấn thông vàng trời thả trên tóc ai.

Một buổi chiều sao trời đẹp thế
cây câm nín nghe lời yên lặng
nghe thì thầm sỏi đá kề nhau
khúc đường ngắn giăng ngang khung ngọc.
Anh muốn nghỉ như ngày xưa nghỉ học
xuống bến đò xem những con đò đi
tà áo trắng dài theo mạn gỗ
dòng sông Hương xanh biếc đã đổi màu
màu trắng đẹp thiên nga trường Đồng Khánh.

Nhưng lũ trẻ kéo anh về với thực tại
giờ sinh ngữ một tuần mấy buổi.
Bên danh từ thực tế như đồng lúa
anh vẫn giảng một lời thơ bình dị:
Đường Sữa trắng hay Ngân Hà vịt lội
kéo hoa sen phơi nhụy trưa hè
mùa nghỉ nắng ve kêu gốc phượng
chia tay nhau rồi gặp lại mùa thu.

Xin đừng trách đem lời ru ngủ.
Tâm hồn trẻ là bài thơ tuyệt diệu
trẻ làm thơ khi mấp mé nụ cười
và hát nhạc khi ê a gọi mẹ.
Ai dạy được một bài thơ nhân loại
ở nơi em, ở nơi lũ học trò.
Ai xóa được một bài thơ nhân loại
dấy trong em rồi chuyển đến ngàn sau.

Trại TN Thái Lan 12.1982

(chưa hoàn tất như dự định và sẽ không bao giờ hoàn tất. Khung cảnh là ngôi trường tranh tre trong trại tỵ nan. Cô giáo trong bài đã được hải tặc buông tha, thà xuống biển với một miếng gỗ làm phao trôi vào bờ).
* Kiều, Nguyễn Du
* *Tỳ Bà Hành, Bạch Cư Dị