add this

Friday, March 20, 2015

Tâm Phật, truyện Nhị Tường


TÂM PHẬT
Nhị Tường
Hạ bước vào quán lúc 12 giờ trưa, cô đảo mắt nhìn quanh, thật khó tìm một chỗ ngồi rộng rãi ở cái quán nổi tiếng là thức ăn ngon này, cuối cùng cô cũng tìm được chỗ ngồi gần cửa ra vào, nơi một cặp vợ chồng vừa đứng lên. Luồng khói đâu đó mù mịt túa vào chỗ Hạ ngồi, xuất phát từ bàn bên, những người ăn mặc sang trọng đang ngả nghiêng, ồn ào nâng ly, cụng chén..., họ đang nướng những miếng thịt bò thơm phức làm cho cái dạ dày của Hạ thêm cồn cào, Hạ vẫn kêu cho mình một dĩa cơm sườn như mọi khi...
Nhìn ra cửa, Hạ thấy một bà già từ nãy giờ ngồi bên cạnh cửa nhìn vào quán, thỉnh thoảng lại nuốt nước bọt. Hạ bỗng thấy bực tức khi bàn bên cạnh vẫn ồn ào, họ gọi thêm két bia không biết là thứ mấy, đồ ăn vẫn ê hề nhưng họ có đụng đến đâu. Trông cứ như là chết khát ấy, uống và uống và chúc tụng nhau những lời nhạt nhẽo vô duyên nhất trên đời. Họ lôi tất cả những thứ gì họ chợt nhớ đến để uống mừng ...
Bà già vẫn ngồi đó, không hề chìa tay để xin tiền bố thí, nhưng nhìn vẻ tiều tụy của bà, Hạ biết chắc rằng bà rất đói. Cô chạnh lòng chợt nhớ tới mẹ cô. Ngày cô còn nhỏ, bố đã bỏ hai mẹ con cô đi biệt, để lại cho mẹ biết bao nỗi khó khăn vất vả, và để lại cho cô một thời thơ ấu bị chế giễu là đồ không cha. Cô đã vượt lên trên tất cả những sự cơ cực bằng cách miệt mài học tập và bằng gánh xôi buổi sáng, tủ thuốc lá buổi tối của mẹ. Bây giờ khi đã kiếm ra được kha khá tiền thì mẹ cô đã đi về bên kia thế giới với chứng bệnh lao phổi. Có lẽ mẹ chưa bao giờ được bước vào quán, dù là một quán ăn rẻ tiền nhất, chưa bao giờ được cầm bảng thực đơn mà lựa chọn món ăn. Chưa bao giờ được lau khuôn mặt quanh năm bụi bặm của mình bằng chiếc khăn mát lạnh, trắng muốt thơm phức như thế này. Nghĩ như thế, Hạ chợt ứa nước mắt, dĩa cơm sườn chừng như khó nuốt mặc dù mới đó Hạ đã đói cồn cào. Hạ lại nhìn bà già, cô đứng dậy và bước ra chỗ bà ngồi:
- Cháu mua cho bà một dĩa cơm thập cẩm nhé!
Mắt bà già ánh lên nỗi vui mừng:
- Cảm ơn cô, nhưng xin cô mua cho tôi một dĩa cơm trắng thôi.
Hạ ngạc nhiên:
- Ủa , sao lại thế, cháu đãi bà mà.
Một nụ cười nhỏ nhẻ trên khuôn mặt đã già nua:
- Tôi ăn chay cô à, hôm nay ngày rằm mà.
"Hôm nay ngày rằm" Hạ lặp lại một cách vô thức, cô nhìn bà già như nhìn một vị thánh, một kẻ cơ cực lầm than, trong đời mấy khi được ai đó mời một dĩa cơm, thế mà bây giờ bà đã từ chối chỉ vì "hôm nay ngày rằm". Hạ không biết vì lẽ gì, một kẻ có cuộc sống hoàn toàn không có gì sung sướng như bà đã tin vào Phật, phải chăng bà tin rằng con người có tiền kiếp và ăn chay thì sẽ có một số kiếp sung sướng hơn ở kiếp sau?  Hạ đã từng thấy lắm bà giàu có mua những bó hoa thật sang trọng để lên chùa lễ Phật, vẫn chửi nhau sa sả mua gian bán lận, chừng như những hương hoa kia để họ mua lấy một chỗ ở thiên đường. Những gia đình trưởng giả bày ra nấu những bữa tiệc chay linh đình giả ra món gà chay, giả trứng cút, ba ba, xúp cua ..v.v. Họ ăn chay nhưng lòng họ vẫn vương vấn những món ăn trần tục. Còn bà già ăn xin này, giữa những món ăn thơm phưng phức, giữa những kẻ nhậu nhẹt bê tha, bà vẫn giữ nguyên một tâm hồn của một vị chân tu.
Hạ gọi cho bà một dĩa cơm trắng, và tò mò xem bà ăn cơm với thứ gì. Rất chậm rãi, từ trong túi áo bà ba rách bà đã lôi ra một gói muối ớt nhỏ. Nhìn bà ăn cơm trắng với muối ớt một cách bình thản, Hạ thấy bà thật hạnh phúc. Vì ngay cả chính những người cẩn thận đến nỗi đã dành riêng một loại chén đĩa cho những ngày chay, và ngay chính Hạ cũng không thể nào có được một đức tin như bà.-




Vegetarians.jpg




Wednesday, March 18, 2015

cầm tấu khúc thúy nại

Johannes Brahms 
(1833-1897)


cầm tấu khúc thúy nại của Brahms
tôn thất tuệ

Tôi vn nghe mt chút Brahms chiu vô vng
v trên cành như tay người đó phiếm ngà yêu
sương lãng đãng c tìm nơi trú n
nhc tng cơn qut mnh gót chân mù.
Tôi cũng biết Brahms yêu người đó
k có chng, chng chết gia dòng sông.

Clara hi, em ôm Schumann trong hn nhc
v nhng no bước chân la đếm nhp
và tiếng thơ nơi dương cm vng li
vách thinh không xuyên thng nghe tiếng em ru.
Có vách núi rêu leo không bám
sương trt chân gi mòn góc b
đng sng sng chia ngang đi hai cõi
vách thinh không hay vách đá cheo leo?
Em đi qua mt chiu vng lnh
đá sũng mm tay nh tơ vương
làm dòng sui cho người theo em tiếng nhc
ta thn bun làm con cá trôi xuôi.

Tôi vn nghe mt chút Brahms chiu vô vng;
con kiến bò nh quá không gi được làn da
mt du lng trong trường thiên tu khúc
tôi nhm mt trn chy cái hư vô
dáng oai phong lm lit nhưng hin hòa
tay Clara buông th tiếng đàn theo.
Tôi quán tưởng cái không gian
ngoài cái không gian hin có
vi mưa xuân by chim là ht đu
du trm tư là mch máu ca rng hoa.

Nơi thế gii mà loài người
xin đầu thai làm rong bin
sóng âm thm v đá tiếng yêu em
có bui sáng mà hoàng hôn tri dy
cho ta v ngàn kiếp thu xa xưa
cho ta thy Brahms tìm giai điu
viết cho em cm tu khúc Thúy Ni

như ngày nay ta tìm mt ý thơ
cho người đó thu xa xưa
nghn tt li trong mt bui chiu vô vng.

Clara hi, gi h ta
sương bun lãng đãng
mt chút Brahms vô vng chiu nay.-


Johannes Brahms
Piano Concerto No.2
Hélène Grimaud

Clara Schumann / Robert Schumann / Johannes Brahms
Clara Schumann
(1819-1896)

Wednesday, March 11, 2015

cúng làng

đình làng Thổ Tang, Vĩnh Phúc từ thời Hậu Lê

cúng làng

tạp ghi của Tôn Thất Tuệ
Quái tặc sao có đám người xúm xít làm cái chòi kiểu thương phế binh chiếm lề đường. Ở Mỹ đâu dễ gì, đất của bạn mà còn phải theo luật lệ đủ thứ. Nhưng tôi tìm hiểu thêm, đó là cái hộp làm bằng những vật liệu thô sơ cho một mục đích vô cùng ngắn hạn, một ngày rồi tháo đi, một thứ "khách sạn" tiếp ông thần hoàng của làng từ bên nhà bay qua nửa trái đất đến với họ mỗi năm một lần. Xin mọi người biết cho rằng tuy hơi kỳ kỳ mà rất quan trọng, quan trọng lắm đa. Chỗ tôi đang nói đây là góc đường Tait, Linda Vista San Diego, ngày hè 22.12.1985.

Xin mời Ngài, Tiên Sư của làng Nam Thọ, Quảng Nam, xin mời Ngài an tọa cho đôi hia vạn dặm được nghỉ sau chuyến đi nửa trái đất qua Thái Bình Dương. Xin mời Ngài ngồi đây cho những đứa con làng Nam Thọ cúng Ngài, lạy Ngài. 

Ô kìa, sao Ngài có vẻ buồn? Sau khi đưa mắt nhìn vật liệu thô sơ dùng để dựng cái hộp nầy, Ngài nhìn xuống. Tôi tin Ngài không cần cái vật chất bề ngoài, Ngài không buồn vì chúng tôi không mời Ngài về khách sạn Hilton. Tôi đoán Ngài buồn vì thương chúng tôi nghèo phải dùng mấy thứ tồi tệ nầy. Ngài thương chúng tôi. Cảm động quá. Chúng tôi ai cũng nghèo, làm cu ki, hốt rác, cắt cỏ, chùi nhà. Tuy vậy chúng tôi có thể thuê một trung tâm sinh hoạt. Mà chúng tôi không làm, không phải vì sợ ăn mắm nêm vấy bẩn nhà người ta. Xứ nầy đủ thứ thuốc tẩy mùi, không như bên nhà phải lấy xác trà chà lên bàn để mất mùi nước mắm. Ở đây chùi nhà đã thành một kỹ nghệ. 

Ngài biết rõ hơn tôi, nơi đình làng có cái sân rộng. Cây đa lớn lắm nhưng không đủ che bóng mát cho cả làng đến dự lễ tế và đình đám, vả lại mặt trời không đứng yên để duy trì bóng cây ở một chỗ nhất định. Cái rạp đã được dựng lên. Chú Ngọ cuối làng vác hai cây lồ ô, ông Xuyên đã trên sáu mươi kẹp nách bó lạt tre một cách trịnh trọng rồi khoe đã gần một tháng ông mượn cho được cái kính mà chẻ, rồi nung vào lửa cho nó dẻo để đóng góp vào cái rạp hôm nay.

Ông già tôi lè kè hai ngọn lá dừa, trông thật vui như con công kéo lê cái đuôi xinh đẹp. Mẹ tôi đội cái nia trên đầu. Cái nia to lắm, bà phải dang cả hai tay giữ lấy như chiếc nón thượng quai tua ngoài Bắc. Tôi thấy mẹ tôi đẹp quá, tôi bảo bà dừng lại chờ tôi. Tôi chạy vào nhà kiếm cho được cái nia nhỏ đội lên đầu như mẹ để đi theo đến đình làng. Con nít thì háu ăn, dọc đường tôi tưởng tượng thịt và xôi nhiều lắm bỏ đầy cái nia mà mang về. Đến nơi hai ngọn lá dừa đưa lên khung tre để che nắng và cái nia trên đầu mẹ tôi cũng lên nằm gần đó làm mái cho cái rạp ngoài sân. Tôi cũng dự phần với cái nia nhỏ đội trên đầu. 

Ở xứ nầy không cái nia ấy, không có đôi lá dừa ấy, không có những cây tre lồ ô ấy hay bó lạt của ông Xuyên nên chúng tôi dùng những khúc gỗ, những tấm váng ép những miếng nylon. Và như tổ kiến, chúng tôi dựng cái hộp nầy. 

Tôi cũng khoe với Ngài có cái cây bạc hà cao như cây đa làng mình. Dưới bóng cây kia trẻ con chơi đùa. Tựa vào cây kia ngồi bệt trên cỏ, kìa, là con Sáu, vợ thằng Sáu Lâm. Cái con Sáu bụng thề lè có mang sáu tháng, ngồi chờ để rửa bát. Hôm nọ tôi ghé lại nhà tự nhiên tôi nhắc bầu cử sang năm, nó dửng dưng như câm như điếc. Sau đó tôi nói buổi lễ cúng làng, nó mắt sáng lên, dành cho được việc rửa chén chiều nay; nó kể mẹ nó lúc có mang sáu tháng như nó mà đi gánh nước rửa chén và nấu nướng ở một buổi cúng làng thế này. 

Nói chuyện con Sáu mà quên cái nầy. Ngài mới qua có lẽ Ngài hiểu. Người ở đây không hiểu việc làm lỉnh kỉnh như bê khúc gỗ, căn tấm bố. Họ nói chúng tôi ngu. Cái gì cũng sẵn, bỏ tý tiền ra thuê là xong. Thì giờ là vàng ngọc. Đúng, chúng tôi cũng theo qui luật ấy. Nhưng làm cái hộp nầy như cha ông chúng tôi làm cái rạp trước đình. Chúng tôi không hủ lậu đâu. 

Có chuyện như thế nầy. Một người bỏ ra mười đô để mua một thân cây chuối bằng bắp tay mà ăn gỏi (nộm) ai cũng cười là vô lý. Nhưng tôi thấy hắn khoái chí vô cùng. Cái đĩa nộm trước mắt. Thân chuối thái mỏng trắng xóa làm nền cho những con tôm luột đỏ bên cạnh những ngọn lá rau thơm xanh biếc. Tôi trông hắn ăn, hắn ăn như ăn cả buổi chiều gió nhẹ thổi qua bụi chuối sau hè. Hắn ăn như ăn luôn cả thúng rác mục mà mẹ hắn ủ vào gốc cây. Hắn như ăn cả một quá khứ, cả một thời niên thiếu chờ đợi quả chuối chín vàng. Hắn ăn nhiều đến thế mà chỉ bỏ mười đồng có gì vô lý; quá rẻ như cho không. 

Cũng cái chuyện thì giờ. Hơn trăm con người đứng chờ cả hai giờ mà tế lễ; mỗi giờ đi làm kiếm chừng bốn đồng, nhân lên nhân xuống biết bao là tiền. Thế mà họ đứng đấy, chờ quỳ lạy mỗi khi xướng danh vị tiên sư của làng, xướng danh những kẻ hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, xướng danh tổng quát chiến sĩ không tên, xướng danh cái tên mồ chung là biển cả của bao người chết chìm khi đào thoát. 

Họ chỉ bỏ ngần ấy tiền quá rẻ để thấy cái cam cực của chính Ngài khi khai phá làng Nam Thọ, Quảng Nam, để thấy sự chờ đợi hàng năm cho cây tre trở thành bụi tre nối nhau vây quanh làng mình. Họ bỏ ngần ấy tiền để thấy sự hy sinh vượt mức của bao con người, để thấy quá khứ tấy rõ lên hình, để cho quá khứ hiện tại và tương lai gộp nhập vào nhau trong cái hộp nầy, cái hộp dựng bằng những tấm bố, những miếng ván thùng. 

Chúng tôi đánh trống lên, đánh phèn la lên. Họ cười họ chê chúng tôi không văn minh không biết thuê ban nhạc rock kích động để đãi Ngài sau chuyến đi vạn dặm qua Thái Bình Dương. Ôi, tiếng trống nó thay tiếng lời. Đó là tiếng trống mà người vợ nghe biết chồng mình lính thú ra đi. Cái trống là nguyên ủy của âm nhạc, là nhạc cụ đầu tiên của loài người, khởi xuất từ thân cây rỗng. Tiếng trống dậy khắp các khu rừng Phi Châu như những mạch máu, những tiếng nói cho nhau vượt qua các lớp cây dày. Tiếng trống gọi nhau khi giặc đến, cướp đến, tai họa đến. 

Thưa Ngài, tiếng trống ấy hôm nay chúng tôi dóng lên để đón Ngài, như ngày xưa Ngài đánh trống gọi dân đến họp việc làng. Theo tiếng trống ấy, Ngài đã đến đây cùng tất cả những ai đã đặt chân đến làng Nam Thọ, hoặc để sống suốt đời, hoặc đến rồi đi, những ai đã xây dựng làng nầy. Đến cùng Ngài còn có cái đình vôi mục, cái đình chúng tôi góp tiền gởi về tu sửa nhưng chưa đủ. Có cả cái rạp bằng lá bên trên có cái nia của mẹ tôi, có mấy tàu lá dừa của cha tôi. Có cả mẹ con Sáu rửa chén trong buổi cúng làng. 
Nhưng thôi chừng ấy đủ rồi Ngài ơi. Đủ rồi, đừng thêm nữa. Mà Ngài còn móc trong túi ra cả mồ mã cha ông chúng tôi như một cuốn phim chiếu lên màn ảnh. Có cả những cây sim mọc hoang, có cả những chân nhang bạc màu trên nấm mồ. Ngài còn kéo cả ông giáo Liên. Ông thầy lớp vỡ lòng của tôi trong áo lương đen phai màu. Ông cầm tay tôi như mấy chục năm về trước ông cầm tay tôi viết chữ dễ nhất bằng một sổ dọc, chữ i. Tôi còn nghe ông nói: i tờ hai chữ giống nhau, chữ i có chấm tờ dài có ngang. Ông giáo Liên cũng độc ác như Ngài, kéo theo cái trường mái tranh. 

Các vị dính liền với nhau à, các vị và các vật vô tri dính với nhau mà đến đây tất cả thế kia?! Ông giáo Liên già rồi, chết rồi đâu thèm gì miếng thịt bò thui và mắm nêm trên bàn nầy. Bác Xuân cũng thế, già rồi không còn cái răng làm sao nhai hết miếng thịt. Họ đã đến, những cái ấy đã đến. Nhiều quá, nhiều quá. Ngài đã đem làng Nam Thọ về đây. Chưa đủ, Ngài còn đem cả Ngũ Hành Sơn, cây cầu Đà Nẵng, ngọn đèo Ải Vân, cả dãy Trương Sơn, châu thổ sông Hồng, cả dòng Cửu Long. Chưa hết, Ngài còn đem cả đền Hùng, cả con mắm ba khía Cà Mâu. 

Hay chính Ngài bất lực, không rứt ra được những phần nhỏ mà phải đưa cả một toàn bộ. Ngài đã không rứt được đình ra khỏi làng Nam Thọ, không rứt được làng nầy ra khỏi miền thùy dương, không rứt được miền thùy dương ra khỏi non sông một mối. Phải rồi, cây bầu làng mình đâm rễ dài đến tận Thanh Hóa; sông Cửu Long tưới mát Cao Bằng, than Nông Sơn nấu cơm ở Hà Tiên, Đoàn Thị Điểm là cô giáo của Nhất Linh. 

Tôi xin mượn hình học để giải thích việc nầy. Hai mặt phẳng có chung ba điểm không trên một đường thẳng sẽ dính vào nhau, chồng lên nhau và là một. Mặt phẳng Nam Thọ có ít nhất ba điểm chung với mặt phẳng Việt Nam nên hai mặt phẳng ấy dính nhau. Vì vậy khi Ngài đem mặt phẳng Nam Thọ về đây Ngài đã phải đem cả mặt toàn quốc. 

Tôi muốn nói khi cung bái vị khai lập làng Nam Thọ cùng tất cả những gì thuộc về làng nầy, tôi đã cung bái tất cả những ai âm thầm trong sử sách đã đổ một giọt mồ hôi cho nước Viêt Nam; cũng như tôi đã dành cho tác giả vô danh hai câu lục bát ca dao cái cung kính dành cho Nguyễn Du. 

Giá như Ngài sống ở Mỹ, Ngài đã giàu vô cùng trên sinh quán của điện ảnh. Sáng nay trong buổi tế lễ cúng làng nầy, tôi thấy Ngài là nhà sản xuất phim ảnh đại tài. Cái phim Ngài chiếu đầy đủ. Hiện thực, siêu thoát, tình tiết, âm thanh, khung cảnh, nhân vật. Một cuốn phim đầy đủ. Hòa bình, chiến tranh, an bình, tủi nhục. Không một chi tiết nào bỏ sót, từ con sò cho đến cung điện nguy nga. 

Một cuốn phim mà khán giả không còn là khán giả mà thành tài tử đóng phim để rồi khóc vì phim trong rạp hát dựng lên cấp bách với những cây đinh đóng vội.- 



Sunday, March 8, 2015

ý nghĩa thị hiện Phật Đản, Lữ Hồ

Brian Davis Enlightenment


     Ý Nghĩa Thị Hiện của Phật Đản

   Lữ Hồ, 1968

lời giới thiệu
Lúc ấy vào giữa chiều 29 tháng 04, tôi ngừng xe Honda trước cửa nhà thường được nói là của Nguyễn Cao Thăng vì thấy Lữ Hồ đang đứng bên vĩa hè mặc bộ bà ba trắng. Lữ Hồ  - bảy năm sau khi viết bài nầy - vui buồn không để lộ nhưng có lạ là không ngậm ống điếu. Cả hai chúng tôi nhìn theo chiếc xe jeep trắng mui trần chạy hối hả trên đường Phan Thanh Giản về hướng xa lộ Biên Hòa; Trần Văn Đôn ngồi trên ghế trước. Sau vài câu chẳng nằm đâu, tôi ra về để tiếp nhận cái rời rả của đô thành như con cú đã thấy mùi tử khí của con bệnh trong nhà để đón đi cho ma ăn (ngạn  ngữ: cú kêu ma ăn).  Hơn ba năm sau, tôi từ vùng kinh tế mới về thăm Saigon, tôi ghé lại nhà LH ở Gia Định. LH ở một mình, vợ con đã đi Pháp, anh lại vừa qua khỏi bệnh nan y bằng cách chú tâm niệm Phật.
Hơn mười năm trước nữa, chính tại căn nhà nầy LH biếu vợ chồng tôi cái bao lì xì Tết với khoản tiền khá lớn, anh nói tôi khỏi cảm ơn vì là nhuận bút một bài tôi viết về đứa con của Bokassa. Tôi giờ nầy cũng quên mất tờ báo của LH. Dạo ấy LH ngồi ké trong tòa báo Đời của Chu Tử. Lúc ấy LH có viết về Tây Du Ký; tôi không đọc; nhưng LH nói anh ca ngợi Chư Bát Giới, tượng trưng cho nhục thể, cho bản năng, cần thiết cho một cuộc sống. Trong lúc ấy người ta chỉ chú ý đến Tôn Ngộ Không, như một loại trí thức mà quên rằng trí thức ấy đã mang một mối nguy trong mình cho nên cần có kim cô điều khiển khi thái quá. Tuy vậy đây chỉ là một truyện Tàu, tự nó không mang tính cách giáo lý cũng như Tam Quốc chưa phải là lịch sử như nhiều người tin tưởng. Ở điểm nầy LH có phần nào mâu thuẩn khi viết trong bài nầy: Ngài Huyền Trang chỉ là một vi cao tăng có chí lớn, trèo non, lội suối qua Ấn Độ thỉnh kinh mà các văn sĩ Trung Hoa cũng ghép vào mấy chú Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng với 72 chúa yêu.
Về thị hiện, lối dễ hiểu nhất là chỉ có con rắn đực mới thấy con rắn cái đẹp. Lối khó hơn là kinh  Pháp Hoa: Ta thành Phật từ muôn vạn kiếp trước không thể nào đếm được tuy rằng tất cả trong thế gian trời, người, a tu la đều nói Phật Thích Ca rời cung thành họ Thích đến thành Dà Gia ngồi nơi đạo tràng, cách nay thật không xa chứng vô thượng chánh giác.
Thị hiện là biểu lộ một phần nhỏ của một thực thể không thể thấy, ví như nhiệt lượng cần những chất dẫn như không khí, nước v.v… điện cũng thế, nó hiện diện khi ta nấu, sấy tóc. Một ví dụ không chính xác nhưng gần gũi: hình ảnh một xướng ngôn viên trên TV, người ấy không chỉ ngần ấy thôi; trước và sau khi ra khỏi màn hình có cả một thế giới không nhìn thấy được.
Thị hiện có tính chất kỹ thuật, cần nhưng chưa đủ (nói theo lối toán học). Thị hiện vào Diêm Phù Đề, Phật không từ bỏ tục đế tuy mục đích cuối cùng là chân đế. Mặt trời đâu có lên xuống đông tây, mà làm gì có hướng đông tây nhưng Ngài phải nói phương đông, tây thì chúng sinh mới hiểu. Chân đế và tục đế không xa lìa nhau. Trong kinh Niết Bàn, Ngài nói rằng Phật cũng như trâu bò sinh trong bào thai, nhưng không thể nói rằng Phật chỉ là trâu bò.
Ngài nói: Ta là con vua Tịnh Phạn nhưng ta cũng là Như Lai (vào thời Pháp Hoa, Ngài giảng với tư cách Như Lai).
Có sự trùng hợp với Chúa Jesus Christ (liên hệ hai tôn giáo nầy sẽ trình bày sau): Ta là con của người và là con của trời. Thật vậy, con của người là con của bà Marie, con của Trời tức là thuộc một chân lý vĩnh cửu như pháp thân.
Bế tắt của Tây Phương là không nhìn theo lối thị hiện và chỉ nhất quyết Jesus chỉ có một tư thế là con của Trời mà thôi. Họ đã đi truyền đạo bằng cách nói Phật chỉ là con ông vua còn Jesus là con Thượng Đế mới đáng theo. Tây Phương đã đi rất xa với Đạo Chúa nguyên thủy (christianisme primitif) như Nghiêm Xuân Hồng có nói. Biến thái nầy đã đưa đến quan điểm thần học khắc nghiệt và thiếu nhân bản.
Tam thế chư Phật đều thị hiện, như trong Pháp Hoa: Như Lai quảng diễn kinh điển độ thoát chúng sinh, khi chỉ việc mình, khi chỉ việc người, khi chỉ thân mình, khi chỉ thân người. Qua thị hiện, có người nói rằng Phật giáo siêu mà không cao, siêu là xuyên thấu tất cả nhưng không cao xa, xa vời với con người. Âu cũng là một cách nói. ttt


Enlightenment

Ý Nghĩa Thị Hiện của Phật Đản
Lữ Hồ, 1968

Nên hiểu một cách đơn giản: “Phật là giác ngộ” thì ngày Phật đản chính là thời điểm của ánh sáng giác ngộ ra đời. Sự hiển hiện của con người xuất thế tại vườn Lâm-tỳ-ni vào một ngày trăng tròn cách đây 2592 năm (tính theo thời điểm 1968) là hình ảnh của chân lý viên dung. Ngày Phật đản cho tới nay đã được các nhà bác học, văn nghệ, truyền giáo thuật lại với nhiều vẽ linh động, nhiều dữ kiện huyền bí. Có sách nói Ngài đã từ trong cánh tay vương mẫu bước ra, bước bảy bước trên bảy hoa sen nở tươi dưới gót, miệng nói “thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Có người theo khuynh hướng khoa học lại cứ đoán chắc Đức Phật ra đời không khác mọi người trần tục. Những gì là quả đất rung chuyển, hoa đàm mưa xuống, hương thơm sực nức đều là những điều tô điểm của người sau. Chung quy, một đàng coi Đức Phật như một bậc tiên thánh thần thông, một đàng nhìn Ngài dưới lăng kính của giác quan thế tục.
Nhưng điều quan hệ không phải ở đó. Điều chính yếu là Phật với chân lý, Phật với giác ngộ là một. Sự đản sanh của Phật là sự xuất hiện của Giác ngộ.
Có người bẻ lại rằng: Nếu thái tử Tất Đạt Đa đã giác ngộ từ phút sơ sinh thì:
– Tại sao Ngài phải du ngoạn bốn cửa thành rồi mới chứng được hệ luận thứ nhất: “Đời là bể khổ” qua thực tế “sinh, lão, bệnh, tử”?
– Tại sao, sau khi cưới vợ, sinh con, rồi đợi một đêm trăng tròn tháng hai, Ngài mới lìa xa cung vàng điện ngọc, đổi thay trang phục vương giả để lấy tấm áo chăn chiên, đi tìm chân lý?
– Tại sao, Ngài phải đi qua con đường khổ hạnh, phải suy tư sáu năm ở Núi Tuyết, rồi một sớm ngày trăng tròn tháng chạp mới chứng ngộ được chân lý giải thoát?
Xem thế, con đường tầm đạo của Đức Phật, tưởng cũng không khác với con đường khảo nghiệm, phát minh của các triết gia, khoa học. 
Suy ra, những vấn nạn trên không vượt ra ngoài ý niệm căn bản: Đức Phật chỉ là một con người như mọi con người. Và nói theo luận lý thì những khám phá của Đức Phật, dù thuộc phạm vi siêu hình hay biểu tượng, cũng chỉ là kết quả của một chuỗi suy luận lâu dài chứ không phải là một trực kiến siêu việt như người ta hằng ca tụng. Đức Phật là một siêu nhân chứ không phải là đấng siêu nhiên. Thật ra, nếu đứng trên quan điểm thường-nghiệm như vậy, ta sẽ không bao giờ hiểu được ý nghĩa nhân bản của Đạo Phật, của Phật đản, của các Đức Phật.
Điều trước tiên, ai cũng thấy rõ, Chân lý có thể đến trong trí tuệ nhân loại bằng hai đường: thấy và tìm. Thấy được chân lý là con đường trực kiến. Tìm chân lý là con đường suy nghiệm. Những chân lý trong những lãnh vực khoa học, tư tưởng đều phát sinh từ suy nghiệm. Điều ấy đã hiển nhiên. Những khám phá của khoa học, triết học ngày một tiến tới. Lý thuyết sau thay thế lý thuyết trước. Nguyên lý nọ đạp đổ nguyên lý kia. Quá trình phát triển của khoa học, triết học, là một chuỗi chân lý kế tục thay thế nhau, chen lấn nhau khiến cho nhân loại cứ đi mãi về cái đối tượng “chưa tìm thấy” ở đàng trước. Chưa tìm thấy thì chưa có thể tin. Chưa biến thành đức tin thì còn phải quanh quẩn ở phê phán. Nhờ tìm thấy mãi, các nhà khoa học, triết học đã có một ảo giác là đi vào quang phổ chân lý lung linh màu sắc mà càng ngày càng cảm thấy bơ vơ! Các triết gia cho yếu tính của triết học là hoài nghi. Không hoài nghi cái “hiện có” thì không còn ai đi tìm cái “chưa có” nữa. Như vậy, những điều khám phá được mệnh danh là chân lý trong khoa học, triết học, đã không có giá trị tuyệt đối. Đã tương đối thì phải đối đãi, phải so sánh và đương nhiên không thoát khỏi thăng trầm. Đức tin cốt yếu của nhà khoa học, triết học là phải công nhận những khám phá của mình không có giá trị vĩnh cửu dù rất phổ quát và tất yếu. Phổ quát vì áp dụng rất đúng với sự vật. Tất yếu, vì đó là những bậc thang của lý trí không thể thiếu để hoạt động. Tin mình không tin như thế là tự thú một mặc cảm, xác nhận một trình độ. Mặc cảm về khả năng tương đối của suy nghiệm, thú nhận sự bất lực của những công trình nhân tạo.
Ngược lại, “thấy” Chân lý là trực giác ngoại lý siêu việt của đấng xuất thế. Thấy chân lý là trực kiến được quy luật sâu xa chi phối mọi hiện tượng hữu hình, mọi định mệnh chi phối thân phận con người. Đã là trực kiến thì không thể biện giải được. Bởi thế, con người đạo học trong khi suy nghiệm chân lý giải thoát là để thấy rõ cái thấy vi diệu của chư Phật chứ không phải đi tìm. Theo Phật mà đi tìm Phật thì có khác chi ngồi với chủ nhà lại đi tìm chủ nhà. Mọi sự biện giải đều là phương tiện để thấu hiểu chứ không phải để bài bác, biện giải. Muốn biện giải thì phải nhờ tới suy nghiệm, mà phương tiện này không thể đạt được cái tuyệt đối, thì dù có mượn cũng không dùng được và nếu gượng ép thì lại làm cho chân lý bị phân hóa đi. Trước nay, đã có nhiều người cố gắng biện giải đạo Phật qua lăng kính triết học, khoa học. Ta phải nhận rằng, nhờ họ mà ánh sáng chân lý trở thành lung linh nhưng họ cũng làm cho ta choá mắt và không vượt nổi hình thức, giáo điều. Biết đạo chưa phải là hiểu đạo. Hiểu đạo chưa phải là hành đạo. Hành đạo cũng chưa phải là liễu đạo.
Chân lý giải thoát của Phật đã tuyệt đối, không thể biện giải được. Đã không biện giải được thì làm sao mà truyền bá cho quần sanh?
Trong mục đích này, chư Phật đã dùng một phương tiện để cảm thông: Đó là thị hiện.
*  * *
Thị hiện là gì?
Tức là đem cái vô hình lồng vào cái hữu hình. Là cụ thể hóa các ý niệm trừu tượng. Là đem những gì ở lĩnh vực khả tri gắn liền với hiện tượng khả giác. Phật đản, Xuất gia, Thành Đạo đều là những biểu thị chân chính của đạo Phật. Một triết gia hiện đại có nói: “Cho dù Thượng đế có tạo ra con người chăng nữa, thì sự hiện hữu của Thượng đế cũng phải biểu hiện qua sự hiện hữu của con người”. Quả vậy, ý niệm Thượng đế chỉ có thể tồn tại qua những chứng tích của con người. Ai chẳng biết Thượng đế chỉ là một ý niệm sơ khởi. Ý niệm ấy được các người hữu thần gán cho cái khả năng sáng tạo muôn vật, nhưng nếu không có sự hiện hữu của muôn vật thì lấy ai để cho biết là có Thượng đế đây? Tôn giáo nào cũng có tượng ảnh, nghi lễ, kinh sách, giới luật, văn chương... tức là đã vay mượn các công trình sáng tạo của con người. Đã có tượng hình là đã vay mượn cái hình thể con người. Có thờ phụng là có mượn công trình kiến trúc, xây dựng của con người. Có kinh sách là có mượn ngôn ngữ, văn tự. Và, giới luật là gì? nếu không phải là những hình thức, khuôn khổ ghép con người vào phương tiện để đi vào cứu cánh? Cho nên, dù con người dù có thấp hèn, ngu dốt, vẫn là trọng tâm của mọi hiện hữu của thế gian. Vì đó, ta có thể nghĩ rằng: “nếu không có con người thì lấy ai để chứng minh cho sự hiện diện của Thượng đế?” Ấy vậy, lắm nhà thuyết giáo vẫn không chịu xác nhận sự hiện hữu nhân bản, sự hiện hữu của con người.
*  * *
Đức Phật đã không vào đời với con đường ấy. Đức Phật không phủ nhận sự hiện hữu nhân thể. Trước tiên, Ngài là một nhân vật có được phụ mẫu sinh dưỡng theo quy luật sinh tử của con người phổ biến. Hoàng hậu Magia cũng hoài thai như muôn ngàn thiếu phụ khác. Đúng ngày sinh nở, Thái tử Tất Đạt Đa cũng chào đời qua lòng mẹ như mọi trẻ khác. Có điều, Ngài là một bậc vương giả, sinh trong gia đình quý tộc, phong kiến, giữa thời đại đa thần thì tất nhiên các quan thái sử chẳng ngần ngại gì mà không thêm bớt một vài huyền thoại cho vị hoàng đế tương lai! Đến khi Phật giáo truyền qua Trung Hoa, thế giới của truyện ma quái, thì tiểu sử của Ngài lại được nhuộm thêm một phần hoang đường huyền bí nữa. Rất đổi, Ngài Huyền Trang chỉ là một vi cao tăng có trí lớn, trèo non, lội suối qua Ấn Độ thỉnh kinh mà các văn sĩ Trung Hoa cũng ghép vào mấy chú Tề thiên, Bát giới, Sa tăng với 72 chúa yêu, muốn cho Ngài muốn gặp Đức Quán Thế Âm lúc nào thì gặp, huống nữa là đức Bổn sư? Cũng may là các nhà văn ấy chưa dám tiểu thuyết hóa đời Ngài như một ông văn sĩ nước ta bây giờ. Dù vậy, các khuynh hướng thần lý trong tư tưởng học thuật Trung Hoa cũng đã lũng đoạn Chân lý không phải ít!
Lớn lên, Thái tử cũng biết nóng đến phải ở cung mùa hè, cũng rét đến ở cung mùa đông và cũng sẽ có vợ con như nghìn triệu con người khác. Tuy nhiên, những dữ kiện đầy nhân tính ấy không chứng tỏ Đức Phật trong tương lai chỉ là một kẻ nhân giả tầm thường mà chính Phật đã thị hiện nhân bản để gây nên cái ý thức tự cứu nơi mỗi con người. Đạo Phật không truyền bá sự cứu rỗi, không ai cứu ai được. Mỗi cá nhân được chư Phật chỉ cho sự u mê, vạch đường chân lý thì phải tự mình tu tập để tự cứu. Cùng một lẽ đó, nếu Đức Phật giáng trần như một bà tiên cho phép lạ thì có ngay hai cái hại: Một là, con người nảy ra tính ỷ lại. Hai là, không tin mình có thể tự cứu lấy thân phận mình. Vì vậy, Đức Phật đã lấy đời người làm điểm xuất phát. Đản sanh, xuất gia, thành đạo, nhập diệt. Bốn giai đoạn, bốn bước tới Chân lý từ thấp đến cao. Thật rõ ràng và thực tế biết bao nhiêu? Đức Phật đã không chối bỏ con người, Ngài lại cũng không quên sự ràng buộc đớn đau của hoàn cảnh. Sống trong một hoàn cảnh kiêu xa như Thái tử Tất Đạt Đa mà nói tới sự “bỏ tất cả để được tất cả” không phải là một điều giản dị. Người ta chỉ chối bỏ hiện tại khi bị đau khổ, nghịch lý áp bức. Chính Thái tử đã không chịu được sự thống khổ đó. Nếu chỉ có những người cùng hoàn cảnh mới thương mến nhau, thì phải nói Thái tử Tất Đạt Đa là con người lẻ loi nhất thời đó và trong xã hội nhiều giai cấp như Ấn Độ, không ai có được hoàn cảnh quyến rũ như Ngài. Cần phải có sự giao tiếp với tha nhân, với ngoại cảnh. Thế rồi, nhân cuộc du ngoạn, Ngài cảm được sự đau khổ của những con người không cùng chung giai cấp, tuổi tác, hoàn cảnh. Sự thông cảm ấy đương nhiên khó mà có ở thường nhân. Đức Phật không phải nhờ học nhiều sách, nghe nhiều thầy mà nhận định được “Đời là bể khổ”. Có bao giờ phụ vương Tịnh Phạn lại dám để cho Ngài buồn đâu? Tự Ngài đã thấy, đã trực kiến, đã chấp nhận sự đau khổ của tha nhân và cũng là của tự thân, tức cái thân phận con người. Và rồi, Ngài lẫn tránh mọi phiền trược để đi tìm Chân lý.
Chính đây mới là vấn nạn lớn nhất của những người chứa đựng óc thực nghiệm. Họ cho rằng: “Phật phải tu luyện, phải suy tư rồi mới thấy được Chân lý”? Ngài là một triết gia như mọi triết gia. Và, vì Ngài xuất chúng quá nên Bertrand Russel đã suy tôn là đại tư tưởng, đại giáo dục, v.v...
Để hiểu được ý nghĩa thâm diệu của giai đoạn này, ta cần lưu ý tính cách liên tục suốt cả hành trạng của đời Ngài, một chuỗi thị hiện thuần nhất rất phù hợp với quy thức Tứ đế sau này. Từ giai đoạn đản sanh là một biểu thị nhân bản đến việc du ngoạn chứng kiến cảnh sinh, lão, bệnh, tử là ý thức tự giác, đến giai đoạn này là giai đoạn tìm chân lý, vẫn có một tiến trình điều hòa vi diệu. Thực vậy, trực kiến chân lý là diệu năng của chư Phật. Thế còn chúng sanh thì có trực kiến ấy không? Vậy thì, nhận biết chúng sanh không thể có trực kiến để thấy được tuyệt đối, sáu năm suy tưởng của Ngài ở Tuyết sơn là bài học cho thấy: con đường suy nghiệm dù chỉ có giá trị tương đối, không giúp chúng sanh thấy được chân lý và chỉ vẫn có thể nhờ đó mà tìm tới chân lý do Đức Phật đã trực kiến mà thôi. Công việc này có khác chi nhà triết học sau khi tìm ra tư tưởng đã phải dùng tư tưởng để giúp cho mọi người hiểu được tư tưởng của mình. Cao hơn nữa, Đức Phật lại cho rằng Chân lý không ở ngoài con người. “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Cái ý thức tự giác đốt lên trong tâm hồn của từng cá nhân. Và ý nghĩ của chuỗi ngày suy tư dưới gốc Bồ Đề chỉ bao hàm một ý dụ là bất cứ một chúng sanh nào, nếu chịu y cứ vào giáo pháp thì đều có thể chứng ngộ được chân lý giải thoát do Ngài đã trực kiến được.
*  * *
Kỷ niệm Phật đản, căn cứ vào những dữ kiện đã trình bày ở trên, ta có thể rút ra những hệ luận sau đây, nói về sự thị hiện của Phật giáo:
1. Đức Phật chấp nhận nhân bản tính
Đức Phật không bao giờ tự xưng là đấng sáng thế mà chỉ bày tỏ thiện niệm cứu  thế. Có người nói: “Tôi không chấp nhận sự hiện hữu của ông sáng thế, vì ổng đã bày đặt ra lắm trò rắc rối, chỉ làm khổ cho chúng sinh. Ông càng có lại càng làm thêm rắc rối cho nhân sinh. Tôi chỉ thờ phụng đấng cứu thế mà thôi. Ai cứu tôi, cứu cuộc đời quanh tôi khỏi khổ đau là tôi thờ phượng”. Ý nghĩ ấy kể cũng có phần chua chát đấy nhưng vẫn thâm trầm lắm. Thật vậy, Đức Phật đã không tự phong cho mình chức vụ sáng thế mà chỉ muốn hoàn thành nhiệm vụ cứu thế. Thiện nguyện của Ngài đã đi trước thời đại hằng ba mưoi thế kỷ và để hoàn thành thiện nguyện ấy, Ngài cũng không tạo ra những phép thuật mầu nhiệm để phạt tội, đe dọa hay tha tội cho ai như một vài tôn giáo đã chủ trương. Ngài đã đản sanh trong nhân thể, nhân cách của con người. Ngài gợi ra cái ý thức tự cứu của cá nhân. Sống trong một xã hội phong kiến, trong khi nhân loại còn đắm trong hoang đường, thần lý, mà Đức Phật lại đề ra một phương thức tự giác như vậy thì quả là táo bạo và tiến bộ. Táo bạo vì sẽ không thoát tay bọn phù thủy Bà la môn. Tiến bộ vì không chịu mặc lấy bộ áo hoang đường. Thuận theo sự tiến triển của tư tưởng nhân loại thì trong trạng thái thần lý (état théologique) như Auguste Comte nói: “con người chỉ chấp nhận những gì hoang đường huyền bí, mà phủ nhận những gì hiện thực”. Đức Phật đã đi ngược lại. Người đi vào con đường của khoa học hiện tại. Nếu có ai đã đọc cuốn kinh “Báo phụ mẫu ân” tức thấy Ngài diễn tả sự biến hóa của cái bào thai trong bụng mẹ rất kỹ càng không khác gì khoa phôi sinh học ngày nay. Hơn nữa, Đức Phật bắt đầu việc truyền giáo từ ý thức tự cứu tức là Ngài “tìm sự giác ngộ cho mình” rồi mới “đem bốn mươi chín năm đi giác tha” cho nhân loại.
 2. Đức Phật lấy nhân bản để hướng lên Siêu việt
Ở trên, căn cứ các dữ kiện, ai cũng thấy Đức Phật đi vào lòng người để cứu rỗi con người. Dù vậy, những chất người trong đời Ngài chỉ có tính cách biểu thị mà thôi. Chứng cớ, sau bốn mươi chín năm thuyết pháp, Ngài đã tuyên bố là “chưa từng nói một lời gì” hoặc “giáo lý là ngón tay trỏ, Chân lý là mặt trăng”. Không nên bám vào ngón tay (phương tiện biểu hiện) mà quên Chân lý. Ngài đã dùng cái “cụ thể” (hình hài, ngôn ngữ, hành trạng) để biểu hiện cái “trừu tượng” là Chân lý. Ngài đã đản sanh và hành đạo qua nhân thể là đem cái khả tri gửi vào biểu tượng khả giác cho mọi chúng sinh từ sơ cơ tới thượng tri đều có thể hiểu được, bắt chước mà làm theo được? Dù vậy, với hệ luận “thành, trụ, hoại, không”, Ngài luôn luôn nhắn nhủ cho nhân loại thấy mọi biểu tượng đều giả trá, tạm bợ. Đó chỉ là “bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”. Thuyết tương đối của Einstein hiện đại đã làm cho ánh sáng Chân lý của Đức Phật thêm hiện thực. Các cuộc du hành không gian hiện tại nào có thoát ra khỏi “ba ngàn đại thiên thế giới” do Đức Phật phát kiến? Những khám phá của khoa học, triết học hiện tại chỉ là những dẫn chứng cụ thể cho giáo lý vi diệu của Đức Phật. Cũng vì đượm nhiều nhân bản tính, đạo Phật đã không mâu thuẩn với khoa học, triết học. Nhờ ở viễn kiến của Ngài mà Phật giáo đã không vấp phải một trận thánh chiến nào, dù trong lãnh vực tư tưởng. Nhà khoa học chủ trương đả phá thần quyền. Đạo Phật không đề cao thần quyền thì làm sao trở thành đối tượng đả phá của họ được. Triết học chủ trì hoài nghi nhưng làm sao nghi ngờ được Chân lý Phật giáo khi mà họ chưa đạt được cả ba đối tượng Chân, Thiện, Mỹ? Nhà chính trị cũng không phủ nhận giá trị đạo Phật vì trong công cuộc hiện đại hóa của đạo Phật có chủ nghĩa nào tiến bộ hơn phép lục hòa, tứ nhiếp của đạo Phật chưa?
*  * *
Kỷ niệm ngày đản sanh, chúng ta đón nhận luồng tư tưởng giác ngộ chói rạng tâm hồn. Không nên coi đây là sự xuất hiện của một con người mà phải chiêm nghiệm sự ban bố của Chân lý. Chân lý giác ngộ ấy không ở ngoài ta. Đức Phật đản sanh ở trong ta, trong sự đau khổ hiện thực của ta, của những con người. Đức Phật vì sự đau khổ của con người mà tìm phương giải khổ cho con người. Ngài không phải là một nhà khoa học vì Ngài không đem cái trí tuệ minh mẫn của mình để chế ngự thiên nhiên bằng tư tưởng. Ngài không phải là một nhà khoa học vì Ngài không biện giải những tư tưởng hoài nghi. Xuất thân là một vị vương giả, đã nghiêng mình xuống, hòa mình với kẻ bần cùng, đau khổ. Giáo lý Ngài tồn tại trong tim óc người bị áp bức, đày đọa. Xưa nay, giáo lý của Ngài chưa bao giờ bị bọn thống trị dùng làm khí cụ để khống chế nhân loại. Các vị tăng lữ, dù hữu hành hay vô hành, đều chỉ có hai đường lối: hoặc là nhập thế độ sanh, hoặc là ly thế nhập định chứ không hề có một vị nào trở thành một phần tử của đẳng cấp thống trị. Cho nên, hãy nghĩ rằng Đức Phật đã vì ta mà đản sanh, Đức Phật đã vì chúng sanh mà thị hiện. Vậy trong cương vị chúng sanh, tưởng chúng ta chỉ có một nhân sanh quan rất nhân bản là:
Nhận định: Đời là bể khổ.
Giải pháp: Tự giác để giác tha.
Ánh sáng Chân lý đã chiếu rọi, ta chỉ cần phát triển cho rực rỡ lên. Đó cũng là tâm niệm lớn nhất cho con người Việt Nam đang đau khổ vì chiến tranh và bạo lực./. 
(Tạp chí Từ Quang, số 185-186, tháng 1 & 2 năm 1968)

Medusa Cloud Photographic Print