add this

Tuesday, November 7, 2017

không số quân


người lính không số quân
Trần Như Xuyên

Lời tác giả: Nhân 30 tháng 4, để nhớ lại những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược, xin có một truyện ngắn nói về sự chiến đấu này, đây là chuyện có thực mà người viết từng tham dự năm xưa. Trân trọng.

Tối đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người đại đội trưởng tiền nhiệm, cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.
Ra trường được sáu tháng, từ anh thiếu úy mới tò te, giờ đã lên nắm đại đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhảy dù, Thủy quân lục chiến..., có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở trung đội hay là trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có đại đội xử lý là một chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi đại đội thì tối thiểu phải là thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là tiểu đoàn phó nên vị tiểu đoàn trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới, quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thực tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tạm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với tiểu đoàn trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người đại đội phó đi học để tôi coi ĐĐ được danh chính ngôn thuận.

Nói về tối đầu tiên tôi dẫn ĐĐ đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học tiểu học:

- Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?

- Thưa thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.

- Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.

- Thiếu úy đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hể rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.

- Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.

Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:

- Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?

- Thưa thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.

Nở thực hiện lời "em biết chứ", vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.
                            Blank US Tags

Một hôm, hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói trung sĩ Hiển, hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học,"ngày mãn khóa", tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.

Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:

Long Xuyên, ngày....

anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.

Em, Ba.

Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

Năm 67, các tiểu đoàn Bộ binh thường có ba đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm hoạt động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp tiểu đoàn thường là nhảy trực thăng và xa hơn. Ba đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.

Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà (ĐĐ2) khoảng 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công. Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dày đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuống có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.

Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garand, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiệm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp sư đoàn, quân đoàn.

Sáng hôm sau, tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác (!)

Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.

Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm bạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.

Tôi gọi Nở lên: - Vợ cậu có bầu phải không?

- Dạ, thưa Trung úy.

- Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.

- Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.

- Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kích ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:

- Gì vậy Nở?
Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:

- Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!

Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:

- Chết rồi Trung úy.

Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:

- Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

M2 Browing,  58 kg (100 pounds)

Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.

Tôi báo với thiếu tá Hải, tiểu đoàn trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, ngay cả không được lên cấp chỉ vì chị là người lính không có số quân.

Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học. Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

CW47

Chị Nở thân mến,
40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hy sinh.

Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng Thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng Thùy Trâm ở Hà Nội.
CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS. Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau. Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ là tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dậy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

Chị Nở có thấy điều buồn cười này không, trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mị dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là bộ trưởng y tế hay làm giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.

Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác. Xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hy sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

Quên kể cho chị nghe, mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garand cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịch chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hy sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.  Trần Như Xuyên

(đã đăng Aug 31 2014)


Thursday, November 2, 2017

chiêu niệm tháng tư




xác người di tản đám tàu trôi nguợc vào Vũng Tàu

           chiêu niệm tháng tư
BĐQ Nguyễn Văn Chúc

                  Tháng Tư có kẻ ra biển đứng
L
ớn tiếng kêu than vọng đất trời
Nên gió gào thét sóng gào thét
H
ải âu cánh dạt mịt mù khơi.

Tháng T
ư có kẻ bày hương án
N
ến thắp đôi hàng chiêu niệm ai
Ta nghe th
ảm thiết lời kinh khổ
Nhang khói g
ọi hồn sông núi ơi.

Tháng T
ư nghe tiếng hờn ai oán
Anh hùng hào ki
ệt thác oan khiên
Ch
ương sử trăm hồi chưa chép hết
Còn
động trời Nam tiếng sấm rền.

Tháng T
ư nắng đỏ thấm sắc máu
H
ỏi người còn nhớ cuộc binh đao?
B
ạn ta chết dữ không bia mộ
Phách tán h
ồn xiêu ở chốn nào?

Tháng T
ư hảo hán cũng rơi lệ
N
ước mắt đã đầy một biển đông
Tràn l
ấp càn khôn mờ nhật nguyệt
Thành l
ời thống hối tạ non sông.

Tháng T
ư kể chuyện người biệt xứ
M
ấy chục năm xa lạc dấu quê
Tuy
ết sương từ độ phơi tóc trắng
Ch
ẳng biết có không một nẻo về.

Chúng ta
ơi những đời vong quốc
G
ặp nhau lại thấy Tháng Tư buồn
Kinh Kha sao ch
ẳng qua sông Dịch
                   Sao cứ đứng ngồi nhớ cố hương?


                          



Thursday, October 26, 2017

bớt một thêm hai


hàng rào kẽm gai, tranh VhmcKenzie

bớt một thêm hai
tôn thất tuệ

Con thưa mẹ một tin rất mật
tin rất mật vì là một tin rất thật.
Sau một lớp chăn bò người giảng
lệnh truyền rằng bò phải nuôi đủ cỏ
thân bò mập là thân con sống vững
xác con gầy sá gì, có ra chi
nhưng bò quí
không được phép lòi xương.

Mùa khô đến cỏ bay theo nắng
còn sót lại chút màu xanh nho nhỏ,
cỏ không dày,
nơi bờ rào kia
bờ rào cắt ngang mạch sống của bao người.
Và thưa mẹ, nơi đó con cắt cỏ nuôi bò.
Quả mìn nổ
mất một chân
chân của mẹ cho.

Nhớ thưở nào mẹ hát Kiều ru em ngủ
khách mua Kiều “cò kè bớt một thêm hai”.
Ngày nào đó may ra con còn sống
mẹ xót thương mẹ chuộc con về,
diễn mẹ xem cảnh cũ thêm hai bớt một
bớt một chân bù vào hai nạng gỗ.-

             




Tuesday, October 17, 2017

Tây Gia Địa Westmoreland


Tây Gia Địa - Westmoreland
tôn thất tuệ


(phúc đáp một thân hữu gởi lời xin lỗi của Westmoreland, tên Tàu là Tây Gia Địa)
Carl von Clausewits (1780-1831) được xem là lý thuyết gia giỏi nhất về chiến tranh. Cuốn De La Guerre của ông tướng Đức nằm trên đầu giường của Lenine. Cha đẻ của bôn sê vít đã diễn đạt ý tưởng trong sách qua nhiều câu nói hợp thời. Có thể sáng kiến tạo nên chức vụ chính ủy do sự nhấn mạnh của Clausewits về tinh thần, tâm lý và tính cách chính trị của chiến tranh. Chính ủy từ cấp lớn cho đến cái nhỏ nhất là tổ tam tam. Trong bài viết ngắn Đồng Cỏ Miên, Trần Vũ cho biết cứ hai tân binh quân dịch (theo danh từ cũ) trong Nam thì có một anh lính Bắc làm chính ủy điều khiển, trong vụ CS đánh qua Miên 1979.
Clausewits nổi danh vì câu: quân sự chỉ là phương tiện của chính trị. Nhưng câu nầy và phần lớn cuốn sách được trình bày khoa học khúc chiết, tom góp kinh nghiệm của cả Đông Tây Kim Cổ. Lưu Bang hiểu hơn thế nữa: ta mưu lược không bằng Trương Lương, nội trị không bằng Tiêu Hà, quân sự không bằng Hàn Tín nhưng ta đã dùng cả ba người để tạo nên cơ đồ nhà Hán.
Obama không phải là tổng tư lệnh đầu tiên không một ngày đi lính. Clinton còn trốn lính chạy qua Anh. Một ông thượng của North Carolina nói nếu Clinton đến tiểu bang nầy thì lính không tiếp. Nhiều tướng lãnh đã phản đối, họ xem Clinton như tất cả các tổng tư lệnh khác.
Khi bắt đầu tranh cử nội bộ đảng Dân Chủ, vị TNS da đen nầy có phần nao núng về việc không có kinh nghiệm quân sự; đối thủ Hillary, tuy là nữ nhi, có thể dựa vào kinh nghiệm của chồng trong tám năm tại WH. HiIllary đã cho chạy một negative ad, tôi nhớ mài mại là một em bé thức dậy giữa khuya như chiến tranh tới, chỉ có người đem lại an bình là Hillary, chứ kêu "Ô ba má" thì được cái xái gì, xôi hỏng bỏng không. Liền lúc ấy, nhiều ông tướng ra mặt trên các đài như CNN, Fox News mong Obama nói xa gần sẽ chọn làm ông phó, hay quân sư quạt mo, chủ tịch Hội Đồng An Ninh. Obama không đủ sức thấy như Lưu Bang.
Tập tục dân sự điều khiển quân sự có từ ngày lập quốc, và thành luật 1947; cựu quân nhân phải đã giải ngũ 10 năm trước, về sau còn bảy năm. Tướng Alexander Haig làm bộ ngoại giao thời Reagan tuy ông muốn Pentagone hơn. Có ngoại lệ, quốc hội chấp nhận tướng Marshall làm bộ trưởng QP, giữ nguyên cấp bậc và không phải giải ngũ. Cập nhật 2017, tướng Mathis được rút bớt thời gian hưu cần thiết để vào nội cát của Donald Trump. HK chỉ có hai ông cựu tướng làm tông tông. Ulysses Grant và Dwight Eisenhower cả hai đều được một số sử gia cho là hai ông TT xoàng nhất. (như Eisenhower đã để cho Nga vô Châu Mỹ, trái với chủ thuyết Monroe). Vai trò tổng tư lệnh do hiến định. Dân sự Roosevelt đã điều động tướng Marshall, tướng Eisenhower...trên chiến trường Âu Châu. Thế chiến thứ hai cho thấy quốc phòng mang nhiều khía cạnh mới, nhất là bom nguyên tử; cho đến ngày nay kỹ thuật đã thay đổi bộ máy chiến tranh. Do đó các TT dân sự phải tìm hiểu thêm và cần nhiều cố vấn chuyên môn như các tướng lãnh. Tuy nhiên dân sự vẫn nắm quyền quyết định dù lớn hay nhỏ. Dẫu sao, theo lý luận, TT vẫn có cái nhìn bao quát hơn sau khi được các bộ sở quan tường trình. Đó là chưa kể sự kèn cựa giữa quân đội và các cơ quan khác như CIA, cần có người cao hơn để thấu triệt. Khi Henry Ford chết, Roosevelt đã buộc người con trai bỏ đơn vị hành quân ở Âu Châu về điều khiền công ty xe hơi của bố, vì nó cần thiết cho chiến tranh.
Hùng hổ uy danh như McArthur phải tuân thủ lệnh của TT Truman; phải theo chủ trương của Truman hướng về Âu Châu nhiều hơn ở Á Châu; Truman không đồng ý với McArthur triệt hạ CS Tàu.
Vì vậy như có bạn nói, tướng lãnh chỉ làm theo lệnh của TT; điều nầy không có gì sai quấy. [Tuy cần thiết, xin lỗi đã đi hơi xa trước khi vào điểm chính].
Sau khi rời chức vụ tư lệnh MACV, tướng Tây Gia Địa (‘Westy’ Westmoreland) về nước làm tham mưu trưởng lục quân, chức phận cao nhất của ông. Vì vậy, ông không thể nhân danh toàn thể quân lực Mỹ để xin lỗi xin phải. On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.
Quá lắm ông chỉ nói rằng toàn quân lực Mỹ đáng lý phải xin lỗi v.v.. Nhưng trên căn bản, Armed Forces cũng không làm gì hơn ngoài việc tuân lệnh từ WH. Người có thẩm quyền xin lỗi (nếu cần) là các ông TT hay các ông phó mang quốc thư đến Saigon. Westy ơi, bỏ qua đi Tám.
Có cảm tưởng Westy hậm hực vì phải ra đi chưa kịp thí nghiệm đường lối attrition, lấy phương tiện dồi dào làm địch phải từ bỏ chiến trường, (lấy thịt đè người chăng?); ông chủ trương đánh qua Miên và Lào để làm tê liệt đường mòn HCM. Hỏa lực phải tăng, quân số phải tăng. Lúc Westy mới đến nhậm chức phó MACV, 1964 quân Mỹ chỉ 16 ngàn; con số nầy lên 535 ngàn khi ông về nước 1968. Ông bạn Lại Tình Xuyên (đã khuất) của tôi trong trường Thủ Đức nói: bom dây thì con giun cũng không sống; Ông Westmoreland kinh thật.

Hoặc giả Westy buồn mất cơ hội để thành một McArthur, ông tướng vùng vẫy trong một môi trường giống mình: Đối đầu với CS, một nước Đại Hàn chia đôi, cùng nền văn hóa đông phương, cùng giống dân da vàng.
Westy tin rằng ông có thể dồn VC tập trung để đánh lớn thì địch không thể chống với hỏa lực Mỹ. Việc nầy hao hao giống giống hy vọng của Pháp sẽ dập VC tại Điện Biên Phủ, sau những trận như Hòa Bình… Trận Khe Sanh to lớn làm cho Westy tin tưởng thêm về chiến lược mới.
Tin tưởng ấy làm cho ông không thấy mục đích của Tết Mậu Thân, vì ông cho các trận đánh khắp nơi nầy chỉ làm xao lãng chú tâm và phân tán lực lượng dành cho Khe Sanh. Lời của HCM về Mậu Thân là đánh vào hang ổ của địch. Nói thật không phải để tuyên truyền.
Du kích chiến tự nó không thể giải quyết rốt ráo cuộc chiến; chung cuộc phải thực hiện ở giai đoạn tiếp là chiến tranh quy ước, xuất đầu lộ diện, chứ không chỉ bắn lén. Mặt khác, du kích đã có kết quả trong chính sách lấy nông thôn bao vây thành thị; không lẽ bao vây rồi mà không đi vô thành phố, hang ổ của địch. Mậu Thân báo hiệu cuộc chiến diện địa và quy ước. Nói vậy thì tự nhiên trở lại quan niệm của Westy chăng? Nhiều nhà phân tích cho rằng Khe Sanh chỉ để làm xao lãng chú ý dành cho Mậu Thân. Nhận định nên dựa vào thực tế, rằng Mậu Thân - thất bại về quân sự - đã làm rạn nứt (để rồi vết nứt rộng thêm) cho miền Nam. BV rất tiếc không thể thừa thắng xông lên, mà phải chờ.
Nhiều trận địa chiến xẩy ra tuy không to như Khe Sanh, dần dần BV đi mạnh vào chiến tranh quy ước, nhất là đã cho quân vượt Bến Hải, trái với tuyên truyền chiến tranh miền Nam do nhân dân đứng dậy. Cuối cùng chiến tranh quy ước đã kết thúc cuộc chiến, chứ không phải du kích chiến, vì du kích quân không có xe tăng.
Mậu Thân đã đảo ngược hình ảnh về chiến tranh VN mà Westy mô tả trước mắt người Mỹ. Ông nói chúng ta đánh đâu thắng đó. Truyền hình CBS đã minh chứng Westy tìm cách che dấu nhiều thứ; Westy không thể thắng kiện nên đã đồng ý cho CBS xúy xóa bỏ qua. Ít lâu sau Mậu Thân Westy rời chức vụ MACV; Mậu Thân chỉ làm cho sự ra đi xẩy ra nhanh hơn vì việc thuyên chuyển Westy đã sắp xếp xong.

TT Nixon thuyết trình cuộc tấn công Cambodia 1970

Westy ở trong quân đội cho đến 1972, chức vụ cuối là Chief of Staff of the US Army. Sáu năm tại vị thế nầy, Westy đã thấy liên quân Mỹ Việt đánh qua Cambodia 1970 như ông chủ trương. Vô số cơ vạn vũ khí, tiếp liệu đã bị tịch thu, hầm hố bị phá hủy nhưng không thực hiện mục tiêu Nixon thuyết trình trước báo chí là để bắt trọn Văn Phòng Trung Ương Cục Miền Nam. Chiến trường Cambodia gồm những nghịch lý: a- hai chính phủ do Mỹ ủng hộ ở hai quốc gia kế cận không hiểu kẻ kia là thù hay bạn sau vụ Lon Nol cho giết rất nhiều người Việt; b- mật khu  bị phá hủy rồi bành trướng hơn.

Trong lý thuyết du kích, căn cứ địa hầu như là một điều kiện cần và đủ. (CS Hy Lạp phải bỏ cuộc khi Albanie không cho duy trì mật khu tiếp viện), Phe CS bắt buộc phải tái lập căn cứ địa trên đất Cambodia. Lần nầy có sách vở hơn. Sihanouk bị lật đổ, thành lập chính phủ lưu vọng, công du các nước CS. Cựu hoàng thành công trong việc thuyết phục TC ủng hộ Khmer Đỏ để thực hiện nội chiến, và BV từ đó dễ dàng tái lập căn cứ địa dưới chân Cao Nguyên Boloven, bọc hông Saigon.
Westy là con cưng của bộ trưởng QP McNamara; hai thầy trò đều chủ trương attrition. McNamara nổi tiếng với hàng rào điện tử chận xâm nhập bằng đường bộ (cập nhật 2017, Donald Trump muốn áp dụng ở biên giới Mexico). Westy được vài ký giả cho là ông tướng rực rỡ nhất (the most flamboyant); được TT Johnson ghé thăm nhân khi khi dự đám ma thủ tướng Úc chết trôi, được báo chí nói đến nhiều nhất. Westy đã làm sáng ngôi vị quân sự, không muốn quân sự làm phương tiện cho chính trị trong quan niệm chính thống mà Clausewitz đã trình bày rõ ràng.
Ông đã đưa không phải một mà hai vị chủ tịch Thiệu Kỳ cùng gặp Johnson.
Bức hình về cuộc gặp gỡ nầy cho thấy Westy không kể chi đến lịch sự ngoại giao quốc tế. Westy đã đứng ngang với Johnson còn hai ông Thiệu Kỳ đứng bên cạnh. Theo nghi lễ hiện nay được các nước công nhận, vua, dù vua ở một đảo quốc rất nhỏ, được xếp chỗ ngồi chỗ đứng cao hơn tổng thống dù của nước lớn nhất. Ít nhất Westy cũng để ông Thiệu đứng một bên Johnson. Hơn nữa nơi gặp gỡ là trên nước VN dù ở trong một căn cứ quân đội Mỹ. Noblesse oblige?!!!!
TT Johnson và Westmoreland
Không nhớ ai đã nói “quân đội” là cha. Nguyễn Khánh hay Nguyễn Cao Kỳ. Nhưng dân chúng thì: tiên sư cha tướng. Cái flamboyant của Westy được diễn tả bên phía VN bởi Nhị Vị Chủ Tịch mà Westy ủng hộ hết mình.
Flamboyant dễ thấy nhất là câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc mà phi công lái máy bay qua Đài Loan rước vũ nữ sexy; và hình ảnh bà chủ tịch hành pháp mặc áo quần phi công ủy lạo chiến sĩ ngoài mặt trận, đi ciné phải xem trước khi vô xê.
Các nhân vật lịch sử như Trần Hưng Đạo, Đào Duy Từ, Trần Nguyên Hản … đều phải nhập ngũ để làm thánh tổ (patron saint) của các binh chủng như hải quân, công binh, thiết giáp. Các ông lính mới nầy đứng gát ở các công viên cùng ba người Thủy Quân Lục Chiến trước Quốc Hội. Đường phố thấy nhiều tướng hơn. Trước đây, trong quân đội Pháp, đại tá nhảy lên thiếu tướng hai sao; vì ngu dốt một ông Hòa Hảo được phong thiếu tướng thì chỉ mua một sao. Ai cũng cười nhưng nó khơi mào cho ý niệm chuẩn tướng một sao mà nhị vị chủ tịch dùng để ban quyền lợi cho đàn em mà không làm mấy vị thiếu tướng hiện hữu buồn trách. Các tiệm thời trang có thêm nhiều bà tướng tới thăm mua.
Tính chất quân sự còn diễn tả qua câu nói cuối cùng của ông Thiệu trước khi ra đi: toàn dân sẽ mất một tổng thống Thiệu, nhưng sẽ còn một trung tướng Thiệu để bảo vệ đồng bào. Rất tiếc không có bác sĩ nào chẻ ngài ra làm đôi cho nên khi tổng thống Thiệu trốn chạy thì trung tướng tướng Thiệu chạy mất. Thân sinh của tướng Thiệu là kép hát gốc Bình Định. Khi cùng gánh hát đến Phan Rang, ông gặp thân mẫu tương lai của ông Thiệu, và dừng bước giang hồ nơi đất xưa của Chàm. Trước khi màn kéo, diễn viên thường hát một câu rất mùi; tuy đã ôm cây dao lút cán trong bụng mà vẫn cố ca lên mấy câu: hận đời đen bạc, giận kẻ bạc tình, xa quê hương nhớ mẹ già …trước khi lìa đời; hay anh kép độc bị địch đuổi sát đít còn quay lại phân bua: tam thập lục kế tẩu vi thượng sách.
Trước khi lìa thế cuộc, như một diễn viên khi màn sắp hạ, Westmoreland, Tây Gia Địa, ca một lời mùi mẫm, “xin lỗi, xin lỗi…” như chút dầu làm trơn tru, qua truông cho dễ. Xem hát xong thì về, khán thính giả mấy ai thức khuya mà nghĩ xem đào kép nói chi; xướng ca vô loại, nói chi thì nói, vô tội vạ mà. Tạo hóa gây chi cuộc hý trường?
Phụ chú:
On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.

Westy phải dùng The Republic of Vietnam, không nên dùng South Vietnamese vì không tương hợp với vế trước: The United State Armed Forces. Thành ngữ "you guy" tuy thân mật không thể dùng trong một lời tuyên bố liên quan đến sống chết của nhiều người. Dẫu sao vẫn còn hơn câu nói phi nhân phi lý phi chính trị của Fulbright: việc rút quân khỏi VN không gây cho ông thượng nghị sĩ cảm giác gì khác hơn là cảm giác nơi ông, khi đội football sinh viên Arkansas thua độiTexas. (đã đăng 20.08.2014)