add this

Tuesday, February 3, 2015

cuộc chiến tàn chưa?



south vietnam, abandoned uniforms, communist invasion, the vietnam war, fall of saigon
                                                        Oh Dante! Divine Comedy or Inferno?

cuộc chiến tàn chưa?
tôn thất tuệ
đọc Nguyễn Đức Lập
Cuộc Chiến Tàn Chưa?
Hoa Gấm xuất bản California 1987


Trong hài kịch người ta cười vì điều gì? Chẳng phải vì tuột quần lòi mông, mà vì câu chuyện có thật. Nếu lời giải thích trên đây được chấp nhận, những chuyện của Nguyễn Đức Lập (NĐL) được xem là có thật. Cuộc chiến tàn chưa? (CCTC) đem người đọc đến một buổi họp ấp nhàm chán với Sáu Trọc xí xộn te rẹt chỉ vì ban bí thư xã muốn món thịt cầy cuối năm để tạo sự đoàn kết. Tác giả cũng cống hiến một cuộc đánh ghen thật "sexy": tuột quần xác ớt vào háng kẻ cướp chồng và cho các tay ghen hùa đánh hôi mấy cái đồ lót ve vẩy trên tay làm cờ chiến thắng về làng ca khúc khải hoàn. Hoạn Thư vẫn có mặt trong kẻ làm vợ của một cán bộ nằm vùng ở Gia Định.
Có một chút khác biệt nho nhỏ giữa hai chữ truyện ngắn và chuyện ngắn. NĐL dùng danh từ thứ hai. Người viết muốn nêu rõ ông ta không viết văn mà kể những mẫu đời, những chi tiết nhỏ của "bức tranh vân cẩu" mà khung vải là một thôn ấp xa xôi ở VN trong muôn ngàn địa phương miền Nam sau 1975. Tuy tác giả cố tình khiêm nhượng, rồi ra những chuyện ấy, nếu đạt tính chất dân gian như Tấm Cám, sẽ trở thành câu chuyện không của ai mà kể hoài cho nhau nghe. Phải chăng người giới thiệu đã bắt đầu quá khen NĐL?

Ngôn ngữ bộc trực
Không cần gán cho cuốn sách một trường phái như hiện thực, tả chân, hiện thực xã hội, loại có luận đề v.v...vì đó không phải là việc của tác giả và người đọc. CCTC gần như sao lục các câu nói sống động. Tuy mới nhìn có vẻ cẩu thả thô tục, chính đó là sự sống (mà có gì quí hơn sự sống của con người và sự sống của ngôn ngữ). Tôi vô cùng sung sướng hình dung cái miệng dỏng dảnh của Bà Tư Tào Tháo:
- Bộ bữa nay thiên hạ trúng gió chết ngắt hết rồi sao mà hổng có ai đi chợ hết, hay là bị xe lật, đui què mẻ sứt hết rồi, sút tay gảy cọng hết rồi sao không lết nỗi ra chợ.
Người vợ liệt sĩ ấy đã xổ tài nghệ với công an đuổi chợ không cho bà bán mớ hành ngò trên tay như những đường thương ma quái:
- Phản ông phản cha mày chớ phản động. Tiên nhơn tổ đại từ đường tụi bây, cái quân đâm heo thuốc chó phá cửa đốt nhà. Tụi bây tới số rồi tụi bây mới chọc bà cố nội tụi bây. Mới ráo máu đầu mà đã làm trời. Tao theo cách mạng từ hồi tụi bây còn trong khu đít của con gái mẹ tụi bây...Mỗi thằng lương tháng mấy đồng mà thằng nào cũng hút thuốc thơm ngoại quốc. Tụi bây ăn của dân từ trong quần ăn ra mà...
Tuy cùng một gốc, Anh ngữ ở Mỹ có khác với ở Anh; Úc có lối nói khá riêng biệt; Anh văn ở Ấn và Nam Phi cũng chịu sự thay đổi nầy. Tiếng Pháp ở Canada không hoàn toàn giống ở Paris. Không hiểu thế hệ thứ hai và ba ở Mỹ có còn ai nói tiếng Việt không. Nếu có thì những cuốn sách như của NĐL đem người nói tiếng Việt về gần với VN hơn. Họ sẽ không quên lối nói bộc trực và tượng hình của miền Nam.
- Vợ chồng tôi ăn ở với nhau như hai con cá trê đực, ráng muốn lòi con trê cũng hổng ra được đứa con nào thành ra muốn tích cực động viên cho con đi nghĩa vụ cũng không có đứa nào mà động viên.
Những câu nói ấy, hồn nhiên, không tinh lọc qua kính học thức, của những con người sống thực trong xã hội về sau sẽ giúp các nhà nghiên cứu nhân chủng học nhận diện đúng một thời đại. Bởi lẽ ngôn ngữ cho biết cả tâm tình, các mối lo âu và cả bệnh hoạn.

Cuối ngõ tin yêu
Tuyển tập gồm 15 chuyện ngắn mà thật ra có thể nói là 14. Hai chuyện đầu và cuối là hai mảnh của một sự việc, với tựa đề và nhân vật như nhau nhưng đánh dấu hai khoảng sống khác nhau của Bà Tư Tào Tháo.
Đề tài chung của cuốn sách là sự vỡ mộng của những người đã làm việc cho Mặt Trận, những người ở trong thế kẹt cố giữ lấy câu gặp thời thế thế thời phải thế nhưng chẳng may thế thời không phải thế. Đó cũng là sự chạm trán giữa những tâm thức khác nhau trong cùng một con người; đó cũng là sự nhận biết cái bên ngoài và bên trong không giống nhau.
Thực tế phũ phàng, tập truyện thứ hai, là thực tế phũ phàng dành cho Năm Lượng, ho hen và hom hem gầy yếu. Lượng tham gia kháng chiến từ hồi mười tám tuổi, tập kết ra bắc và kết nạp vào đảng rồi đi bộ qua Trường Sơn vào Nam. Tôi tin một người như Lượng đã cố gắng như câu hát của họ: nở ngàn hoa chiến công dâng lên người, dâng lên tới đảng cả niềm tin yêu sáng ngời. Ta cảm động cái tin yêu của Lượng vì ít ra còn có người tin yêu dù tin yêu vào chỗ nào. Thực tế, đoạn cuối cuộc đời đã đặt Lượng trước một gã trưởng phòng công an ít tuổi hơn con lão để bắt đầu một trò chơi mới: điều tra tham nhũng của đứa em kết nghĩa trong quá trình tranh đấu lúc nào cũng sát nhau như cặp bài trùng. Sáu Vịnh, thay vì sợ sệt, đon đả anh anh em em với viên thanh tra, đã thẳng thừng cho biết sự ăn chia cả với kẻ phái lão đến đây, chính hắn đã bỏ tiền mua cơm cháo và mua cái mùng mới cho quan ngài nằm nơi công xá vãng lai nầy.
Lão đã chạm một cái gì vô hình không cao như dãy Trường Sơn, không thuộc ý thức hệ, không có trong niềm tin của lão. Lão đã cáo bệnh phục viên. Nhân danh công lao đóng góp 30 năm của lão, họ tổ chức buổi liên hoan thật lớn cho lão về vườn. Một món quà trần truồng, không gói giấy, không trao tận tay, nằm chềnh ềnh trên bàn. Một cây thuốc Samit sản xuất ở Thái Lan. Cây thuốc hình lập phương bốn miếng dài hai miếng ngắn cho ta ý niệm về một cái hòm. Thật vậy nó đánh dấu ngày tàn của lão khi tin yêu đã chợt tắt. Bệnh tật, cô đơn, nghèo đói là những huy chương thực sự dệt bằng những bước chân của lão trên đường mòn Trường Sơn. Vào lúc bệ rạc gần về với ông bà, lão gặp Sáu Vịnh trở lại và được giúp đỡ đi bác sĩ tư. Người em kết nghĩa dạy cho lão bài học là dù gián tiếp lão cũng không ra khỏi thực tế phũ phàng của tham những. Nói ra anh đừng buồn, tôi mà không tham nhũng móc ngoặt thì tiền đâu mà lo bệnh cho anh. "Năm Lượng tiếp tục làm thinh. Những giọt nước mắt chảy dài trên đôi gò má khô khốc nhăn nheo của lão".
NĐL trình bày câu chuyện với nhiều tính chất trào lộng. Những giọt nước mắt của Lượng là nước mắt của người đọc dù ở vị trí nào. Thực tế phũ phàng ấy không chỉ dành cho Năm Lượng mà cho rất nhiều nhân vật khác trong tuyển tập.
Không hơi đâu mà đặt vấn đề thực hay không thực của các nhân vật trong thể loại sáng tác nhưng ai cũng giả định như có thật. Nhân vật của NĐL không có tính chất biểu tượng nhưng rất tiêu biểu. Tính chất ấy làm bức tranh sống động vì nó còn tính chất cá biệt của mỗi người trong bối cảnh đó.
Một Năm Lượng, một Sáu Thiệt, một Tư Tào Tháo là những con người tăm tối, vô danh tiểu tốt, thuộc cấp lẹt đẹt trong hệ thống đảng. Nói vậy không nghĩa là sự vỡ mộng của họ không làm ta chú ý và đau đớn. Kinh nghiệm của họ, ít ra về nhân bản, cần được xem là quan trọng như sự ngỡ ngàn của Arthur Koestler, của André Gide, của Ignazio Silone v.v...
Mà còn cay đăng hơn.
Tuy là một nhà trí thức, André Gide không bị thu hút bởi Nga Sô vì lý thuyết của Marx mà vì sự băng vữa của nền văn minh Âu châu. Những đặc quyền, đặc lợi, lòng vị kỷ đã dằn vặt nhà văn nầy. Ông cũng nhận rõ sự bơ vơ tư tưởng của Âu châu. Con người (tây phương) cần có cái gì thay thế đấng thiêng liêng họ đang tôn thờ, vì theo Gide ý niệm về đấng thiêng liêng đó đã rỗng trong lúc con người cần một lý tưởng vượt cao sự ích kỷ. "Nếu chỉ dựa vào cái tôi dày đặt, con người sẽ đối diện với sự trống vắng kinh tởm".
Những cảm thức nhân bản và thái độ dấn thân của Saint Exupéry đã làm cho Gide cảm khái. Trong lời tựa cuốn Vol de Nuit, Saint Ex viết: hạnh phúc không cứ chỉ nằm trong tự do mà còn ở trong sự chấp nhận một nghĩa vụ". Và Gide xem như cuộc cách mạng Nga 1917 đáp ứng nhu cầu: Tôi muốn la thật to nói lên thiện cảm dành cho Liên Sô; tôi ước mong tiếng la ấy được nghe và có ảnh hưởng. Đó là năm 1931.
Nhưng đến 1936, André Gide lại la to hơn để xin mọi người đừng nghe tiếng la 1931 của chính mình. Tiếng la mới ông dùng để nói thay cho cái tăm tối đè nặng lên những kẻ bị lưu đày. Những gì Gide thấy tận mắt đã làm ông ta đau đớn. Sự chịu đựng của nhà văn nhạy cảm nầy đã đến mức cùng với sự phát giác sau đây. Một kiến trúc tuyệt hảo nói là để cải tạo thành phần phạm pháp thành những công dân tốt nhưng trong thực tế những kẻ thụ hưởng tiện nghi ấy là những kẻ chỉ điểm cho kẻ khác đi tù. Tác giả Khúc Nhạc Đồng Quê tự hỏi: Còn có sự vô luân nào nhiều hơn thế ấy nữa không?
Nói thêm một chút để so sánh với Năm Lượng. André Gide vỡ mộng còn la với thế giới, còn có thể viết văn và đoạt giải Nobel 1947. Còn Năm Lượng? - những giọt nước mắt chảy dài trên đôi gò má khô khan. Còn Sáu Thiệt? – lủi thủi ra đi lúc trời tối sợ xóm làng biết, tìm về Đồng Tháp vì "rau rác, tôm cá khá hơn" chứ chưa được cái thứ "anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than". Như vậy hành trình của các nhân vật trong tuyển tập NĐL đau thương hơn những trường hợp được xem là vĩ đại. Hậu quả để lại suốt đời trên thân thể và lương tri của những kẻ đi gia nhập. Mụ Thỏa suốt đời bới xách che dấu chồng nay chết sình ôi vì đơn xin cấp hòm theo tiêu chuẩn bị "đá banh", cuối cùng phải nhờ mấy tấm ván kê sạp sau nhà của Hai Mập, tên ngụy từ đầu đến đít, nhờ đến cái mền cũ của Hai Phi phản động tẩm liệm tiễn đưa người vợ của liệt sĩ. Trong lúc ấy nên nhớ ở xã đầy cả một kho gỗ mà cô Sáu Trọc ỏng a ỏng ẹo không kéo ra được một que.

Trâu già không nệ dao phay
Nếu mụ Thỏa về lòng đất bằng những cây đinh đóng vội trên gỗ hòm, bà Tư Tào Tháo về quê như một kẻ mặc áo gấm. Cái áo tươi thêm khi trên đường đi bà chỉ cho đứa con gái cây cầu khỉ nơi mà cha nó đã hy sinh. Lại càng tin tưởng nữa là bên cạnh lời hứa của nhà nước, mãnh đất và căn nhà bà nhắm tới thuộc phần hương hỏa của chồng trước đây bị soán đoạt. Của trong tay rồi, cần gì phải gấp, dung dăng dung dẻ với bà con, hơn nữa cũng để cho người ta hợp thức hóa "diện" của mình. Thật vậy, bà Tư Tào Tháo đã chễm chệ ngồi hàng đầu trong buổi lễ phát bằng. Công lao của chồng được ca ngợi và các cung cách cũng đã đầy đủ. Bà cũng được ôm choàng như các đại đồng chí ôm nhau tuy chưa quen với cử chỉ ấy; nhất là khi cái mũi nhám cào của lão cán bộ rê tới rê lui trên đôi gò má nhăn nheo như nùi giẻ của bà.
Là con nhà cách mạng, cô Út được giao trọng trách xứng đáng là đi đếm gà đếm vịt của dân làng. Còn căn nhà cũ thì không được vì đảng đã phân bố. Phần đãi ngộ dành cho bà cũng liên quan đến vịt như cô Út: cái chòi của thằng Tư chăn vịt mé sông.
- Cái điệu nầy bộ chồng tui là cục cứt. Vậy mà chú nói chồng tui được biểu dương ngoài Hà Nội.
Viên bí thư xã đáp: - Đó là sự thiệt. Tui nói láo với chị làm chi. Lối nói nầy tuyệt hảo, không biết lão muốn trả lời cho câu một hay câu hai của bà Tư (chồng tôi là cục cứt / được huy chương ở Hà Nội). Còn nói gì nữa. "Trên" là một cái gì to lớn vô hình, con ngáo ộp che dấu và giải thích mọi thứ. Trên đã quyết định cho bà cái chòi chăn vịt. Còn "dưới" là bà muốn làm gì thì làm. Hai mẹ con bèn về Saigon buôn thúng bán bưng.
Thành phố ấy kẹp nách với Gia Định tuy là nơi xô bồ mà là nơi dung nạp các anh hùng mạc lộ, một bên là kiểu bà Tư, một bên là những kẻ sống không nỗi vùng kinh tế mới. Nơi cái rốn gặp gỡ giữa quân tử và tiểu nhân nầy có đủ chỗ cho mẹ con bà đặt đôi thúng gióng bán hành ngò. Nơi đó còn có những kẻ bỏ qua, tha cho bà cái vui say quá độ của một thời vung vít. Lối xóm đã mua hết những rỗ rau ế không bán được vì chợ bị công an đuổi. Bà Tám Cháo Lòng cho mẹ con bà tá túc vì tình cố cựu.
Bà Tư Tào Tháo phải vùng lên để kiếm sống, nhất định ăn thua đủ. Bửu bối, túi gấm bà lận vào lưng quần, chốc chốc thò tay cho chắc còn đó: mấy tờ giấy chứng nhận gia đình cách mạng. Đấu trường là chợ Bà Chiểu. Đám hậu thuẩn khá đông toàn đồng cảnh ngộ. Hổn chiến xẩy ra như sau:
"Một bàn tay (của công an) rắn chắc chụp lấy vai bà Tư. Một bàn tay khác nắm vô ót... Miệng bà vẫn chát chúa 'ăn cướp, ăn cướp'. Hai chân bà dãy đành đạch. Chiếc rỗ bị hất tung đi. Hành tiêu ớt tỏi đổ tháo trên mặt đất. Bà Tư Tào Tháo bị xách đứng như một con gà."
Cả chợ như ngưng hoạt động để xem một màn rất cụp lạc mà chính yếu là sự tuôn xả tất cả ngôn ngữ thâm sâu của bà Tư và tiếng bà vỗ mông bồm bộp như tự cổ võ thúc quân. Trước khi đồng ý về bót dàn xếp, bà Tư thò tay vào lưng quần, rút ra một cuộn giấy tròn, banh ra dí vào mặt công an, dõng dạt nói: - Chồng tao chết, tới bác còn phải đọc diễn văn. Mai mốt tụi bây chết thì cũng như con chó ghẻ thôi.
Không rõ bên trong hai bên đã phân xử ra sao. Bà con bên ngoài chỉ biết qua lời tuyên bố của bà: - Tổ cha tụi nó chớ, chưởi tụi nó đã đời vậy chớ tụi nó có làm con mẹ gì đâu. Nhưng bà tiếp: - Tụi nó chưa chịu thua đâu. Mà tui cũng chưa chịu thua đâu. Trâu già đâu nệ dao phay. Bữa nào xung gan, tui còn vạch cái bộ mặt thằng già có râu nhà nó nữa kia.
Với câu nói trên NĐL châm dứt tuyển tập CCTC.

Cuộc chiến ý thức
Hình bìa của Nguyễn Nho Bụi và Phạm Xuân Nghĩa vẽ một thanh niên ôm choàng một thân cây bên khẩu súng M16 hạ xuống với chiếc nón sắt móc nòng, xa xa là hàng mộ bia sắp lớp. Điều đó và tựa đề cuốn sách như muốn nói đến cuộc chiến được quan niệm ở hải ngoại. Thật ra không thế. Mà chẳng lẽ chỉ là cuộc chiến giữa bà bán cải và đám công an mà kết cuộc chỉ là chưởi vả sướng miệng kèm mấy cái vỗ mông bồm bộp?
Phần dẫn nhập NĐL có viết: "Chiến tranh quả nhiên đã chấm dứt đối với tay sai ngoại bang. Nhưng đối với dân tộc, thực sự cuộc chiến mới bắt đầu ... không có chiến trường, tản mạn khắp nơi (trong đó) mỗi người dân là một chiến sĩ... cho người dân Việt nói lên tiếng nói và nguyện vọng đích thực". Tác giả không quan niệm cuộc chiến đơn giản như sự đôi co giữa bà Tư Tào Tháo và công an, cũng không quan niệm theo thời thượng kiểu chính trị phòng trà. Những bài viết khác của NĐL trên các báo ở Mỹ nói lên tâm trạng chua xót và diễu cợt sự yêu nước làm dáng "cho có với đời".
Trở về tác phẩm trên tay, NĐL đã đưa cái nhìn rất nhân bản đến mọi người liên hệ dù ở chiến tuyến nào. Niềm đau ở con người đều như nhau. Đau lắm chứ. Bà Ba Trưng đã mất đứa con gái vì bà đòi cô ta hạ ảnh thờ của chồng là sĩ quan ngụy tử trận để đón chồng trong bưng ra. Rồi chồng cũng chẳng thấy "vì bận đi công tác xa với một nữ cán bộ". Đau lắm chứ. Bà mục sư bỏ công nuôi trẻ mồ côi để bị kết án nuôi con nít bán cho Mỹ. Cái tin một thằng tên Lân bị chặt đầu ở Sa Mát chỉ úp mở ở xã. Nhưng Mười Thạnh lấy ảnh con đem ra thờ không cần điều tra vì ông xem như nó đã chết từ khi đi nghĩa vụ và đưa lên biên giới Miên. Trong lúc ấy bà Bốn Định (có chồng là viên chức xã) cả năm rày đem thằng con ra làm bài học gia đình phục vụ đất nước. Rồi vô tình thằng con bà Bốn Định được xác nhận chết. Kẻ hung hãn hôm trước trong phiên họp động viên nghĩa vụ được cô Sáu Trọc mô tả:
- Ai dè cái nư của chỉ lớn dễ sợ. Chỉ nhào xuống dãy đành đạch dưới đất, rồi lăn từ trong nhà ra ngoài ngõ. Chỉ chưởi không trừ một cái gì hết. Chỉ la làm tụi thanh niên trong xã xanh mặt.'Tổ cha bay, con tao có chết thì cũng phải đem cái xác về đây cho tao'.
Kể lại chuyện trên nhằm chứng minh rằng khi ngoại cảnh - do con người tạo ra - đã đụng đến cái cùng tột lay chuyển cả lương tri, con người trở thành đối nghịch với ngoại cảnh ấy, chứ không còn trong thế hổ tương. Đó là nguyên ủy cuộc chiến. Cuộc chiến sẽ mang hình thức ra sao không phải là việc tiên đoán của người viết. Không tìm thấy trong tuyển tập nầy một kế hoạch kinh tế, một chính sách ngoại giao v.v.. cho một nước VN tương lai như người Việt hải ngoại nói rất nhiều.
Nghe nhạc của một nước Không Tử biết hưng thịnh ra sao. Thấy rõ hoàn cảnh từng con người một giúp ta dự đoán rất nhiều. Đem kinh nghiệm của Vạn Thế Sư Biểu vào cuốn sách nhỏ nầy không phải là ý muốn của NĐL mà là cái luận của người đọc, nhất là khi bối cảnh là quê hương hay chính bản thân độc giả.
"Chỗ sáng con có tìm được hay không má không biết. Nhưng con bỏ chỗ tối mà đi, má cũng an lòng". Lời bà Hai Khánh chính là lời của mẹ ta. Đoạn nầy đưa ta về câu chuyện Khổng Tử gặp người đàn bà khóc chồng bị cọp ăn mà không chịu đến xứ người dữ "vì người dữ còn nguy hơn cọp dữ".
Cuộc chiến NĐL cho nằm dưới 15 chuyện ngắn, theo chỗ người giới thiệu thấy, thuộc phạm vi ý thức (không phải ý thức hệ). Tất cả mọi cái nhìn - dù của nhà văn, kế hoạch gia, cách mạng gia v.v..- đều phải đến tận những con người thực sự. Nhân vật của NĐL không có bằng đại học, không biết nhạc cổ điển tây phương, nhưng biết lẽ thường, cái lương tri tự nhiên có trong con người và họ cũng rất người, cuốn theo những đàn sáo của thời đại. Sự ba động của tâm tình sẽ trở về sự lắng yên tự nhiên một khi đã thấy sự thật. Nếu đó chưa phải là cuộc chiến thì nó cũng là khởi nguyên của cuộc chiến.
Sự thật đã giải bảy. Một bên là những con người có thật dù ở chiến tuyến nào và một bên là cái trừu tượng tuỵêt đối mà người ta nhân danh để giải thích mọi chuyện phi lý. "Trên" là trên nào? ai ở trên? Với nền tảng chính trị trừu tượng ấy, con người là số không mà nhà nước là cực đại, nhân thể chỉ là một ảo tưởng văn phạm nếu muốn dùng một chữ của Arthur Koestler.
Trở vể địa bàn VN cả bắc lẫn nam, trước và sau 1975, những thứ trừu tượng ấy đã quá quắt. "Tiền đồn của thế giới tự do", "mũi dùi xung kích cho thế giới cọng sản" đã đưa NĐL đến lời than trong phần dẫn nhập: Buồn làm sao cả một dân tộc không có quyền, không có tiếng nói trong sự tồn vong đất nước. Trạng huống đó đã đưa đến bức tranh vân cẩu mà tác giả phát thảo trong CCTC. Người viết cũng nhấn mạnh trong lời tựa đến những nạn nhân "vạn cốt khô" cho các tướng danh thành dù "thành" trong sự thanh trừng của đảng hay "thành" trong vương giả tủi nhục ở California hay Paris.
Để chòng ghẹo và thử tài Tôn Tử, nhà vua (Ngô Hạp Lư) đã ra lệnh cho các cung nữ không theo hiệu lệnh của nhà quân sự nầy. Nhà thao lược đã đem chém hai nàng ái phi sau đó tên tuổi đi vào quân sử Đông phương. Viết lại chuyện nầy, đa số đều khen tài Tôn quân nhưng hầu như không ai để ý đến hai nhân vật tế thần. Cùng với những người cầm bút khác NĐL đã nhìn hai cái đầu rụng rơi ấy. Một Năm Lượng đời tàn cuối ngõ tin yêu, một bà mục sư mất con đi thủy lợi, con Thiền phải tự vận khỏi lấy thằng Đào cho hắn đạt đối tượng đảng v.v... Và Cuộc Chiến Tàn Chưa? là "thánh giá oan khiên buổi phế thần" (thơ Nguyễn Ngọc Thuận) cho những linh hồn ấy, của kẻ đã chết và đang sống mà như đã chết.-

♫♪♫Beethoven Eroica♫♪♫

Sunday, February 1, 2015

hột kê ngọc













hột kê ngọc

Tôn Thất Tuệ

Tôi ít khi đọc báo Âu Châu; tình cờ gặp trên ấn bản tiếng Anh báo “Der Spiegel” một bài về nạn đói trá hình ở Ấn Độ, ăn cho đầy bụng nhưng chẳng bổ béo gì. Nó kéo theo nhiều di lụy. Mặt khác, văn hóa xã hội cũng dùa theo. Ví như phụ nữ Ấn, lời một bác sĩ, làm việc nhiều hơn ai hết mà chỉ ăn phần dư thừa, khi thiếu khi đủ làm sao sinh con sức khỏe.
Phong trào phát triển nông nghiệp (Green Revolution) thập niên 1960 đã làm gia tăng gấp ba sản lượng nhưng với đối phần là đất đai chai cứng và tốn quá nhiều nước. Phân hóa học và thuốc sát trùng phải đem ra xử dụng tối đa. Nông dân phải bỏ tiền mua hạt giống và những thứ khác nhưng nông phẩm bán ra không bù đắp quân bình chi thu. Mặt khác nông dân không còn trồng mễ cốc cổ truyền. Từ ba trăm loại hoa màu nay chỉ còn bốn thứ là lúa mì, gạo, bắp và đậu nành. Người khai lập Green Revolution phải công nhận phong trào nầy không thể loại trừ nạn đói hay thiếu dinh dưỡng.
Green Revolution ngày nay chủ trương canh tác gần với thiên nhiên và nên tránh xa nền canh nông quá ư kỹ nghệ hóa, quá ư thương mãi hóa; họ thúc dục nông dân trồng những thứ đã bị lối mới xô vào bóng tối, đồng thời chọn loại hạt giống tốt. Nông phẩm đang được chú ý là hột kê ngọc, (Dhanshakti, thịnh vượng và sức lực) thứ mễ cốc nầy dân Ấn trồng tự ngàn xưa, quen thủy thổ nhưng hạt giống đã được tăng cường sinh học (biofortified) có nhiều khoáng chất cần cho sức khỏe. Tôi thật sự không biết “biofortified crop” có khác gì “altered gene crop” của Mỹ hiện gây nhiều thảo luận gay go, từ những khía cạnh dinh dưỡng, kinh tế, môi sinh và tôn giáo.
Tiểu bang Tây Ấn Maharashta đang nhờ vậy đã bước vào con đường thịnh vượng và khỏe mạnh. Nông dân Ấn đang bắt đầu trồng lúa mì, và gạo nhiều chất kẻm. Khi nói về Ấn Độ, ký giả Philip Bethge để cập đến kết quả của giống biofortied ở Brazil với đậu, bí ngô và sắn; ở Uganda có khoai lang nhiều sinh tố A; ở Rwanda có thứ đậu mới nhiều chất sắt.
Der Spiegel không quên vẽ bức tranh hiện thực của thế giới. 870 triệu người hiện không có gì ăn; một phần ba nhân loại nằm trong sự hoành hành của nạn đói trá hình; tình trạng thiếu sinh tố và khoáng chất như kẻm, sắt và iode. Phụ nữ và trẻ em bị ảnh hưởng trầm trọng. Phụ nữ dễ chết khi sinh, sinh sớm, hay kinh nguyệt thất thường. Trẻ con có thể mù, không lớn, suốt cuộc đời dễ bị nhiễm trùng, khó học hành vì não không phát triển đủ.
Khi đọc bài báo này giữa năm 2014, tôi thật ngậm ngùi, thấy chính mình, gia đình đã lắm lúc không có cơm ăn; nhưng dẫu sao nhìn lên mình chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình. Vẫn còn cảnh đói khát rách rưới, gia tăng chứ không thuyên giảm, bạo động khắp nơi, bạo động được nuôi dưỡng bởi những thế lực từ mọi phía, đỏ đen xanh vàng. Nạn nhân vẫn là những xứ nghèo. Nhân loại đã quên những vụ núi rác lở đè chết những người đi moi rác ở Phi Luật Tân, xứ đã từng có bà tổng thống sắm đến ba.. ngàn đôi giày. Tuy cặp Marcos đã bị hạ bệ và làm chủ mấy dinh thự quanh bờ hồ Thụy Sĩ, số giày dép nầy vẫn được cất giữ trong bảo tàng viện, có điều hòa không khí, không quá ẩm đế tránh mốc meo, không quá nóng để giày không khô thành đá. Già trẻ lớn bé ở nhiều châu lục đi mót ở những hầm rác độc hại (toxic dumps) do động đất khui bày.

Vì bài báo nói về Ấn Độ, tôi xin ghi vài suy nghĩ về tiểu lục địa nầy và nới rộng qua bối cảnh của Á Châu.
Ưu tư chính yếu của Gandhi sau khi có độc lập là gây lòng tự tín của dân Ấn bằng cách khuyến khích làm việc dù với những phương tiện thô sơ nhất. Gandhi vừa tiếp khách vừa quay sợi dệt để chứng minh dân Ấn có thể có áo quần che thân mà không cần đến máy móc, chờ cho đến khi có máy dệt thì chờ đến bao giờ. Về tinh thần, làm việc là để xác nhận sự hiên diện và hữu ích của con người. Gandhi bị ám sát ngày 30-01-1948, kéo theo phần khá lớn tư tưởng triết học chung và của Ấn. Bối cảnh chính trị của quốc gia mới độc lập nầy chuyển hướng. 
Sau đó bước qua thập niên mới, những năm 1950, Ấn chú trọng đến mặt nổi hiều hơn; Ấn nằm trong ảnh hưởng của Nga trong thời chiến tranh lạnh. Cùng với Ai Cập, quốc gia nầy là nơi phô trương những viện trợ lớn từ Moscow, những công trình lớn. Nga muốn bơm Ấn để quân bình với Tàu. Nehru đưa ra kế hoạch thành lập Khối Không Liên Kết. Khối nầy thành hình 1961 tại Belgrade, Yougoslavia. 
Thời ấy, ở đâu có ấn phẩm thì có những chữ như: phát triển, quốc gia chậm tiến (quốc gia đang phát triển) đầy hình ảnh cạnh tranh kinh tế giữa hai khối Nga Mỹ. Cho nên phe nào cũng cần có những kế hoạch hào nhoáng. Đập Aswam, Ai Cập, đã được Kroutchev khánh thành và cho cái tên là Kỳ Quan Thứ Tám của Thế Giới. (Đập nầy có rất nhiều di hại, các đập nói chung hiện nay đang được nghiên cứu để phá hủy, trả lại quân bình cho môi sinh). Công trình nầy đã đưa Nasser lên đĩnh cao danh vọng.
Anh hùng Nehru cũng cần những cú kinh tế sau lưng để thành lãnh tụ của thế giới thứ ba. Bộ trưởng quốc phòng Menon cần nhiều súng đạn đưa lên biên giới để có chiến tranh Ấn Hoa. Nói khác, lãnh tụ Ấn chỉ hướng ngoại phô trương thanh thế trên thế giới. Nhưng may cho tiểu lục địa nầy là không có một nền cai trị tập quyền như Tàu và không có lãnh tụ khùng điên như Mao. Các tiểu bang tự trị, theo truyền thống, gạt bỏ những ý thức hệ ngoại lai.
Tuy không còn cuồng say thời chiến tranh lạnh, Ấn vẫn phải củng cố sức mạnh quân sự và đã có bom nguyên tử 1974, thử ngay ở biên giới với Pakistan. Ấn Độ nói chung, trung ương, địa phương, tư nhân, đã thực tế tìm cách giải quyết nhu cầu của hơn một tỷ người, theo những phương hướng nhân bản hơn. Bethge đã dùng quan niệm mới: “fundamental human right" of satiety; nhân quyền được ăn uống đầy đủ, phẩm và lượng. Thứ nhân quyền rất cấp thiết; ngay cả nước giàu có như USA phải làm cho TT Roosevelt lên tiếng: tự do đối với nhu cầu (freedom from wants).
Giữa lúc ồn ào nhất,  sử dụng viện trợ  bừa bãi, không kể đến văn hóa hiện có, nguy hại cho môi sinh v.v... giữa lúc ấy có một tiếng nói nhỏ nhoi: "Small is Beautiful" của triết gia kinh tế gia Áo Leopold Kohr chống với châm ngôn: Bigger is better.
"Small is beautiful" đã cùng khung cảnh Á Châu thầm lặng của Miến Điện giúp cho EF Schumacher hoàn tất tác phẩm rất kỳ quái dưới con mắt nhiều người, Tây Phương lẫn Đông Phương: Buddhist Economics. Với Tây Phương, Buddhist làm người ta ngờ ngợ, nếu không muốn nói dị ứng; với Đông Phương thì "buông thả, buông xả, vô thường" thì economics làm quái gì.
Cuốn sách không nhằm thuyết giảng triết lý PG, tuy tác giả nói rõ dựa trên một trong Bát Chánh Đạo, đó là chánh mệnh, một cuộc sống đúng cách, trong mối tương hệ của mọi vật, mọi loài. Tác phẩm nầy đã tạo nên một luồng tư tưởng mới. Từ đó phát sinh ra ý niệm "tổng gộp an lạc quốc gia" để bổ túc cho "tổng gộp sản xuất quốc gia (gross national happiness / gross national product; GNH /GNP), chú trọng tới phẩm chất của cuộc sống, nhu cầu vật chất tối thiểu được cung cấp, đời sống nội tâm vững chãi, biết nghệ thuật, tôn giáo tâm linh ....
Ngày nay khuynh hướng nầy bành trướng, không dùng chữ Buddhist nữa mà gọi là New Economics (NE), một tổ chức mẹ gồm nhiều nhánh chuyên môn.
Quan trọng nhất, NE cổ súy việc trở về nền doanh nghiệp cộng đồng (một thuật ngữ), công nhân và xí nghiệp cộng sinh. Bây giờ tim gan của chủ doanh nghiệp nằm đâu đâu trên thế giới; hậu quả rõ ràng nhất là hơn 51% người Mỹ dựa vào trợ giúp của chính phủ (thông thường nhất là medicare), có nghĩa sống dưới mức nghèo. NE khuyến khích các xí nghiệp chuyển nhượng cơ sở - một cách chân thành - cho công nhân hay khuyến khích thành lập các tổ hợp mà mọi người làm chủ. NE ủng hộ phong trào "Occupy Wall Street" như một tiếng chuông cảnh tĩnh một nền tài chánh băng vữa và phi nhân. NE lo ngại bức ảnh "cơm thí" (bread line) không khéo sẽ là sự thật trong tương lai gần.

Tiếng nói của Schumacher lại được nhiều linh mục "dấng thân" chú ý. Đặc biệt ở Phi Luật Tân, "Small is Beautiful" được nhiều cha đem ra thi hành ở những làng quận xa xôi. Vệ sinh công cọng, giáo dục, vv...có tính cách tự túc tự cường. Hiện nay, Care, Oxfam ...vẫn thích những dự án nhỏ, như cho vay không lãi, chỉ hai ... trăm đô la để người vay có thể mua đầu chợ bán cuối chợ, mở một business như xay bột bằng cối đá, quán nước bên vệ đường v.v...
Cách đây khá lâu chừng 15 năm, báo chí viết nhiều về một cuộc thí nghiệm thành công của Tàu. Trồng xen kẻ những loại lúa khác nhau thì chúng giúp nhau diệt trừ sâu bọ và nấm, bệnh; dựa theo nguyên tắc cây rừng sống xen kẻ giúp nhau mà sống dai. Nhưng xen kẻ không nghĩa là trồng cách nhau vài mét mà cuộc thí nghiệm làm trên những cánh đồng rộng lớn như loại tập thể hóa; bề ngang một lát chả cả vài trăm mét; loại cày dĩa 30 feet dễ bề lui tới. Kết quả nầy không thực tế, khó áp dụng ở những mức độ nhỏ "small but beautiful".
Chuyện làm ra thực phẩm dĩ nhiên nhiêu khê, vì nó nằm trong chính cuộc đời; mà cuộc đời thì phức tạp vô vàn. Nhưng trên hết vẫn là một vấn đề chính trị.
Ngân Hàng Thế Giới quả quyết nạn đói, thiếu ăn đều do chính sách của nhà cầm quyền. Nói qua là người VN biết ngay; nào là tem phiếu mua năm gram bột ngọt; rồi mấy chục năm sau ở Saigon mang từ Biên Hòa quá 10 ky khoai mì thì bị tịch thu và mang tội buôn lậu. Nói ít biết nhiều.
Á Châu mang hai bầu dân số cấp tỷ: Tàu và Ấn, lại là một châu nghèo, hãnh diện về các nền văn minh cổ. William Gordon East mô tả hai sắc thái của lục địa nầy trong tám câu thơ cô đọng như một bài Đường Thi:

Love, if you will, your roses and your nightingales
Those mountains neighbour to the sky
Those microcosms meshed in silk and stone
Those intricate fossil thoughts too old to die.
But remember the river bones dry and their shingles spread like ash
The cattle gasping in fragmented fields
The vultures wheeling down from brazen sky
and the usurer's pious text as he counts his yield

(nếu thích, xin bạn hãy yêu thương khóm hoa hồng và lũ sơn ca,
Những ngọn núi cao ngất cao bằng trời
Những tiểu vũ trụ trong tơ tằm trong đất cát
Những nguồn tư tưởng dày đặc đã hóa thạch, không phai mờ vì đã quá xưa.
Nhưng xin nhớ những dòng sông cạn như bộ xương khô, lòng sông như suối tro than;
Những con bò gặm cỏ trong những cánh đồng chia nát xẻ nhỏ li ti.
Những con kên kên bay lượn từ bầu trời trân tráo rồi đâm xuống tìm mồi
Và xấp giấy dày, linh thiêng thần thánh, trong tay người cho vay cắt cổ ghi số tiền lời đã thu được).

Nhà địa dư Hồng Mao nói rõ nội dung qua đầu đề: The One and The Other Asia. Những dòng nầy mang nhiều hình ảnh của Ấn nhưng nói chung làm nổi bật sự tách lìa của hai khía cạnh đáng lẽ phải chung nhau mà sống mà tồn tại. Bên Ấn, ông thánh thì cứ tọa tĩnh, kẻ cho vay tiếp tục cắt cổ. Bên Tàu hơi khác một chút; Khổng Lão Nghiêu Thuấn còn rơi rớt trong lòng người, kẻ cho vay được thay thế bằng Vệ Binh Đỏ, gồm cả tiền thân và hậu thân của chúng.

Nhưng hột kê ngọc, biểu tượng cho một cố gắng chung của nhiều khối óc đã suy nghĩ đầy đủ, lấy con người làm cứu cánh, sẽ tô thắm cái phần "hình nhi hạ" làm chân trụ của "hình nhi thượng" (thiếu chữ) trong đồ hình của W G East. Trên một tiểu lục địa còn rõ nét văn minh Thung Lũng Indus ngàn xưa, hột kê ngọc nếu được tiếp tục nuôi dưỡng trong tinh thần nhân bản lấy con người làm gốc, hột kê ấy sẽ nâng cao cùng lúc chỉ số tổng gộp an lạc GNH và chỉ số tổng gộp sản xuất GNP.
Vết dầu sẽ lan rộng; vết dầu sẽ lan xa.---

**************************************************************

Bản tiếng Anh Miracle Crop, Der Spiegel, Bethge