add this

Thursday, March 24, 2016

gói măng khô





truyện ngắn
gói măng khô
tôn thất tuệ
 
Khi tôi thực sự đến Quán Chim để chôn chặt cuộc đời bằng đôi chân đất thì Quán Chim không còn chim nữa. Chỉ còn một cây dầu cao khỏng đứng một mình ở góc chợ. Chẳng hiểu vì sao nơi nầy có địa danh như thế, trong lúc tên thật là làng Thái Thiện nằm ngay ở ranh hai tỉnh Phước Tuy và Biên Hòa trong tổ chức hành chánh trước 1975. Đi tắm biển Vũng Tàu du khách thường ghé lại Long Thành mua trái cây, nghỉ xả hơi rồi đi tiếp 25 cây số nữa thì gặp nó. Quán Chim. Trước đây chim đủ loại được chưng bán dọc tỉnh lộ vào ngày cuối tuần; chim đã làm thịt bán từng xâu từng rổ.

Khi tôi đến thì không còn gì nữa, chỉ có những gánh khoai mì chờ đưa lên xe một cách lén lút đem cho dân Saigon cái món sâm của thời cách mạng mới. Nơi đây cũng có máy xay lúa, cả làng phải gánh thóc đến mà chà. Từ nhà tôi đến chợ mất ba cây số.
Đây là nơi quần hội của cả bốn ấp trong xã; người mới đến nhiều hơn người cũ. Có những cô gái đẩy những chiếc xe thồ mà mặc chiếc quần jean nhung màu rượu chát đỏ còn mới nguyên kèm với chiếc áo rách vai vá vội. Có những chàng thanh niên chừng 30 tuổi, chiếc nón lá rách móc vai thưởng ngoạn ly café bít tấc một cách trang trọng như ngày còn ngồi ở Continental hay La Pagode Saigon. Cũng cùng trên những chiếc ghế dài ấy, có cả Năm Ngoãn, Sáu Lô hay Tư Bèo... cho luôn cặp giò lấm bùn lên mặt gỗ, ngồi chồm hỗm theo kiểu nước lụt như muốn chờ ai đến trình xin một chữ ký rồi cười khoái chí vì vừa ban một ân huệ.
Cứ nhìn phố chợ chạy dài chừng 100 mét, ta có thể hình dung sinh hoạt xã hội một cách đầy đủ. Đây là cái thau pha nước và dầu, không bao giờ tan loãng dung hợp nhau. Như ở các chàng thanh niên kia, quá khứ có mất đi chỉ còn đọng lại ở cái nón rách thì nó cũng còn ở nơi cung khách vân vê cái thìa rồi để nhẹ xuống bàn. Đó là mới nhìn bên ngoài. Biết đâu bên trong họ còn cả mọi thứ trầm kha.



Một thiếu phụ còn trẻ lắm vói qua bờ rào xé trộm mấy mảnh lá chuối của nhà ai để lót vào thúng rồi trở ra mé đường nhựa. Nơi đó có một bãi phân bò tròn trĩnh như mặt trăng mười bốn, còn nóng hổi như cái bánh đúc vừa đưa khỏi bếp, màu đen như chiếc phèn la dùng trong làng xã cũ. Bà ta nói: "Bầu bí nó thích phân bò", rồi như khóc, nói tiếp:

Nhà tôi đưa cho tôi một gói măng khô. Tôi dục ông đi nhanh, càng nhanh càng tốt, còn không nhỡ như người ta kêu trở lại thì biết làm sao. Mà ông cứ dừng lại, mở cho được cái bao bố lấy cho được gói măng.
- Em ạ, ông nói, cả một gánh măng mà phơi ra còn ngần ấy. Món quà cho em và các con sau bốn năm.
Tôi thương quá mà phát cáu: "Sao anh không ăn đi; phơi cất; nhịn đói".
Nhà tôi ngơ ngác nhìn trời đất như lạ lắm, thỉnh thoảng ngồi xuống lấy cái kẹp tre xỏ quai dép sút vào cái đế bằng vỏ xe. Tôi nhìn chồng tôi. Cả một khuôn mặt ngày nào chỉ còn lại mấy sợi râu mép đỏ như râu tôm luộc, đỏ như râu bắp. Mấy sợi râu màu hoe như râu Mỹ râu Tây trên khuôn mặt gầy ốm. Những sợi râu đỏ vì thiếu ăn. Những sợi râu chỉa ra như các cần ăng ten của người máy trong các phim khoa học giả tưởng. Những sợi râu màu vàng hung như màu những lát măng khô.

Đường từ trại cải tạo ra bến xe hoang vắng. Những bụi tre nho nhỏ chạy theo hai cây số hương lộ rải đá. Chỉ có những cặp vợ chồng mới gặp nhau sau bao ngày chờ đợi. Ngày trở về, may quá, chồng tôi không què quặt, trở về cọng thêm gói măng khô với mấy sợi râu như râu tôm luộc.
Bỗng nhiên nhà tôi giật cái giỏ xách trong tay tôi, xé cái bao măng lấy ra một tờ giấy. Duỗi thẳng tay ra xa mà đọc vì không có kính, rồi đọc lớn:
Một lời thỉnh cầu tha thiết: xin trao gói nầy cho Nguyễn Thị Lý, 218/3  hương lộ 3, ấp 2, xã An Thái, quận Bình Thạnh, Gia Định. Xin tìm mọi cách trao cho Lý gói này. Lý, vợ tôi, vợ của Võ Thái Hòa. Chữ ký và chữ viết của Lý có ở mặt sau tờ giấy nầy. Đa tạ 1979.
Đó là tờ giấy học trò tôi dùng viết thư cho Hòa. Thư thì viết mấy chữ cho đúng khuôn phép, bảo chồng yên tâm học tập. Tôi bớt sợ chồng tôi bị kêu trở vào trại nên ngồi ở gốc cây cho đỡ mỏi chân. Hòa ngồi bệt xuống đất một cách dễ dàng, duỗi thẳng chân. Quần áo tôi dẫu sao cũng tươm tất, có đôi dép nylon, tôi thấy nhà tôi rách nát quá mà còn để giữa hai chân cái bao bố túm miệng. Rõ là một kẻ ăn mày với mấy sợi râu ngô trông chẳng giống ai. Tôi chợt nhớ có đem theo cái áo sơ mi ngắn tay nên bảo chồng thay cho dễ coi hơn. Hòa cầm cái áo bất động, xếp lại bỏ vào túi xách rồi nói:
- Còn sá gì nữa bà ơi. Mà thay áo giữa đường, người ta nói mình thay hình đổi dạng, thêm rắc rối.

Dạo ấy trời vừa hết mưa. Tre trổ nhiều măng vòi. Tôi đứng dậy hái một nắm đem về ướp chua nấu canh. Nhà tôi vỗ mạnh vào bắp chân và nói:
- Nó to thế nầy. Nhiều lắm nhưng không dễ gì hái. Em tưởng dễ mà bẻ một mụt măng rừng à. Mới nhú ra một tý tụi nó chụp ngay. Người đông như kiến. Của ít người nhiều. Những cây măng gần thành tre còn trèo lên bẻ đọt mà ăn.
Tôi hỏi vậy sao có cả gánh mà làm khô được một gói. Nhà tôi cho biết sáu tháng trước người ta đưa anh và một nhóm nhỏ đến một khu rừng tre phát hoang. Hòa nói:
- Muốn làm khô, phải dùng măng non. Phần già anh đã ăn, ăn phần già lâu tiêu hơn nên lâu thấy trống bụng. Anh nhớ em thường nấu măng khô với bún tàu, với cải tầng ô. Anh sấy chứ không phải phơi nắng đâu. Củi thiếu gì, anh đốt lấy than rồi sấy. Không có mùi khói đâu. Trong rừng rậm, lửa ấm là hạnh phúc mà ngồi trăn trở lát măng cho em cho con thấy ấm lòng không tả.

Hòa đứng phắt dậy chạy lại bụi tre, hai tay nắm chặt vào nhau như đang cầm con dao chém ngang chém dọc cả chục lần, rồi ngã quỵ. Tôi hốt hoảng chạy đến đỡ dậy. Hòa cười:

- Anh vừa đóng cho em xem một phần nhỏ màn đốn măng. Nhiều lúc mệt lã anh nghĩ sẽ chết thật khi tay vói được mụt măng. Cái bụi tre trước mắt em nghĩa lý gì. Tre trong rừng chằn chịt. Thấy nó đấy mà chặt cả ngàn nhát chưa vào được. Gai tre, cành tre thì em biết rất dai. Còn rựa hả? Rựa bọn anh rèn lấy, rèn bằng thứ sắt tệ nhất, bất cứ cọc sắt nào cũng được, đập bẹp, đốt lửa mà rèn. Dao hả, đúng cái dao để đạt chỉ tiêu số cây, số tre đem về nạp. Em cứ tưởng tượng như lấy con dao cùn trong bếp mà cạo râu. Hừ, anh cứ nghĩ có ngày sờ được mụt măng rồi chết luôn cho lá tre rơi xuống phủ kín làm mồ.


Một chiếc xe lôi dừng lại mời. Chúng tôi từ chối vì không có tiền, một phần còn sớm mà đi bộ cũng vui, lâu ngày chẳng đi bên nhau.
- Biết có thể chết vì kiệt sức, tôi nói, sao anh cứ hái măng cho nhiều, phơi khô, sấy khô. Tội nghiệp anh quá. Ăn làm sao cho đành gói măng nầy.
- Măng tre có gì bổ béo, chỉ để cho món ăn có cái gì dai dai cưng cứng. Mà ăn nhiều lại độc. Luộc không kỹ hai nước, ăn vào say mà chết. Măng rất độc, nó làm giảm lượng calci trong người nên mỏi xương lắm. Anh biết chứ. Vào lúc đói thì cái gì cũng ăn. Đó là chuyện thường tình như ăn cỏ ăn lá. Nhưng việc hái măng nó kỳ thú. Anh muốn nói cho em nghe. Anh đã bắt đầu bằng màn diễn tuồng hồi nãy ở gốc tre kia.

Tôi mừng vì nhà tôi còn minh mẫn tuy áo quần rách nát, mặt mày hom hem, râu ria lởm chởm. Tôi im lặng lắng nghe:
- Hôm nằm mệt nhừ ở bụi tre, anh thấy mình vô lý. Một calorie vào lúc thiếu ăn rất qúi. Anh đã đổ hết sức lực để đổi lấy một thứ chả cho anh một năng lượng nào. Tính cho kỹ việc nhai măng cũng tốn thêm calorie. Làm một bài tính thì thấy mình thua thiệt. Nhưng anh vẫn xông vào bụi tre, quyết hái cho được mụt măng. Nhiều lần; nhiều lần.
- Anh phơi khô cho vợ, cho con. Em làm khổ anh.
- Không, không phải thế. Em? Con? ồ chỉ là huyễn mộng, không thực như sương núi, không thực như hơi nước. Chỉ là huyễn mộng. Anh còn tệ hơn một thủy thủ đa tình viết thư cho người yêu bỏ vào chai thả xuống biển, em còn tệ hơn cô tình nhân bé nhỏ trên bờ.
Tôi thật ngậm ngùi, bây giờ mới biết tại sao Hòa bỏ vào gói măng khô mấy chữ sau bức thư của tôi, nhờ bất cứ ai trao cho tôi gói măng khô. Nhưng tôi chưa hiểu tại sao Hòa tiếp tục đốn măng. Chồng tôi giải thích:
- Hành động xem như phi lý ấy cho anh biết anh đang còn sống. Có thể nói cho dễ hiểu tuy không đầy đủ, đó là bản năng sinh tồn, thứ bản năng làm cho chúng ta lao đầu vào cuộc sống cho dù quá khổ đau. Ở vào một nơi rất lạ, nơi mọi tư tưởng đều đảo ngược, nơi con người sống như ngoài trọng lực, nơi con người mơ thành con kiến để đi ra đi vào tổ kiến, mơ được thành con mối sống trong tỏ mối ở gốc cây hắn dựa lưng trong rừng, mơ thành trái gì đắng rụng đầy mái tranh trên cái xác buồn hiu, ở vào nơi ấy, ở vào nơi ấy, Lý...

(Nhà tôi không nói nữa. Tôi tiếp tục đi. Bỗng nhiên tôi quay mặt nhìn Hòa. Hòa đang đưa tay áo dơ bẩn chùi má bên trái, má phải vẫn còn một giọt nước mắt đang chảy.)
"Ở vào nơi ấy anh không còn một ý nghĩa nào để sống. Mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một, thân ta rẻ rề. Anh không phải là thiền sư ngồi quay mặt vào tường để gạt bỏ mọi sự ra ngoài trí tưởng. Anh vẫn có hai cảm giác khác nhau khi ăn một miếng thịt và một miếng rau. Anh vẫn còn thương nhớ em khi thấy hai con chim đậu bên nhau.
"Hành động lăn xả vào bụi tre trong hơi tàn mệt mỏi cho anh thấy mình đang còn muốn sống. Cảm thấy qúi cái thân xác, làm anh bỏ những điều người ta dạy về con người. Lúc ấy anh thấy linh hồn nằm trong bao tử; lòng bàn chân là đầu não vì nó báo hiệu đường có nhiều gai.
"Ồ, cái mụt măng như cái ngà voi, nó nằm sau những lớp gai đan chéo. Nó hấp dẫn, nó tập cho anh trở lại cái tha thiết nồng nàn, tha thiết những thứ tầm thường; đúng, cái mụt măng nó cũng tầm thường trong rừng rậm hay giữa chợ. Anh tha thiết nó như anh tha thiết cái bao tử, mà trong bao tử có linh hồn, có lương tri của con người.
"Những nhát dao anh chém vào bụi tre là những nét đục trên tảng đá, trên khối gỗ để chạm một hình tượng, để vật thể hóa thế giới tâm linh. Anh gục ngã, anh kiệt sức như điêu khắc gia gục ngã dưới chân tượng mình mới khai sinh. Tảng đá ấy, khối gỗ ấy, bụi tre ấy đã được đục đẽo thành một hình tượng. Hình tượng ấy là mụt măng. Ồ mụt măng trắng ngà, to bằng cái bắp chân. Mụt măng ấy chính là anh cũng như hình tượng ấy chính là điêu khắc gia vậy".

Chồng tôi để cái bao bố xuống đất, móc trong túi gói nylon, lấy một nhúm thuốc rê rồi vấn trong mẫu giấy báo, ngơ ngác không kiếm đâu ra lửa để hút. Tôi trở về với thực tại để nhớ rằng có đem theo cho chồng một gói thuốc hiệu Đà Lạt và một hộp diêm quẹt. Tôi quên lững cũng như tôi quên đưa cho chồng chiếc áo sơ mi còn khá lành thay cho chiếc áo rách bấn trong tù.
Đằng xa đã hiện ra mấy nóc nhà phố chợ, khu bến xe. Phần còn sớm, phần mỏi chân, bọn tôi ngồi nghỉ, cũng gần một bụi tre bên đường. Mặt khác tôi sợ đường ngắn không đủ cho chồng tôi nói nốt ý tưởng về cái mụt măng, vã lại tôi thích nghe chồng tôi nói, lâu lắm không nghe tiếng nói thân yêu ấy. Đến chợ và nhất là trong xe thì thế giới ấy của tai vách mạch rừng, của thời đại sợ hãi. Hơn bao giờ hết, lúc nầy "bụi tre có mắt, nồi đồng có tai".
Tôi ngậm ngùi thương cảm nhưng cũng mừng thầm vi chồng tôi chưa loạn trí, ăn nói còn mạch lạc. Con người muôn thuở trong anh vẫn còn, không thích chửi rủa những chuyện vụn vặt. Hòa ngồi trầm ngâm hút điếu thuốc rê, hút xong xé tàn thuốc vứt mẫu giấy và giữ chút thuốc còn lại bỏ vào bao nylon. Hòa vẫn trầm ngâm, quả đúng như cái tên Thái Hòa cha mẹ đặt cho. Từ lúc ra trại đến giờ chồng tôi chưa hỏi về các con, ngoại trừ câu món quà cho em và các con khi đưa cho tôi gói măng khô. Tôi mở gói thuốc Đà Lạt đưa cho Hòa một điếu và nhắc khéo bằng cách nói các con xin ngoại gói thuốc đem cho bố. 

Hòa vẫn ngồi yên, lại vỗ vào bắp chân mà nói:
- Ồ nó to như thế nầy, to như bắp chân, ồ cái mụt măng nó to như bắp chân.
Tôi đâm sợ chồng tôi mê dại, ám ảnh bởi mụt măng trắng ngà mà anh xem như chính anh, chẳng khác bước tượng chính là điêu khắc gia. Tôi vững tâm khi thấy mắt Hòa vẫn sáng, khuôn mặt tuy tiều tụy nhưng không có gì ngây dại, mấy sợi râu bắp ngô vẫn còn linh hoạt như râu con mèo tinh thông. Hòa tiếp:
- Anh thương cái mụt măng, anh nhớ cái mụt măng. Gói măng khô anh để ở đầu nằm. Những đêm không ngủ được anh cầm đưa lên mặt ngửi thấy mùi măng khô, đưa sát vào môi như ôm hôn nhẹ má em. Gói măng khô, người bạn đồng hành trên đoạn đời vô định, quảng đời mà vợ con là huyễn mộng, huyễn mộng không thực bằng gói măng khô để ở đầu nằm. Lý, anh muốn giữ gói măng khô.


Tôi chẳng hiểu gì, đưa mắt nhìn chằm chặp nhà tôi. Hòa đưa đôi tay dụi mắt vừa nói:
- Ra hỏi cổng, anh không còn thấy em là huyễn mộng. Em dục anh đi nhanh, anh đưa em gói măng khô, cái mà anh cho không phải là huyễn mộng để tăng cường điều không phải là huyễn mộng nơi em. Chỉ nửa giờ sau, anh lại thấy em huyễn mộng như bao giờ.
- Anh nói gì? em vẫn yêu anh. Bốn năm anh xa nhà em vẫn chăm lo cho con; nào có thay lòng đổi dạ.
- Không, không phải chuyện ấy. Hồi nãy em bảo anh thay cái áo, anh không chịu. Tại sao? (Chồng tôi đứng dậy, lấy tay chỉ vào ngực mình). Hòa nầy vừa ra một nhà tù nhỏ để vào một nhà tù lớn. Có gì khác đâu mà thay áo thay quần.
Hòa lấy trong túi ra tờ giấy mà họ mới cấp, đọc cho tôi nghe: Nay chấm dứt thời gian cải tạo trong trại thiếu úy Võ Thái Hòa, số quân (tôi không nhớ) của chế độ miền Nam cũ". Chồng tôi xếp tờ giấy bỏ vào túi nói:
- Họ giữ đầu cán. Họ chơi chữ rất khéo. Em nhớ hai chữ trong trại, nghĩa là còn cải tạo ở địa phương, ở mỏ than Nông Sơn, Hòn Gay, Cẩm Phả ...Ôi huyễn mộng nuôi em từ đây. Ha ha, người ta chơi chữ thì mình làm thơ.

Tôi dục về và xoa dịu Hòa:
- Chuyện gì đến sẽ đến, hơi đâu mà lo. Em xin được miếng đất ở Quán Chim, đất khô chỉ trồng khoai mì. Bán đồ đạt em mua được ba công ruộng hơi xa một chút. Chòi tranh nho nhỏ cũng được, anh về kiếm tranh tre nới rộng ra. Gặp thời thế thế thời phải thế.
Trên đường đến bến xe, chồng tôi cứ lẩm nhẩm nhắc đến mụt măng, tôi thực sự ghen tức với vật vô tri ấy. Nửa đùa nửa thực tôi nói:
- Được về rồi, ông cố quên giùm tôi cái bụi tre ấy, còn chỗ mà nhớ giùm tôi, thương giùm tôi. Khổ quá ông ơi.
- Ai lại đi ghen với bụi tre. Anh đã nói với em chính nhờ nó mà anh tha thiết một điều gì trên cuộc đời, nó tập cho anh tha thiết trở lại. Nó nhắc anh nhiệm vụ phải giữ một niềm tin như chiếc thuyền độ mình qua cơn sóng gió.


@*******
Suốt đoạn đường nhựa gần hai cây số, tôi hoàn toàn giữ im lặng cho chị Lý kể hết câu chuyện. Tôi chưa hiểu tại sao phân bò lại móc qua gói măng khô nhưng không dám hỏi thẳng. Vừa rẽ vào con đường đất, chị Lý để cái thúng xuống, tôi cũng đặt bao trấu trên vai xuống đất và hỏi khéo:
- Chị đi bán cái gì ở chợ mà đem cái thúng không về?
Người đàn bà duyên dáng ấy cười tự nhiên:
- Sao nói là thúng không? Có bãi phân bò. Nói chuyện quên thấy nó nặng. Bây giờ phải nghỉ mà thở một chút. Đi đâu tôi cũng đem cái thúng không, có gì lượm bỏ vào mang về như hôm nay được bãi phân bò đem về trồng bầu. Các bà đi đâu cũng có giỏ xách, nhiều lúc không có gì phải bỏ bỏ cục đá cục gạch cho nặng. Thời nay thì đem cái thúng có khi dùng, cùng không thì cái tay khỏi trống trải. Tôi ra xã đưa cho nhà tôi gói bầu khô. Tôi có ý xem có anh trong đám công tác hay không, mong nhà tôi có người quen, mà không thấy, rồi gặp anh ở chợ. Họ đi rồi.

Chị Lý ra chiều suy nghĩ, có nét buồn, nói:
- Đáng lẽ tôi không đi. Đã nhờ thằng em đi rồi, tôi chạy theo gọi vào. Không biết có sao không mà tôi lo quá. Hôm qua ngoài xã vào kêu nhà tôi công tác mười ngày nông trường huyện ở Bầu Bàn, ăn uống tự túc ba ngày sau đó họ cung cấp. Tôi lấy gói bầu khô treo trên bếp chia làm hai. Một nửa kho mặn bỏ vào keo nhựa, phần kia gói cho anh mang theo, với bốn lon gạo, chai nước mắm. Gói bầu khô để kho với cá, Bầu Bàn họ nói có nhiều vũng cạn dễ tát bắt cá lòng tong.

Chúng tôi đi tiếp trên con đường nửa khô nửa ướt. Nhà chị Lý cùng một lối với nhà tôi. Câu chuyện tiếp:

- Nhà có ba đồng nên chiều qua tôi qua chùa mượn cô trị sự năm đồng để sáng nay đưa cho nhà tôi bỏ túi. Tôi nói tiền mượn nên Hòa chỉ lấy ba đồng và bảo tôi đi trả ngay để các cô khỏi ghi sổ xuất nhập mất công. Tôi qua chùa. Sau khi trả tiền, tôi ở lại giúp phơi mấy thúng cải để muối dưa. Xong việc tôi vội chạy về nhà lo cho chồng đi công tác. Đến nơi, nhà tôi đã đi rồi.
"Trên bàn có cái gói gì bọc giấy báo. Thấy lạ tôi mở ra xem. Đó là gói bầu khô hôm qua tôi bỏ vào bọc nylon. Giữa hai lớp bao bì ấy là mấy chữ nhà tôi viết sau lá thư tôi gởi, tức là tờ giấy nhà tôi bỏ vào gói măng khô tôi nói với anh hồi nãy. Biết là gói bầu khô tôi gói lại, gọi ngay thằng em đem ra xã, sợ chồng tôi không có gì ăn. Nó đi rồi, tôi thắc mắc tại sao chồng tôi lại bỏ tờ giấy ấy vào. Tại sao gói giấy ấy lại còn đó? Cố ý hay vô tình để quên? Nhà tôi linh cảm điều gì chăng? Tôi chụp cái thúng mà tưởng là cái nón, chạy theo thằng em vừa chạy vừa kêu. Tôi muốn gặp nhà tôi. Đến xã tôi chỉ đưa gói bầu khô, tảng lờ như không biết gì bên trong. Tôi cố tránh bối rối cho cả hai. Ít phút sau họ lên xe."


Tôi xoa dịu chị Lý:
- Nông trường Bầu Bàn rộng lắm. Tôi đi rồi, một tháng trước khi anh chị đến đây. Họ cần nhiều người. Biết đâu mai tôi đi đợt tiếp. Nếu đi tôi sẽ cho chị hay. Không có chuyện gì đâu. Tôi nói nhà tôi qua thăm chị và các cháu.
- Cảm ơn anh chị. Tôi bối rối ghê lắm. Gặp bãi phân bò tôi hốt về trồng bầu phơi khô. Gói bầu khô làm tôi nhớ lại gói măng khô. Đang lúc bối rối tôi gặp anh, tôi nói liên hồi để trấn áp sự sợ hãi. Đáng lý nói phần nầy trước thì anh không bỡ ngỡ.

Đến lối rẽ vào nhà, chị Lý để thúng phân bò xuống đất. Tôi cũng nghỉ chân. Chị Lý xoay lưng về phía tôi, tay thò vào bụng xắn quần đen lên cao. Tôi nhìn xuống đôi chân. Hai gót đầy đặn nhưng đầy những vết nứt theo chiều đứng, những vết nứt làm chỗ cho bùn đen bám vào nổi bậc trên da hồng trắng. Đôi gót chân như hai miếng gỗ có vân.
Nhà tôi đã đứng sẵn ở cỗng cho biết hôm sau tôi đi công tác mười ngày. Nhà tôi có vẻ lo. Tôi nói:
- Anh cũng đoán thế. Sáng nay anh Hòa đã đi rồi. Anh vừa cùng chị Lý ở ngoài chợ đi về. Em qua nói cho chị biết, có gì gởi cho Hòa thì sáng mai đem qua.
Nhà tôi bước đi; tôi nhìn kỹ hai gót chân. Cũng có những vết nứt vì bùn phèn như hai gót chân của chị Lý.- San Diego 15-12-1985

tôn thất tuệ


Wednesday, March 9, 2016

Hồ Xuân Hương làm đĩ (?!)

Vịnh Hạ Long

Hồ Xuân Hương làm đĩ?
Theo bài nghiên cứu bên dưới, Xuân Diệu ghi nhận rằng Hồ Xuân Hương là kỹ nữ (nói toạc là làm đĩ). Tác giả minh chứng luận điệu nầy sẽ gảy đổ.
Trần Nhuận Minh ở trong nước quê Quảng Ninh. Quảng Ninh là quê quán và nhiệm sở chồng HXH và là nơi bà sinh sống. Quảng Ninh cũng là vùng có vịnh Hạ Long và sông Bạch Đằng.
Trần Nhuận Minh không những chỉ phê phán Xuân Diệu mà còn quả quyết rằng các bài thơ “tục” là của người khác gán ghép cho HXH. Điều nầy trước đây Hoàng Xuân Hãn và Trần Thanh Mại đã nói. Tác giả vẫn còn nhẹ tay vì còn sợ bóng ma Xuân Diệu có quyền sinh sát.
Chừng giữa thập niên 1950, Hà Như Chi, trong một cuốn sách giáo khoa Việt văn, đã viết rằng HXH mặt mày xấu xí, rỗ hoa, da ngâm đen, tình duyên trắc trở. Giáo sư đã dùng sự dồn nén giống tính lối phân tâm học của Freud mà nói rằng nữ thi sĩ nầy đã lấy những danh từ thuộc bộ phận sinh dục để thỏa mãn libido.
Rất tiếc không thể biết xuất xứ. ttt

Đã xác định được năm sinh năm mất
của bà Tham Hiệp Trấn Yên Quảng
Nhân đó bàn thêm về thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Trần Nhuận Ninh

Xung quanh tiểu sử của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822), có một số điều đã được thời gian bạch hóa. Bà là vợ kế (chứ không phải vợ lẽ) quan tham hiệp trấn Yên Quảng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Bà đã hai lần từ Nghi Tàm (Hồ Tây,Thăng Long) về Yên Quảng thăm người yêu, là ông Trần Phúc Hiển, để lại 2 bài thơ tình chữ Nôm viết bên bờ sông Bạch Đằng và 5 bài thơ viết về Vịnh Hạ Long bằng chữ Hán, đã in trong tập Lưu Hương Ký, từ năm 1814. Như vậy, bà ở hẳn tại Yên Quảng từ năm 1815 (khi ông Hiển cưới bà, thường cho bà dự vào việc quan) đến khi chồng bà bị án tử hình, vì đã nhận hối lộ 700 quan tiền, (dù bố chồng bà là tướng Trần Phúc Nhân, đã từng giúp vua Gia Long đánh thắng Tây Sơn rồi tử trận). Việc chồng bà chết ở Yên Quảng năm 1819 còn ghi trong Thực Lục của nhà Nguyễn.
Căn cứ vào các tài liệu mới tìm ta, năm sinh của Hồ Xuân Hương là 1772, đặc biệt năm mất là 1822. Điều đó đã được dòng họ Hồ, Quỳnh Đôi Nghệ An, quê hương bà, cho khắc vào tấm bia đá lớn, thờ ở ngay đầu làng.
Nếu năm mất được xác nhận là 1822, thì nơi mất là chùa Giải Oan ở Yên Tử. Sau khi chồng chết, để thể hiện lòng thủy chung đúng đạo nhà nho, bà đi tu ở Yên Tử và khi mãn tang chồng thì chết theo chồng ở đây. Bà yêu thi hào Nguyễn Du, điều đó cũng đã rõ vì bà có thơ tặng người yêu cũ là Nguyễn Du, in trong Lưu Hương Ký hẳn hoi. Chắc bà có tâm sự với người bạn thân nhất của Nguyễn Du là Phạm Quí Thích, nên trước khi bà tự tử, Phạm Quí Thích có đến Yên Tử thăm bà. Chồng bà (Trần Phúc Hiển) mất năm 1819, người cũ của bà (Nguyễn Du) mất năm 1820, bà mất năm 1822.
Năm 1823, phủ Tam Đới, mà ông Hiển từng làm tri phủ khoảng hơn 10 năm trước, mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường.
Vậy bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường mà hàng chục năm nay gán bừa cho bà là không phải của bà vậy. Ấy là chưa kể, khi chồng chết vì án tử hình, liệu có bà vợ nào nỡ khóc chồng: Cán cân tạo hóa rơi đâu mất / Miệng túi càn khôn khép lại rồi. Ta hiểu cán cân kia và miệng túi ấy là cái gì rồi. Khóc thế không những vô văn hóa mà còn vô cả đạo lý nữa. Ấy là chưa kể, phủ Vĩnh Tường có tên, khi Hồ Xuân Hương đã chết rồi. Còn mộ bà hiện nay ở đâu? Sau mấy năm hung táng ở Yên Tử, thân nhân đã đưa hài cốt bà về nơi ở của bà trước khi làm vợ kế ông Hiển, là ở Nghi Tàm, gần Hồ Tây. Căn cứ vào bài thơ của Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con vua Minh Mạng, em ruột vua Thiệu Trị nhà Nguyễn, in trong Thượng Sơn Thi Tập, thì nơi đó ở bên hồ Tây, và bây giờ có thể là ở lòng hồ, gần bờ hồ.
Trong tập Lưu Hương Ký, mà theo lời tựa của Tốn Phong viết ở đầu sách, khắc in năm 1814, thì Hồ Xuân Hương nói rằng: “đây là toàn bộ thơ của cuộc đời tôi từ trước đến nay”, trong đó không có một bài thơ nào trong số hơn 100 bài thơ Nôm truyền tụng được gán cho người mà Xuân Diệu vinh danh là Bà chúa thơ Nôm.
Trong bài tựa nói trên, viết tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), Tốn Phong nhận xét: thơ Hồ Xuân Hương "xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng...thơ đúng phép mà văn hoa”. Như vậy thơ thực của bà hoàn toàn xa lạ với thơ được coi là của bà.
Xuân Diệu còn khẳng định nét đặc thù để bà có lối thơ ám chỉ cái ấy của phụ nữ và chuyện ấy trong buồng kín, (dù đã được viết rất tài) tạo thành đặc sắc nhất thế giới của thơ bà vì bà làm kỹ nữ, mà bất cứ quyển từ điển tiếng Việt nào cũng ghi kỹ nữ là mãi dâm, là làm đĩ. Trong cuốn Các Nhà Thơ Cổ Điển Việt Nam, [phần Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm], có một mục viết hoa THIÊN TÀI, KĨ NỮ Xuân Diệu viết:
“tâm hồn Xuân Hương đẹp đẽ như vậy. Và do một số điều kiện sinh lí nào đó, với do hoàn cảnh gia đình xã hội ở thời đại Xuân Hương, tâm hồn ấy cũng là hiện tượng độc đáo kì lạ, có thể nói là một không hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kĩ nữ.” Xuân Diệu còn nói rõ: “Chẳng lẽ bây giờ, ta yêu cầu Xuân Hương đừng là kĩ nữ nữa? Như vậy là ta đã mất Xuân Hương.”
Đến đây thì ai cũng biết: nhà thơ Xuân Hương họ Hồ, Quỳnh Đôi, Nghệ An, vợ kế quan tham hiệp trấn Yên Quảng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay), người từng yêu cần chánh điện học sĩ – hầu tước Nguyễn Du, chú ruột vợ vua Gia Long, em tể tướng Nguyễn Khản, con tể tướng Nguyễn Nghiễm… bản thân bà cũng có anh con bà cả làm tể tướng, bố chồng hàm thái bảo, một trong ba tước cao nhất của triều đình, không phải là gái làm nghề … mãi dâm.
Trong nghiên cứu khoa học, cứ liệu nền tảng không vững vàng, ổn định, thì các luận điểm đưa ra, chắc chắn không vững bền, dù tác giả của những luận điểm ấy là một người có uy tín rất lớn. Theo tôi, công trình rất nổi tiếng Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm này của Xuân Diệu sớm hay muộn sẽ tự sụp đổ.



 Tôi đồng tình với nhận định của giáo sư Hoàng Xuân Hãn đưa ra tại Paris (Pháp) năm 1952 và giáo sư Trần Thanh Mại, đưa ra tại Hà Nội năm 1964, cho rằng, toàn thể thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, tất thảy đều không phải của Hồ Xuân Hương mà là thơ dân gian của các ông đồ, sáng tác và nhuận sắc cùng thời với truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn. 
Để hiểu diễn trình dân gian hóa thơ được gọi là của Hồ Xuân Hương, tôi chỉ dẫn một bài là Chơi Đu đã có trong thơ Lê Thánh Tông (1442 – 1497)

Bốn cột lang nha khéo trồng
Ả đánh cái, ả còn ngong
Vái thổ địa, khom khom cật
Khấn hoàng thiên, ngửa ngửa lòng…

Tôi thấy thơ vua Lê, âm hưởng rất hay, hình ảnh rất đẹp và sang trọng. Bốn cột người đứng đầu xã (lang nha) đã cho trồng, để dựng cây đu. Ả lên chơi đu (đánh cái) rồi, ả còn chờ đến lượt mình. Chữ ngong chính là chứ ngóng biến dạng. Hai câu tả chơi đu rất chính xác mà rất gợi cảm, khi cây đu quay lại, người cúi xuống là vái đất, lúc cây đu hất lên, người ngửa ra là khấn trời…Hai câu thơ rất tài nghệ đó, khi bị “Hồ Xuân Hương hoá” là lập tức có “mùi giường chiếu”, để người đọc hình dung cái “chuyện kia”:
 Trai cong gối hạc, khom khom cật
Gái uốn lưng ong, ngửa ngửa lòng…
Xin dẫn thêm nguyên văn hai bài thơ của Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký để các bạn cùng đọc. Bài thứ nhất viết về mối tình của bà với quan tham hiệp trấn Yên Quảng, Trần Phúc Hiển, lúc bà về thăm ông, ở trấn lị Yên Quảng, bên bờ sông Bạch Đằng, khi ông chưa cưới bà làm vợ. Đọc bài thơ này, các bạn sẽ thấy bà Hồ Xuân Hương yêu ông Hiển đến mức nào, chỉ lo ông Hiển không giữ lời hứa với mình:

Bạch Đằng Giang Tạm Biệt

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng
Là duyên là nợ phải hay chăng
Vun hoa khéo kẻo lay cành gấm
Vục nước mà xem động bóng giăng
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia nay đã núi giăng giăng
Với nhau tình nghĩa sao là trọn
Chớ có lưng vơi cỡ nước Đằng… (1813)

Các sách đều chú thích nước Đằng là một quốc gia nhỏ bé bên Trung Quốc. Theo tôi, chú thích thế là sai. Nước Đằng chỉ là nước sông Bạch Đằng khi lưng, khi vơi theo mức lên xuống của thuỷ triều. Bà Hương nhắc ông Hiển lòng dạ yêu bà chớ có như thế.

Bài thứ hai là nỗi nhớ người cũ, gửi Nguyễn Du.


Cảm Cựu Kiêm Trình Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu
(Hầu Nghi Xuân Tiên Điền Nhân)

Dặm khách muôn ngàn nỗi nhớ mong
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong - 1813

Nguyên tác ghi rõ Hầu người làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân. Như vậy, Nguyễn Hầu ở đây đúng là Nguyễn Du, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, được phong tước Hầu, tháng 2 năm Quí Dậu (1813), vua Gia Long bổ nhiệm làm cần chánh điện học sĩ, rồi cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.

Để kết thúc, tôi nghĩ nên đọc lại hai bài thơ truyền tụng, được coi là của Hồ Xuân Hương, để xem xét, đối chiếu, suy ngẫm:

Giếng Nước
Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông
Giếng tốt thảnh thơi, giếng lạ lùng
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá diếc le te lách giữa dòng
Giếng ấy thanh tao, ai chẳng biết.
Đó ai dám thả nạ dòng dòng.
[Thả dòng dòng, cũng gọi là đòng đòng, là thả con cá nhỏ vào giếng].

Dệt Cửi
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau
Chị nào muốn tốt ngâm cho kỹ
Chờ đến ba thu mới giãi màu…
Trần Nhuận Ninh






Thursday, March 3, 2016

căn nhà định chuẩn




căn nhà định chuẩn
tôn thất tuệ

[2013 sau đúng 35 năm, tôi vui mừng gặp lại trên internet vị chỉ huy cũ và các đồng nghiệp trong Viện Quốc Gia Định Chuẩn, (VQGĐC, VĐC, ĐC). VĐC, cái tên khá lạ, vì chuẩn là chuyện khá lạ ở VN. Chuẩn lớn lên cùng, và hổ trợ, nền kỹ nghệ, kể cả sản xuất nông nghiệp. Ông Phí Minh Tâm tiến sĩ hóa học tốt nghiệp M.I.T. Mỹ, đã đưa đơn vị nhỏ nầy trong Bộ Kinh Tế thành một cơ quan khoa học độc lập. VĐC có phòng thí nghiệm trong khu kỹ nghệ Biên Hòa và văn phòng gần Phủ Tổng Thống. Viện thuê dụng nhiều chuyên viên tốt nghiệp Âu Châu Mỹ Châu và Úc Châu hoặc các người có bằng cao học (sau cử nhân) trừ ra tôi, biết đọc biết viết. VĐC đang trên đà phát triền thì chung với cả nước hạ màn và chưa biết bao giờ làm lại. Bài viết dưới đây là một ghi ký, không hư cấu và là một email gởi anh Tâm cùng gia đình ĐC]. 

Hôm tôi đứng trên lầu của Định Chuẩn (ĐC), bên dưới người ta kéo nhau đến gốc những cây sao. Họ đổ cát ra khỏi bao để lấy những bao nylon xanh rêu.  Chiến tranh hết rồi, lấy chi những bao ấy, phòng thủ cho ai. Mà hỏi các anh vì sao có những bao cát ấy, rất nhiều.

Thì ra khán đài giữa đại lộ Thống Nhất và Pasteur, ở trên đó có ‘bác’ Tôn vừa đọc diễn văn vừa xịt thuốc suyển vào cổ họng, khán đài ấy là một hầm trú ẩn lộ thiên, phòng khi hữu sự, just in case. Người CS không mộng mơ như Karl Marx mơ một xã hội vô tưởng. Mấy hôm trước đó, nhiều chú lính dùng máy dò mìn, và cúi xuống đào những cây đinh sét khi có tiếng o o. Cẩn tất vô ưu. Mặt khác người CS cũng không mơ mộng khi họ cho kéo những nhà vệ sinh lưu động gần khán đài đó với những ghi chú như: nhà đái gái.

Chừng hai tuần sau, tôi giao chìa khóa tủ hồ sơ cho anh Nỡ quân quản để đi cải tạo.

Nghĩ lại bên cạnh những ưu ái của con người như các anh dành cho tôi, thiên nhiên cũng ưu ái cho tôi. Tôi bắt đầu sống ở Saigon và hết ở Saigon với những hàng cây me xanh, cây sao im mát. 1962 tôi từ Huế vào Saigon học bên đường Alexandre de Rhodes, cạnh Bộ Ngoại Giao, mỗi chiều nghe tiếng quân hành của Đại Đội Danh Dự đi từ phía sở thú vào dinh Độc Lập làm lễ hạ cờ. Và tôi cũng lìa Saigon từ những cây me che mát Viện Quốc Gia Định Chuẩn trên con đường Hàn Thuyên. Và nghiệp văn chương cũng vương vấn từ ngàn kiếp trước nơi hai con đường mang tên hai con người của văn học, Đắc Lộ và Hàn Thuyên, cả hai đối xứng qua đại lộ Thống Nhất và gần phủ đầu rồng. Từ khi đến và khi đi nằm trong con số kỳ dị mười ba năm.

Từ văn phòng Viện, tôi lửng thửng ra phía Tự Do nơi Bộ Xã Hội; tựa lưng vách tường nhìn ra công viên quanh nhà thờ. Quả là một chợ người. Tôi nói chợ người, không phải chợ bán đồng hồ không người lái. Ở đó có những người cai như cai mộ phu làm đồn điền. Họ đứng ra nhận ghi danh những nhóm như viết phim, viết báo, ca sĩ trình diễn, hoạt động đoàn thể. Nói mộ phu cũng không quá vì những danh sách ấy dùng cho các lớp cải tạo, cải huấn. Vui nhất tôi thấy bà Nguyễn Phước Đại, tròn mập như đòn bánh tét, cắt đầu cắt đuôi. Nữ luật sư ấy chơi một bộ bà ba màu nâu, trông chẳng giống ai. Một cô gái quê vừa ra khỏi đồng lầy chơi cái mini jupe sẽ đi đứng không tự nhiên như bà Đại mặc áo quần quê vẫn lộng cộng khôi hài. Quả tình là một thứ hành hạ bản thân, trước một thần linh không hồn.

Thế rồi tôi không còn nơi hàng cây xanh, nơi trước kia có những chiếc xe đẩy bán dừa xiêm hay những ly chanh đường. Đến với ĐC sau chín năm vô bổ trong ngành hành chánh, tôi còn thích những hàng cây xanh mát ấy. Sau nầy chúng gây cho tôi nét nửa chua cay, nửa nên thơ dành cho cô vợ:
              này cô bé ngày xưa em đi học,
              áo em xanh em trả hàng me xanh lá,
              ly mía ngọt ngày xưa em uống
              nay đắng nhiều với những ngày còn sót lại với đời ta.
                                                                     

Thật vậy, tôi ngồi sau thùng xe như chở heo, bên cạnh những thứ gì còn lại. Vâng, tôi ngồi như ngày ngồi trên xe đi tù, không biết xe chạy đi đâu ban đêm nhưng qua khe hở cũng biết cách mạng cho "đi xem" Bến Bạch Đằng, khu Nguyễn Huệ đến mấy vòng mà mồ hôi và hơi người đã xông lên. Anh tài xế lần nầy chạy qua đường Tự Do và tôi cố gắng nhìn lại con đường đến VĐC, à, tôi thấy một người quen, e rằng đó là chàng Ninh. Nhà tôi ngồi phía trước trên ghế danh dự. Chúng tôi từ giả căn nhà gần Chợ Cá Trần Quốc Toản để hồi hương tại Long Thành.

Tôi muốn vong ân như một thứ thời thượng của lòng người đảo điên nên nói một cách xách mé rằng ông giám đốc Kiệt trả ơn tôi mang giúp cây Garand nặng nề qua bãi cát trưa nóng tại Vũng Tàu khi đi học làm cách mạng hành chánh. Ông trả ơn bằng cách giúp tôi về VĐC. Nói chơi, nói láo chơi.

Nếu anh Kiệt sợ bãi cát nắng ấy một, tôi còn sợ gấp ngàn lần. Tướng Khánh đã vỗ vai tôi nói thân mật, tôi không hiểu ý định của ông; ông nói ông sẽ bỏ ra hằng tỷ đô la để xây dựng nông thôn. Sau đó có chuyện xây dựng nông thôn và áo đen và Phạm Duy cũng mặc bà ba đen, trong chuổi dài những lần thay áo của nhạc sĩ tài ba nầy như con tắc kè đổi màu. Và chính sách ấy đã tạo nên trung tâm nầy. Khi tôi đến, chỗ nầy không còn sung mãn một thời vì viện trợ Mỹ không còn nữa và chuyển qua hệ thống hành chánh VN.

Vài nhân vật khi nhận bộ đồng phục đen, phải đem ngâm đủ thứ cho nó cũ, cho nó phai màu cho có vẽ cách mạng. Rất tiếc họ quên ghi bản quyền nên các hãng áo quần Mỹ bắt chước làm phai màu và xé rách các ống quần jean với giá cao hơn cái mới. Trung tâm giữ thẻ căn cước của cán bộ và cho mượn lại để đi phép với đơn xin. Phép thường niên phải có lý do như cha chết v.v... Khi một cán bộ bị sa thải, người ấy được chở giao cho tiểu khu Vũng Tàu để nhập ngũ. Những khắc nghiệt không áp dụng cho tôi, nhưng bầu không khí ngột ngạt. Lại xuất hiện ban văn công mà nhạc sáng tác không khác gì đài Hà Nội. Bây giờ web Nhạc Của Tui xếp những bản của Viết Chung và Nguyễn Tùng vào loại nhạc cách mạng của CS; cháy nhà mới ra mặt ai là ai.

Về ĐC thì không có nha lại, cạo giấy. Tôi biết là tôi đã đi lầm đường vào hành chánh nhưng ở thế bắt buộc còn hơn suốt ngày lên mặt dạy đời của trường sư phạm. Tôi hy vọng còn một năm nữa với ĐC để đủ mười năm đáp lễ quỷ thần sau cái hợp đồng nhận học bỗng của trường. Điều tôi vui đầu tiên là không có cảnh: bản sao kính gởi ông Tỉnh Trưởng "để kính tường" và bản sao gởi Trưởng Ty  "để tường" vì thằng trưởng ty địa phương thấp hơn mình không đáng dành cho chữ kính. Tôi không gặp cảnh phải cho nhân viên đánh máy lại vì: tham chiếu qúi văn thư thiếu lễ độ cho nên phải viết: tham chiếu văn thư của Qúi Bộ. Tôi thừa biết bên ngoài chiến tranh gia tăng thay vì phi mã mà là phi tiển cho nên người ta lấy những văn thư bằng giấy để chống đạn. Tôi đã bị báo cáo nặng nề khi thay đổi dấu phết trên một khẩu hiệu. Làm hết việc, không làm hết giờ thành làm hết việc không / làm hết giờ.


Image result for displaced persons
rời bỏ xóm làng vì chiến tranh

Tôi đã bị đuổi khỏi bộ Xã Hội vì sự khám phá của người khác là tôi đã làm thơ. Trong một tờ trình công tác tại Quảng Tín, tôi viết một cách rất tự nhiên những khốn khổ của đồng bào phải rời làng mạc mà Bộ phải cứu trợ. Tôi không nhớ đã viết thế nào. Còn nhớ vài đoạn: Khi trực thăng thả tôi xuống trên thửa ruộng sau mấy ngôi nhà gạch, một thanh niên đón tôi và đưa vào bằng ngã sau. Tiếng rồ của con chuồn chuồn sắt thay thế bằng tiếng của một bà lão và ba đứa cháu đi xin, họ không biết đây là ty của chính phủ. Ông trưởng ty nói: "thưa ông thanh tra, đừng lo, họ ở trên trại và tụi tui lo đủ hết rồi". Trời lạnh mưa phùn miền Trung. Tôi hỏi áo quần cứu trợ gởi cho ông đâu hết mà thế nầy? Trả lời: mấy chục bành nằm trong kho tỉnh để bà tỉnh trưởng đi ủy lạo, thăm cô nhi viện, thăm chùa, nhà thờ...Thưa ông Bộ Trưởng, tôi bó tay không thể nói lúc nào bà tỉnh đi phát, hơn nữa áo quần nầy không phải để cho cô nhi viện, chùa, nhà thờ; thưa ông Bộ Trưởng, tôi về Saigon mang cho Bộ lời nhắn của ông trưởng ty rằng nơi quận ấy, xã ấy có mấy chục ngôi nhà xây bằng vật liệu bộ gởi; ông tỉnh trưởng cho biết địch tập trung trong khu vực, tiểu khu không thể bảo đảm an ninh cho tôi đi xem thực hư. Tôi mang thông điệp nầy như người đưa thư, và ai cũng biết người đưa thư không trách nhiệm về nội dung của phong thư, có khi là bức thư tình, có khi là lời hăm dọa tống tiền...

Ông bộ trưởng nói ai đọc tờ trình đều nói là thơ. Thì ra tôi đã là thi sĩ chứ gì; poète malgré lui, poet against one's will. Về ĐC, tôi không làm thơ tuy ở trong vùng cây mát, trong Viện lại có rất nhiều giai nhân tuyệt sắc. Khung cảnh thì gentleman hơn, lúc nào tôi cũng có cái khô mực màu mè, có cây kim hột trai giữ cho nó không lắc lư. Không hiểu có phải vì ảnh hưởng nghề nghiệp hay không, mà tôi nghĩ, ai ai cũng có một chuẩn mức trong giao tiếp; không quá tân thời mang về cùng bằng cấp Âu Mỹ; không quá câu nệ của một nền hành chánh quan cách.

Chỗ làm thì yên ổn như vậy, bên ngoài cũng yên ổn. Ấy cũng là lúc tôi về Saigon từ Vũng Tàu, và thường nghe Radio Catinat. Thực có giả có. Lúc ấy đã có tin tướng Đồng Văn Khuyên cố vấn cho tướng Cao Văn Viên về một mô hình rút quân. Chỉ một tin như vậy đủ thấy sự thay đổi trầm trọng. Ông Viên, sinh ở Vạn Tượng, Lào, trước khi có sự oanh tạc thật sự bắc vĩ tuyến 17, chủ trương như Lý Thường Kiệt, lấy công làm thủ bằng cách đánh qua Tàu, tức là tấn công Bắc Việt ít nhất bằng máy bay. Nay thì ông tướng nghĩ khác. Ở một mức độ nhỏ hơn, nhiều người đã bán đồ đạt, và ngủ trên sàn nhà. Trong thời gian trên, tình cờ tôi gặp Robert Shaplen tại một tư gia người bạn cao niên. Nhà báo Mỹ nầy mời tôi một điếu xì gà nhỏ của Cuba. Ôi thật là ngon, tự nhiên có cảm tình với anh Râu Fidel, cảm tình chốc lác, xin nói rõ.

Robert Shaplen rất khôn ngoan. Ông nói rất gần đây, người Mỹ sẽ rời VN. Ông giải thích rất chi là khoa học. Ông chỉ vào bà chủ nhà đã hơn 50 và nói các bà nội trợ Mỹ đã quyết định như vậy; họ bỏ phiếu cho những người muốn rút lui và không viện trợ. Vì sao? Vì các ông chửi Mỹ quá; chính trị gia và đàn ông như tôi không hề hấn, nhưng các bà thì rất sensitive. Tôi làm ra như thích thú với lời giải thích bằng cách không nói đến chuyện Mỹ Tàu đã sắp xếp. Chủ nhà rất muốn tôi nói chuyện để mong ông ấy tiết lộ thêm. Phần tôi, tôi cũng háu thắng và nói 1964, tôi đã nói việc Mỹ bỏ VN trên tuần báo sinh viên. Tôi minh xác đây không phải là tiên tri thời cuộc mà đáp lời tuyên bố ở phi trường của luật sư Trần Văn Tuyên rằng thế giới Tự Do không bao giờ bỏ tiền đồn VN, tôi chỉ nói một khả thể (possibility) tự nhiên của chiến lược. (Mỉa mai thay, trước 30.4.75 không lâu, LS Tuyên cầm đầu một số dân biểu đòi Mỹ rút quân và ngưng viện trợ cho VNCH). Jay Hendon, trưởng phòng UPI, có vợ VN, đã công khai nghi tôi có ý gì khác; dễ hiểu vì lúc ấy đang có vụ Maddox. Robert Shaplen  mời tôi điếu xì gà thứ hai với câu khen ngợi (!?): ông là một viễn tượng gia (visionary).

A Di Đà Phật, ra đi mẹ có dặn lòng, chanh chua mua lấy, ngọt bòng chớ mua. Lời của Robert Shaplen quả là ngọt bòng, xin không dám nhận.
Tôi không có một viễn tượng nào mà chỉ có nỗi buồn hơi khó chịu, tôi không để ý vì cứ nghĩ nó tiếp tục những nỗi buồn từ nhỏ vào thời chiến tranh. Tôi không bán đồ đạt, vì chẳng có gì mà bán ngoài gần trăm cuốn sách cũ mua gần cái nhà tiêu, đối diện với Khai Trí trên đường Bonard. Lạm phát phi tiển đi lên cùng nhịp độ của chiến tranh vây hãm đời người; thời ấy ai cũng nhớ đến nhát dao nhập cảng bởi các học vị kinh tế tốt nghiệp Âu Mỹ: tội về ai, TVA, taxe de valeur augmentée, cho nên chẳng có tiền mua cái gì. Dân tiếp vụ nơi đường Nguyễn Du bán rất nhiều mì ăn liền nikka ramen mối mọt. Tiếc quá lúc ấy chưa có thi sĩ Nguyễn Đức Sơn dạy cho cái khôn ngoan của loài người: dòi một bên còn ta một bên khi ông ăn trái mận rụng cuối mùa.


Image result for bastos cigarette

Hương vị của điếu xì gà thoáng qua, nhường chỗ cho những điếu Bastos xanh, người anh em của những điếu Gaulois hay Gital tabac noir đem từ bên Maroc hai trăm năm nay. Anh Cảnh đánh máy cũng chơi thứ hạng nặng nầy nên trở thành đồng minh của tôi, phòng khi môi hở răng lạnh. Anh Cảnh cũng như bác Tường thỉnh thoảng hé mở vài ý nghĩ chính trị, nhưng cũng rất chuẩn mức, đúng là trong nhà định chuẩn.

Về ĐC tôi không còn cảnh chiều thứ bảy không tiền xe về thăm gia đình. Tôi đứng ở Rạch Dừa bên dãy quán bán thịt chó, nhìn những chiếc xe quay về Saigon mang theo những khuôn mặt nắng rám. Tôi cố nhìn thử có ai quen trên những xế hộp ấy, không phải để xin đi một đoạn đường mà thử biết mình nằm đâu trong cái danh giá xã hội. Chẳng một ma nào quen. Tốt nhất là vào ngân hàng Bà Sương đầu ngõ vào trung tâm, quẹt cái credit card vô hình mua lửa bao thuốc lá. Đại Tá Quách Huỳnh Hà, vừa quá vãng giữa 2010 để lại bài viết huynh đệ chi binh, ra Vũng Tàu thực hiện cuộc cách mạng hành chánh, đã lấy căn nhà gỗ ngoài thị xã, cho nên nhà tôi và các cháu phải về nhà ngoại ở Phú Lâm.

Cuộc cách mạng hành chánh ấy gồm những bài lý thuyết chính trị, những phương thức giản dị hóa hành chánh dành cho tất cả nhân viên cao cấp mà giảng viên là những cán bộ vừa được học hôm trước thế nào là một bưu điệp, một điện tín. Các ông thầy cách mạng nầy đã vào trung tâm theo thể thức tuyển mộ của Mỹ, nay qui vào thể lệ VNCH thì không cần một điều kiện bằng cấp. Một thông dịch viên nhìn vào nét chữ đánh máy không dấu "danh ca", nói với Mỹ người kia trước khi vào trung tâm là một famous singer; đương sự không nhận mình là famous singer mà là đánh cá đánh tôm. Một cuộc cách mạng trong chuổi dài cách mạng của nước mình.

Các vị như anh Kiệt của chúng ta phải mang theo mình cây Garand. Trong lúc ấy, cây súng nầy đã được thay thế trên chiến trường bằng cây M16. Garand chỉ dùng cho đội cơ bản thao diễn, trong lễ chào cờ hay đám ma. Còn mấy ông phó tỉnh học sau tôi thì đem cả samsonite bạc để xài ở Saigon sau khóa học. Trong dịp này tôi được giới thiệu với anh Kiệt. Và do đó có sự can thiệp của anh Tâm với tổng nha công vụ và bộ quốc phòng đưa tôi về VQGĐC. Và từ đó tôi có một khung cảnh làm việc khác hẳn từ nội dung đến hình thức với các nét sơ phát nói trên.

Thực tế nhất là lương bỗng rất hậu, tôi không bị giới hạn trong chỉ số đốc sự mà theo cơ quan tự trị. Xem lúa mới cho mượn tiền. Với "bồ lúa" kha khá, tôi mua được bát hụi và sang căn nhà xập xệ thuộc khu gia binh gần chợ cá Trần Quốc Toản. Mỗi khi mưa to thì ngập lụt đôi chút nhưng không quá tệ như những con đường Saigon của thời cách mạng đỏ. Tuy đóng khung trong 4 mét ngang 15 mét dọc, với cái nóng xế chiều thiêu đốt từ hướng tây, nó cũng đủ sức dung chứa một gia đình 5 người lớn nhỏ. Ông hàng xóm của tôi là Trịnh Cung, người gây ồn ào lời qua tiếng lại về Trịnh Công Sơn và là người bây giờ có cô hầu non ngang tuổi cháu ngoại. Cứ nhìn chuyện của ông họa sĩ nầy, ta có quyền nói đây là dương cơ đại địa, theo danh từ phong thủy.

Nhưng
"Thưa ông, đây là chồng tôi, mới được về hôm nay, xin ông vui lòng cho chồng tôi ở lại vài ngày". Tôi đi theo nhà tôi như đứa tớ dưới làng lên tỉnh giúp việc, qua nhà ông công an khu vực. Ông bất động như một thiền sư chìm sâu trong tam muội. Tôi nghĩ thầm nếu ông không gật đầu, thế nào tôi cũng phải ra chợ Nguyễn Tri Phương ngủ, chứ ở trong nhà thì trăm điều khốn khổ xẩy ra. Nhà tôi nhanh trí nói: Xin ông cho ở chừng ba ngày để sắp xếp đưa mẹ con tôi hồi hương, giao nhà cho chính quyền. Ông ta bật dậy như ai lấy kim chích đít: 'Được, lo sắp xếp mà đi đi nhe' ".
Căn nhà xập xệ nầy cũng giống như con trâu của một nông dân ngoài Bắc. Con trâu phải dâng hiến cho hợp tác xã, mong họ lấy cho mà đừng đấu tố chủ nhân, đừng xếp vào hàng địa chủ.

Vâng, tôi xin được an toàn, bỏ của lấy người như nông dân kia. Nhà tôi hứa giao cho chính quyền địa phương để cho tôi ra khỏi cải tạo. Người em sầu mộng của muôn đời, kẻ có đến Viện hai lần lãnh lương, cho nó cái tên căn nhà định chuẩn. Vâng, phụ nữ nhiều nhân tính hơn đám đàn ông ồn ào chúng tôi. Cánh cửa Hòn Ngọc Viễn Đông đã khép lại, "mãnh quần hồng hoen ố rượu rơi". Và trái mận của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, sâu đã ăn hết từ đầu chí cuối, ăn hết cả gốc cây. Căn nhà bên hông Chợ Cá đổi lấy mảnh quần hồng rách nát, tệ hơn hoen ố rượu rơi.





Cologne New Philharmonic Orchestra




Tuesday, February 23, 2016

Xuân Đất Khách, thơ Thanh Nam








Xuân Đất Khách
Thanh Nam
Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .
Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !

Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .
Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .
Seattle, mùa xuân 1977 .
trích từ blog của Hoàng Hải Thủy
va pensiero, Verdi




(original Italian)
Va', pensiero, sull'ali dorate;
Va, ti posa sui clivi, sui colli,
ove olezzano tepide e molli
l'aure dolci del suolo natal!
Del Giordano le rive saluta,
di Sionne le torri atterrate…


Oh mia Patria 
sì bella e perduta!
O membranza 
sì cara e fatal!

Arpa d'or dei fatidici vati,
perché muta dal salice pendi?
Le memorie nel petto raccendi,
ci favella del tempo che fu!
O simile di Solima ai fati,
traggi un suono di crudo lamento;
o t'ispiri il Signore un concento
che ne infonda al patire virtù!

(English Translation)
Hasten thoughts on golden wings.
Hasten and rest on the densely wooded hills,
where warm and fragrant and soft
are the gentle breezes of our native land!
The banks of the Jordan we greet
and the towers of Zion.
O,
 my homeland, so beautiful and lost!
O, memories, so dear and yet so deadly!
Golden harp of our prophets,
why do you hang silently on the willow?
Rekindle the memories of our hearts,
and speak of the times gone by!
Or, like the fateful Solomon,
draw a lament of raw sound;
or permit the Lord to inspire us
to endure our suffering!