add this

Saturday, November 8, 2025

vài ghi nhận một sáng trời thu

mùa hồng chín, tranh Thanh Phạm

MỘT SÁNG NGÀY THU

Tôn Thất Tuệ 

♥ Tôi đã quên mất công thức mô tả cảnh nhà khi mới dọn đến khu núi rừng nầy. Hình như sương núi cùng nắng quái chiều hôm giành nhau không giản trên những bành cỏ cuốn tròn. 20 năm sống lầm lũi rồi giống như những con nai chiều về tìm trái táo rụng hay ăn bắp chung với vịt, ngỗng trời. May thay vẫn còn có thể ghi nhận vài rung cảm như những ngôi sao lẻ, xa nhau mà vẫn kết liền trong thinh không rộng rãi vô lường, biến thiên từ hình học phẳng qua hình học không gian để hai chiều ngang và chiều đứng gặp nhau. Rất vô lý, vô lý như mấy câu ni của Jean-Pierre Siméon, phụ trách thi ca của nhà xuất bản Gallimard

Le noir de la nuit n'est jamais tout à fait noir

Même dans la nuit la plus noire

Parce qu'y demeurre, Soulages l'a vue, 

Une lumière subsistante, une lumière noire

mais qui éclaire le noir.

Màu đen của đêm tối không hẳn đã là đen

dù trong một đêm đen nhất;

bởi lẽ, như họa sĩ Soulages đã thấy,

trong màu đen ấy ẩn náu một tia sáng bền dai,

một tia sáng đen, chiếu rọi cái màu đen.

◙ Bài ngắn nầy (À l'Intérieur de la Nuit) cũng là một ghi nhận vào một sáng ngày thu muộn trong khu rừng thưa nầy, chấm điểm trên bản đồ bởi những ngôi nhà nhỏ và quê mùa. Những ghi nhận nẳm trên những mẩu giấy với nét chữ "rồng bay phượng múa" (!!!) của bàn tay cứng đờ mà cây bút chỉ như cây kim trong tay không thể điều khiển. Dĩ nhiên không còn nét bút xưa: viết cho em một dòng chữ thật tinh khôi.

Nhưng mà em, anh không chết đâu em, anh chỉ là con chuột trôi sông. Nhưng mà này em, chúng ta làm ánh sáng đen của Sinéon, chui vào màu đen của đêm đen nhất, hay chúng ta hãy theo viễn tượng của Nguyễn Quang Tấn, thi sĩ nghèo cực mới chết ngày 1.11.2025 ở Định Quán vào tuổi 76.

Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang
tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
sống lại đi, những người đàn bà quên trang điểm trước giờ hấp hối
sống lại đi những thai nhi - chưa sinh ra đã lìa đời.
Từ hoang vu hồn mình nhìn ra nghĩa trang
tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.
Sống lại đi, đôi tình nhân chết đêm vượt biển
xác đàn bà nằm im dưới đáy
xác đàn ông chẳng biết trôi đâu
ngày sau sống lại sẽ tìm nhau sẽ tìm nhau”. (Nguyễn Quang Tấn)

§ "Xác người đàn bà nằm im dưới đáy", người đàn bà không thể, chứ không phải quên, trang điểm trước giờ chết. Nhưng hương thơm tự cõi lòng ướp thơm cõi trời, các đại dương. Hương thơm hoa ngâu ấy tế nhị, chỉ thấy được bởi tâm hồn của thi nhân, vâng thi nhân thứ thiệt, chính hiệu con nai vàng. Thật vậy, Trương Kim Hà, người uống nước Sông Hàn Đà Nẵng, Quảng Nam, đã cảm nhận mùi hương bằng thính giác như nghe nhạc bằng con mắt thay lỗ tai.

Gió cũng chẳng vô tình
thổi tung mái tóc
làm bay mất mùi hương

gió chỉ gửi hương
vào làn mây phiêu lãng
góp tình trời tặng đất những cơn mưa

để ai đó tìm ai
trong đêm
giữa muôn trùng sóng vỗ
sẽ nghe thấy nơi nầy
thoảng thoảng một mùi hương.
nhạn quá trường không,
ảnh trầm hàn thủy .
nhạn vô di tích chi ý ,
thủy vô lưu ảnh chi tâm .
nhạn bay trời rộng ,
bóng chìm đáy nước .
nhạn không có ý để lại dấu tích ,
nước không có ý lưu giữ bóng hình.* 

Nhưng nầy em, Thiên Y Nghĩa Hoài (993-1064) là một ông thầy tu, không biết dòng sông là gì. Dòng sông như dòng tâm cảm của ta, em có muốn để lại dấu tích hay không, trời mới biết. Dieu seul le sait. Nước không có ý giữ bóng nhạn nhưng định mệnh ép như vậy. Ta cũng vậy, định mệnh ra lệnh giữ mãi bóng hình em, như Chúa mang vai thánh giá của chính mình ra pháp trường. Ta nào có yêu em. Noway do I love you!

Ghi chú cập nhật (01.01.2026)

* Một độc giả yêu cầu hiệu đính tên tác giả bài thơ chữ Hán, đúng phải là Hương Hải Thiền Sư (1628-1715) thay vì Thiên Y Nghĩa Hoài 天衣義懷. 
Bài thơ nầy được giới thiệu ba cách. 1. hoàn toàn của Thiên Y Nghĩa Hoài. 2. Hoàn toàn của Hương Hải. 3. Dung hợp, phần đầu của Thiên Y Nghĩa Hoài; phần tiếp của Hương Hải, dựa theo sách của Lê Quý Đôn; nhà sư VN nầy đã trả lời như trên khi vua Lê Dụ Tôn hỏi "Thế nào là ý của Phật?". 
• Tôi đã gặp lần đầu tiên ở dạng thứ nhất. Nhờ độc giả, chúng tôi mới tìm hiểu thêm và biết như vậy.
Hai tác giả đều là nhà tu sống cách nhau 600 năm.• Nếu văn học Tàu đã kiểm chứng (documented) là của Thiên Y Nghĩa Hoài thì tường thuật của Lê Quý Đôn không đủ xác quyết Hương Hải là tác giả. Cuộc vấn đáp trên không ai hoài nghi, Lê Quý Đôn không bịa chuyện. Thiết nghĩ nhà vua có hỏi và sư Hương Hải có trả lời với 20 chữ như vầy. 
Ngày xưa các cụ dùng cổ thi Tàu tự nhiên như người Hà Nội mà không bị tội đạo văn như ngày nay. Cao Bá Quát viết: Duy giang thượng chi thanh phong; dữ sơn gian chi minh nguyệt (rồi tiếp: Kho trời chung mà vô tận của mình riêng) nào ai "care" thắc mắc mấy chữ Hán nầy là của Tô Đông Pha trong Tiền Xích Bích Phú. Cao thi bá còn chơi nguyên con câu thơ Lý Bạch: Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi. 
Hương Hải cần chi nói tên tác giả, mà có nói thì người thuật thấy không cần thiết. Do đó, tạm thời chúng tôi vẫn giữ tên tác giả người Hoa.
Xin đọc thêm: Tiền Xích Bích Phú

Wednesday, November 5, 2025

Vài điều quanh Đặng Thái Sơn



Đặng Thái Sơn và mẹ Thái Thị Liên ở Canada

VÀI ĐIỀU QUANH ĐẶNG THÁI SƠN

◙ Song song với niềm kiêu hãnh 1957 Spounik đi vào không gian trước HK, vào năm 1958, ở chỗ cao nhất của chiến tranh lạnh, Nga thành lập giải âm nhạc lấy tên Tchaikosky, xem như Beethoven của Russia. Cứ bốn năm một lần. Bây giờ giải nầy mở rộng nhiều ngành, nhưng kỳ thứ nhất chỉ có tranh tài piano và violon.
Lần đầu tiên 1958, về piano, huy chương vàng cho Mỹ, hai bạc cho Nga và Tàu, một đồng cho Nga. Người Mỹ nầy là Van Cliburn, 23 tuổi. Trước khi tuyên bố kết quả, ban giám khảo hỏi ý kiến của Kroutchev vì đương sự là một người Mỹ. Chúa điện Cẩm Linh cho phép ban tổ chức hoàn toàn tự do. Van Cliburn một thần đồng, 12 tuổi đã là một danh thủ (virtuoso solist) trình tấu với dàn nhạc Houston.
◙ Nhắc tới Van Cliburn vì danh tài nầy có hai điểm giống với Đặng Thái Sơn. Cả hai đều trong ngành piano, chiếm giải nhất trong hai cuộc tranh tài trong thế giới CS, cả hai đều do hai bà mẹ dạy từ nhỏ.

Bài nầy gồm hai tiết mục.

• Cách đối đãi tồi tệ từ đen ra trắng từ trắng ra đen của Hà Nội dành cho cha của Đặng Thái Sơn, một nhạc sĩ. Tường trình nầy của Thế Giang, tác giả tuyển tập 'Thằng Người Có Đuôi', xb 1986 Nam California.
• Vài ghi nhận ngắn của chúng tôi nhân khi Eric Lu đoạt giải nhất Chopin 2025; Đặng Thái Sơn có dạy Eric Lu và một trong những giám khảo.

◙ Chopin Competiton chỉ chuyên một thứ là piano và về một tác giả duy nhất là Chopin. Ôi buồn mà chi, đau thương mà chi... Khởi xuất từ 1925 tại Varsovie và đến 1955 thì 5 năm một lần. Chuyện Đặng Thái Sơn đi dự và trúng giải đầy bi hài như Thế Giang mô tả. Đã không cho ĐTS đồng nào mà còn tính chuyện lấy số tiền trúng giải.
ĐTS dạy nhạc và một người đã có học với ĐTS trúng giải Chopin 2025.
◙ Hiện có cả vài trăm cuộc thi quốc tế; riêng một hiệp hội đã có 120 giải. Nhiều nhạc sư không khuyến khích nhạc sinh đi dự như thầy của Yuja Wang và Lang Lang, hai huyền thoại dương cầm của Trung Hoa học nhạc ở Mỹ. Rất nhiều danh cầm không dự thi chỗ nào hết như Anne-Sophie Mutter, David Garrett, Hilary Hahn. Nhưng đấy là các cơ hội đi lên nếu không được một nhạc trưởng lancer như Mutter nhờ von Karajan mà lên đài danh vọng. Dẫu sao dễ gì được cái huy chương đồng để áo gấm về làng, y cẩm hoàn hương.

◙ Eric Lu trúng giải Chopin 2025 đã làm nhiều người "cương bậy".

Trước tiên nhiều web VN la to Eric Lu là người Việt, cha mẹ Việt, sinh ở Mỹ và được đào luyện bởi Đặng Thái Sơn.
Eric Lu (陸逸軒 Lục Dật Hiên), 28 tuổi, có cha người Đài Loan, mẹ gốc Thượng Hải. Nhóm chủ trương Đài Loan độc lập nói Eric là một Taiwanese; nhóm One China thì nói Eric là Chinese. Nhưng chính thức ghi trong mọi giấy tờ, báo chí là một người Mỹ. Đây là định danh đúng nhất vì Eric sinh ở Mỹ, lớn lên ở Mỹ, giáo dục theo lối Mỹ. Người ta lầm tưởng mẹ của Eric là bà Michele Wu 吳弭 Ngô Nhị , thị trưởng Boston; bà Wu là một danh thủ dương cầm. Nữ thị trưởng Wu chống Trump triệt để về nhập cư. Và hôm nay New York Times khuyên ông thị trưởng mới nên xem bà Wu là một kiểu mẫu dung hòa thực tế.

Trang nhà của Eric kê khai hai nhạc sư khác, không có tên Đặng Thái Sơn. ĐTS có dạy Eric nhưng chỉ là một trong nhiều thầy. Chính vì vậy, ĐTS được quyền chấm điểm cho Eric. ĐTS không cho Eric điểm cao nhất. ĐTS được mời vào ban giám khảo.

Vui nhất là có người Việt theo Tàu nói rằng Eric tượng trưng cho sự đổi mới của Hoa Lục, thoát khỏi con ma cách mạng văn hóa của Mao. Sư đổi thay văn học ở Hoa Lục tuy không rõ như về kinh tế đã manh nha từ khi Trung Cộng được Mỹ nâng đỡ 1972. Người Tàu ở Đài Loan lẫn Hoa Lục đã thành công trong nhiều lần thí nghiệm. Họ đã áp dụng lối chơi 10 ngón của guitar vào đàn tỳ bà; đã thành công dùng đàn cò (nhị hồ) thay cho violon trình tấu các tác phẩm khó nhất của violon.

Bựa hơn nữa, cũng là người Việt mình nói thành công của Eric Lu đã đem vào âm nhạc tây phương những nét mới của Á Đông. Nét mới là gì? đàn nhạc Chopin theo Hồ Quảng? Ít nhất trong vòng 10 năm nay, người Á Đông (nhiều nhất là Nhật và Đại Hàn hay gốc Tàu khắp nơi...) đã chiếm các cuộc thi âm nhạc cổ điển. Eric Lu là thứ mấy trăm.

Các nhạc viện không chơi lối Thanh Lam la hét, phăng bậy, họ chủ trương trình diễn như ý nguyên khởi của tác giả. Tầm thường như thay đổi tempo nhanh chậm; vì thay đổi tempo là thay đổi toàn diện. Các cuộc tranh tài còn có mục đích giữ nguyên bản sắc.Thí sinh đâu có chỉ trình bày một concerto; trái lại có cả mấy chục thử thách. Không có chỗ mô dành cho cái e (air) hò mái đẩy ở Huế, hát xẩm Tiều Châu.
Nghệ thuật đâu ra đó. Chỉ có VN mình làm thơ ba cu mà nói là thơ hai cu (haiky) của Nhật.

**************************************************

KHỐN NẠN ĐẾN THẾ LÀ CÙNG
Thế Giang

Khi kẻng báo động vừa khua vang ngoài đầu xóm thì hai người khách lạ đã thập thò trước sân.
– Chúng tôi muốn gặp ông Đặng Đình Hưng…
– À, ra thế là các ông; các ông muốn gặp ông Đặng? Các ông là ai? Gặp có việc gì?

Ông công an xã đưa mắt nhìn ông bí thư thở phào rồi xoi mói nhìn khách.
– Chúng tôi ở trên Bộ Văn Hoá về gặp ông ấy có chút việc riêng.
– Việc riêng không thể nói ra đây được à?
– Tôi là Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội nhạc sĩ, yêu cầu ông mời hộ ông Hưng ra cho chúng tôi nói chuyện!
– Dạ… dạ, bác Hưng ngồi ở góc kia…, đó ông có nhìn thấy không? Thôi để tôi vào gọi hộ cho.

Vừa thoáng nghe đến cái tên Huy Du. ông Hưng đã xây xẩm mặt mày. Bao nhiêu rượu uống từ đầu bữa tới giờ toát hết hơi lạnh sau gáy. Nhè miếng giò đang nhai dở trong miệng vào bát, ông ngồi thừ ra lo nghĩ. Ông công an xã sốt ruột bèn xốc nách ông đứng dậy. Chân nam đá chân xiêu, quên cả xỏ guốc, ông lảo đảo vịn vai đám khách đang ngồi bệt dưới đất lần ra ngoài. Huy Du cái tên gợi lại cho ông những hình ảnh đấu tố của Bộ Văn hoá 20 năm về trước. Huy Du, bạn ông; Huy Du, người ngưỡng mộ ông; Huy Du đầu thú; Huy Du thủ trưởng; Huy Du, người phát động đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm; Huy Du, cơn ác mộng của nửa đời ông… và bây giờ Huy Du lại về đây…
Ông còn lúng túng chưa biết xưng hô làm sao thì hắn ta đã ào tới ôm lấy vai, nụ cười gắn sẵn trên môi.
– Sao có khoẻ không Hưng? Bệnh tật vậy mà vẫn còn sức uống rượu à?
Ông cảm thấy nhột nhạt và lo sợ về cử chỉ thân mật bất ngờ nầy. Đã bao lần người ta êm ái, ân cần, nhân danh sự giúp đỡ khuyên vợ ông bỏ ông… và đẩy ông vào tù.

– Nghe tin cậu bị ung thư anh em rất lo. Hôm qua anh Trần Độ điện thoại hỏi thăm và yêu cầu mình về đón cậu đi nhà thương. Anh ấy nhường cả chiếc xe Volga thường ngày đi làm để cho cậu đấy.
Chúng nó vẫn để ý theo dõi mình? Vẫn chưa buông tha… sao chúng nó biết mình ung thư?

– Đời sống dễ chịu không? Chắc cũng khó khăn nhiều phải không? Nhưng giờ thì khá rồi! Cậu biết không, tay đại sứ của mình từ Ba Lan vừa điện về nhà xin ý kiến nên chuyển 30.000 đô-la tiền thưởng vào Ban tiếp nhận viện trợ trung ương hay chuyển vào ngân quỹ của sứ quán. Tụi mình chạy vội lên ông Phạm Văn Đồng xin giúp đỡ… Và thế là Thủ tướng ký lệnh trả lại cho thằng bé số tiền đó.
– Tiền gì? Thằng bé nào…?
– Thì thằng Sơn nhà cậu ấy. Cậu chưa biết chuyện gì xảy ra à? Thằng Sơn giật giải nhất thi Chopin ở Vác-sa-va ba ngày nay, báo chí đài phát thanh phát ầm lên mà cậu không hay sao?
– Tôi có cái đài cái đóm nào đâu mà biết… Sao? Nó đoạt giải nhất Chopin à?
– Ồ… ở đây sao người ta lại lười đọc báo, nghe đài quá! Các địa phương chả bao giờ nắm vững tình hình được…

Ông đã bắt đầu yên tâm với chiều hướng của câu chuyện, nhưng lòng vẫn còn bán tín bán nghi.
– Được ba ngày rồi à? Thế lúc nầy cháu nó ở đâu?
– Hiện cháu đã về lại Nga rồi. Nửa tháng nữa sẽ nghỉ phép về thăm nhà.
– Về Hà Nội à?
– Ừ, về Hà Nội. Sao? Cậu thấy trong người thế nào? Phải thu xếp lên ngay Hà Nội ngay bây giờ, tớ đã liên hệ với bệnh viện K, họ hứa sẽ thu xếp ngay cho cậu một chỗ nằm.
– Chả hy vọng gì đâu, xin cứ để tôi được yên ở đây. Cái bệnh nầy giỏi lắm cũng chỉ năm sáu tháng nữa là cùng, mà đừng có đụng dao kéo gì tới thì mới được…
– Cậu bệnh nầy lâu chưa?
– Nửa năm nay rồi…
– Bậy thật, thế mà chúng tớ có biết gì đâu, mãi đến hôm kia Thủ tướng điện hỏi thăm xem thằng Sơn là ai, cha mẹ nó làm gì v.v… tụi mình mới hay.

Họ sánh vai nhau đi trên đường làng. Huy Du ôm riết lấy vai ông bạn cũ, thỉnh thoảng lại ghé tai nói nhỏ điều gì rồi cười lên rinh rích. Những lúc đó, ông Hưng dừng lại, chờ cơn cười của Huy Du qua đi, hai bàn chân đi đất gãi gãi vào nhau cho đỡ ngứa rồi đi tiếp.
– Đi đây, rẽ đây… đường làng chật quá, tớ phải cho lái xe đỗ tuốt ngoài đầu đình… cậu đi đâu vậy? Tớ nhận được chỉ thị của anh Trần Độ là phải đưa cậu lên Hà Nội ngay lập tức!
– Cho tôi về nhà cái đã… còn nửa cút rượu uống dở giắt trong vách nhà… mà tôi bỏ quên đôi guốc ở đâu rồi?
– Lấy rượu thôi nhé… đồ đạc không cần, lên Hà Nội lấy quần áo của tớ mặc cho nó tươm tất một chút…
Đặng Thái Sơn và cha Đặng Đình Hưng

***
Gió Thu lờ lững vờn quanh dẫy nhà hai tầng quét vôi mầu vàng. Hàng sấu già mọc giăng hàng trước cửa đài phát thanh sướng run lên vì được vuốt ve.

Mở toang cửa sổ của văn phòng điều trị, ông Hưng vươn cổ uống lấy từng cơn gió. Bữa cơm chiều ba món nấu đơn giản nhưng đầy chất lượng của bệnh viện dành cho những con người tuyệt đường sinh lộ đang óc ách trăn trở trong bụng ông. Ăn uống kham khổ lâu ngày đã quen bỗng dưng từng khối thịt cá như đạn trái phá nã thẳng vào dạ dầy đâm ra hỏng bét hết cả. May mà ông nghe lời bác sĩ không ăn thêm món thịt ngỗng quay không biết của ai mua ở phố Hàng Buồm gửi vào. Quà cáp thật nhiều, của người quen có, của những cái tên lạ hoắc cũng có.

Sau cái trò Phạm Tuân lên vũ trụ, giờ lại tới tin con trai ông trở thành đệ nhất dương cầm thế giới đang gây dư luận sôi nổi trong cả nước. Quán rượu, quán cà phê, nước trà, đang khi chen chúc nhau trên xe buýt, người ta kháo nhau về cái tin bất ngờ đó. Nhiều gã thanh niên sau khi thêm thắt một vài chi tiết chung quanh cuộc thi rồi xuống giọng trầm buồn kể về cuộc đời gian truân đầy éo le của bố nó – Tôi vẫn thường uống rượu với ông Đặng Đình Hưng mà! – Một chi tiết đáng giá bảo đảm cho sự quen biết đối với bậc danh nhân. Ngay cả đến ông hàng xóm thật, hồi mà thiên tài của thằng Sơn còn mong manh trong vỏ trứng, đã một ngày hai bận sang đấm cửa nhà nó yêu cầu câm ngay cái âm thanh không thích hợp với rau muống, chuyện đấu đá ở cơ quan, để cho ông được yên tĩnh, cũng ngậm ngùi oán trách sự ngược đãi của chế độ đối với nhân tài.

Thôi cũng chả sao; bất mãn đang là cái mốt của người Hà Nội mà. Giới văn nghệ sĩ thì sung sướng ra mặt. Gặp nhau ngoài đường anh nào anh nấy mặt mũi tưng tửng làm như mình là người đoạt giải vậy. Xưa nay vốn bị coi khinh bạc, bị coi như một thứ xướng ca, mõ làng cho đảng giờ cũng đẻ ra được một cái gì, y như nàng thứ phi bỗng dưng sinh hạ cho chúa thượng một đấng con trai bèn lên mặt với đám thê thiếp. Cái đất nước quá nghèo nầy suốt đời ngửa cổ chờ đón tin trúng số độc đắc và những phen có dầu… hụt của tổng cục dầu khí, giờ đang nở mặt nở mày với thế giới.

Nhưng “Trung Ương” thì không được hài lòng lắm. Thật là một cú bất ngờ, xưa nay đã trót kìm kẹp đè nén khiến bao tài năng bị sinh non đẻ bậy, giờ lại phải ngậm đắng nuốt cay ẵm ngửa một cuộc đời đã thoát khỏi quỹ đạo của đảng bay ra ngoài giao du với thế giới. Việc nhọc lòng đầu tiên là ông Phạm Hùng buộc phải ký lệnh hết hiệu lực cái án phát vãng lưu vong cho ông bố thằng Sơn. Thứ đến là Sở quản lý nhà đất phải lo cho ông cái buồng để ở. Rồi đây, khi quan trên trông xuống, người ta trông vào, gia đình nó cũng phải có một chỗ trú thân cho tươm tất. Giới lãnh đạo văn nghệ lại phải lựa lời để thay đổi cách xưng hô. “Tên đồ tể Đặng Đình Hưng” (?) không hiểu ông nhạc sĩ Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội Nhạc Sĩ lấy đâu ra lòng căm giận để nguyền rủa người bạn thân, kẻ đã can tội nhỏ nước mắt cho những oan hồn cải cách ruộng đất mà khi đó chính ông ta cũng là thành viên của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Và cũng chính ông Huy Du nầy, khi thằng Sơn đã học hết những cái gì có được của trường nhạc Việt Nam bèn lên giọng lập trường quan điểm đe bác bỏ đề nghị gửi nó đi Nga học. May mà có dịp ông Na-ta-xon, giáo sư dương cầm Nga, ghé Hà Nội, giữa rừng âm thanh bát nháo, ông đã lọc ra tiếng đàn thằng Sơn. Nhưng ba năm liền Hà Nội vẫn lì ra với lời yêu cầu gửi thẳng nó qua cho ông dạy. Đến độ ông nổi cáu, sát hạch lại trình độ tất cả học sinh được gửi sang, đuổi về một mớ và dọa sẽ đuổi tất cả nếu không cho thằng Sơn đi. Bị dồn vào bước đường cùng nên anh đội cẩm Huy Du đành duyệt cho qua lý lịch của nó.

“… Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”

Ông hiểu con ông như hiểu chính mình. Nó vẫn cô đơn và đầy dũng cảm như cha nó. Nhưng ngôi sao bản mệnh của nó vững hơn nên đi hết được con đường ông đã dắt nó vào và bỏ dở. Buông rơi lá thư tay nóng hổi của con trai gửi về, ông liếc mắt xuống tờ báo Nhân Dân: “Công-cua Sô Phanh – Công-cua gốc mít.” Hàng tít lớn chạy dài cắt ngang tờ báo – “…Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn. Tiếng đàn bay cao hơn tiếng bom Mỹ nổ. Tiếng đàn vọng lên từ dưới những gốc mít của các trại sơ tán của trường nhạc Việt Nam. Đặng Thái Sơn, những nỗi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập…”. Cái thằng Thép Mới nầy “rỉ” quá rồi. Thi sĩ Tố Hữu vừa dồn hết cảm hứng cho Phạm Tuân vào vũ trụ nên chưa lấy lại được hơi sức. Cũng may! Ông nhớ lại hình ảnh của những đứa trẻ con đá bóng trên đường phố trong đêm khuya, từng bầy công an bịt chặt các ngã đường – như đánh trận – để đuổi bắt chúng. Những đứa trẻ ở trần mồ hôi trơn láng, khó bắt thì ngáng chân! Rồi mai đây khi những đứa bé gẫy răng, đổ máu đầu để nứt đất chui lên thành Thế Anh, Cao Cường v.v… (hai cầu thủ nổi tiếng) thì con mẹ mìn đó lại ẵm vội vào lòng. “Nhờ sự quan tâm vun trồng của đảng!”…

Ông thấy thương con ông, ông thương những đứa trẻ. Nó chỉ có một con đường, cắm đầu mà đi, đằng sau không có lối về. Khi đụng đến bức tường cuối đường thì úp mặt vào, đợi tiếng lên đạn…
Nhưng lần nầy thì đạn nổ ngược, nó đã nhảy bật qua khỏi bức tường bay thoát ra thế giới bên ngoài. Ông nhẩm đếm những xác người đã ngã gục dưới bức tường đó. Trần Dần, Phan Khôi… những Đoàn Phú Tứ lẩn thẩn suốt đời đi dép lệch, những Lê Đạt lầm lũi chui trong đêm như con cóc, người quen gặp không dám chào vì sợ liên luỵ, những thằng họa sĩ sau khi buộc lòng học nghề thợ mộc trong tù nhìn bàn tay phế thải cứng như thợ đóng cối của mình mà trào nước mắt… Còn biết bao nhiêu cuộc đời bị rút phép thông-công đẩy vào bóng tối như mình?

Ông nhớ lại những trại nuôi bò mà người ta đã lùa ông và bạn bè ông lên đó để “lấy lại tình thương, lập trường giai cấp từ những con vật!…”. Để Văn Cao bây giờ suốt ngày đi ngoài đường thơ thẩn như con bò. Còn Hoàng Cầm nữa, nó yêu từ gốc rạ toả hơi ấm sớm mai, ngơ ngẩn hỏi “lá diêu bông” ở đâu… chứng nào vẫn tật nấy, còn ngứa ngáy với thơ thì lại rũ xương trong tù mà thôi.

Khuôn mặt vợ ông từ từ hiện lên. Nàng vẫn sống mà ông như nhớ về người đã chết. Hơn chục năm rồi không gặp lại kể từ lần cuối ra toà li dị. Tất cả đã đổ vỡ, đổ vỡ từ nàng Thái Thị Liên đẹp mơ mộng, có tiếng đàn lãng mạn như tình yêu đối với ông. Người ta không thể chịu được bà trưởng hệ Piano lại là vợ của “thằng Nhân Văn Giai Phẩm.” Nàng cũng không thể chịu được con người ngày hôm qua còn là đấng tao nhân hào hoa phong nhã ngước mắt nhìn trời là nhạc ý tuôn theo mây, nay thành kẻ phẫn chí nát rượu. Con cái nàng không thể ngóc đầu lên được nếu ngày nào còn là con “thằng Nhân Văn Giai Phẩm…”. Và ông đành gạt nước mắt chia tay vợ ở tòa án rúc về xó quê hẻo lành đợi tuổi già đến khuân đi. Nghĩ đến, ông vẫn còn tủi giận. Ông vẫn còn yêu, hằng đêm ông vẫn còn nhớ. Nhưng trời đày làm sao để những con người xa thì nhớ thương mà lại gần thì thấy ghét. Một cơn ho xé phổi kéo giật ông xuống giường. Người nữ y tá trực vội xô cửa chạy vào.
– Ông lại uống rượu phải không?
– Không, tôi có uống nữa đâu, có lẽ tại lạnh, làm ơn đóng hộ cái cửa sổ.
Ông cố giơ tay chỉ ra phía sau mình.
– Ông tệ lắm, cấm thế nào vẫn lén uống. Ông Huy Du đã chỉ cho chúng tôi mánh khoé giấu rượu của ông mà vẫn không sao ngăn được.
Có tiếng lao xao trò chuyện ngoài hành lang.
– Tôi chỉ vào năm phút thôi, tôi là cháu họ của ông ấy mà…
Anh đó cố vật nài.
– Đã bảo không được là không được mà!
Tiếng đàn ông xẵng giọng đáp lại.
– … Tôi đã nói với các người rất nhiều lần rồi, người bệnh cần được tĩnh dưỡng. Yêu cầu 4 giờ rưỡi chiều mai trở lại!

Ông nhận ra giọng nói của nhạc sĩ Huy Du.
– Cái thằng nầy thật lắm nghề, khi méo khi tròn, nó định làm bầu gánh hát cho cha con nhà nầy hay sao vậy?

Cô y tá vừa khép cánh cửa lại là ông vùng dậy liền. Ngắm nghía bộ quần áo của Huy Du đưa, ông tắc lưỡi rồi trút bỏ bộ đồ bệnh nhân, mặc nó vào. Tụt người khỏi bệ cửa sổ, ông bò xuống đường. Khi chân vừa chấm đất thì chợt vang lên một hồi kẻng. Ông giật mình đứng sững người lại để định thần. À, hoá ra tiếng kẻng đổi gác của hỏa lò Hà Nội. Nháy mắt với chú công an đang bồng súng trợn mắt nhìn mình trong chấn song sắt, ông đi cứ như chạy đến quán rượu của Hoàng Cầm.

– Thằng Sơn nó về là mình có quyền xoá tên trong “sổ thiên tào” của ông bạn vàng rồi. Tiên sư nó, mỗi lần ghi nợ mình là nó xướng to lên cho vợ nghe thấy rồi lẳng lặng dúi thêm cho nửa lít mang về.

******

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1956 tại miền Bắc Việt Nam, nhiều nhà văn, nghệ sĩ đã đứng lên tham gia một phong trào văn học có tên là Trăm hoa đua nở, là chữ dịch từ “Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng”, thời kỳ “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” của mao xủ xí.

Ngày đó, rất đông văn nghệ sĩ đã tham gia phong trào này. Nổi tiếng nhất có các ông Phan Khôi – Chủ nhiệm tạp chí Nhân Văn, Trần Duy – Thư ký tòa soạn, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao, Nguyễn Tuân, bà Thụy An… Có nhiều trí thức, không phải văn nghệ sĩ, như Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu cũng tham gia phong trào này và mọi người biết đến nó dưới cái tên là nhóm “Nhân văn Giai phẩm”.

Trong nhóm Nhân văn Giai phẩm có một nhà thơ tên là Đặng Đình Hưng. Ông chính thức làm thơ từ cuối những năm 1950 cho đến khi qua đời, hoạt động nghệ thuật của Đặng Đình Hưng về chữ nghĩa gồm sáu tập thơ, với những vần thơ khó hiểu, rất khác người. Ông còn đuợc biết đến như một kiến trúc sư, nhạc sĩ, hoạ sĩ.

Năm 1957 Đặng Đình Hưng lấy bà Thái Thị Liên, một nhạc sĩ dương cầm (piano) nổi tiếng đương thời. Bà Thái Thị Liên đã có hai đời chồng trước – khi bà ở hải ngoại (Pháp, Tiệp Khắc) và đã có ba người con. Năm 1958, vợ chồng họ Đặng và họ Thái sinh được một cậu con trai, họ đặt tên là Đặng Thái Sơn.

Niềm vui vầy con cái chẳng được bao lâu thì tai họa ập đến. Chính quyền cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp đã ra tay dẹp phong trào Trăm hoa đua nở và nhóm Nhân văn Giai phẩm. Nhiều văn nghệ sĩ bị đưa đi nông trường, nặng hơn nữa thì bị khép án, tù tội. Bị xử nặng nhất là bà Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang – quả chanh mọng nước trước và sau cái gọi là cách mạng tháng 8.

Về người quyết định “đánh” Nhân Văn Giai Phẩm, chính thức được nêu danh thì là Xuân Khu và Tố Hữu. Nhưng theo ông Nguyễn Hữu Đang, người rất thân cận và là quả chanh bị Hồ chí Minh vắt cho kiệt nước trong thời kỳ cộng sản mới cướp được chính quyền thì cho rằng nếu không có sự đồng ý hay cho phép của Hồ chí Minh thì Nhân văn Giai phẩm không thể bị dẹp.

Với một ông chồng là một nhân vật trong Nhân văn Giai phẩm, bị coi là một tay phản động chống đảng, bà Thái Thị Liên bị sức ép, phải chia tay với Đặng Đình Hưng. Và thế là bà Liên cùng với ba người con riêng-chung, trong đó có cậu quý tử Đặng Thái Sơn phải ra ở riêng, dạy nhạc kiếm sống, chấp nhận, chịu đựng một cuộc đời cực nhọc vất vả.

Cũng từ đó, kể cả nhiều năm tháng đi sơ tán ở các vùng quê xa Hà Nội, Đặng Thái Sơn học âm nhạc, học chơi dương cầm với mẹ. Cuộc đời khốn khó nhưng bà là một nhà sư phạm nghiêm khắc, khó tính và ít khi đưa ra lời khen, thậm chí Đặng Thái Sơn còn bị “đối xử” rất khắt khe nữa.

Năm 1974, một chuyện bất ngờ đã xẩy ra làm cho cuộc đời của Đặng Thái Sơn bước sang một khúc ngoặt: Một vị giáo sư âm nhạc người Nga, gốc Do Thái tên là Isaac Katz, sang dạy cho Trường Âm nhạc Hà Nội đã tình cờ phát hiện ra Đặng Thái Sơn.

Chuyện kể rằng một buổi chiều nọ, ông Katz đang tản bộ trên con đường gần nhà bà Thái Thị Liên, ông nghe thấy tiếng đàn dương cầm rất hay, rất đáng chú ý. Lần hồi ông Katz đã tìm được đến nhà bà Thái Thị Liên và gặp cậu con trai Đặng Thái Sơn, một học sinh Trường Âm nhạc Hà Nội, năm nào cũng đứng đầu lớp.

Sau vài lần chứng nghiệm khả năng của người học sinh này, giáo sư Isaac Katz chính thức yêu cầu Trường Âm nhạc Hà Nội cho ông được đích thân truyền dạy cho người học sinh xuất sắc đó, mặc dù trên nguyên tắc ông Issac Katz chỉ dạy những học sinh năm cuối trước khi thi tốt nghiệp và Đặng Thái Sơn năm sau mới hội đủ điều kiện này.

Năm 1975 giáo sư Isaac Katz về nước. Trước khi về ông đã đề nghị cho Đặng Thái Sơn được theo học dương cầm tại Liên Xô. Lời đề nghị này không được chấp thuận, bởi vì với chính quyền, Sơn là con của một người dính vào Nhân văn Giai phẩm, bị coi là một loại phản động nguy hiểm cho nhà nước.

Lời đề nghị không có phản hồi, giáo sư Isaac Katz đã phải yêu cầu lần thứ hai, kèm theo lời đề nghị này là thái độ khó khăn với những du học sinh con ông cháu cha, thiếu khả năng thật sự. Ông tạo một sức ép đủ mạnh để người học trò ông chọn phải được dạy dỗ đến nơi đến chốn.

Thế là năm 1976, Đặng Thái Sơn được phép đi học âm nhạc tại Liên Xô. Anh tạo thành tích ngay lập tức là thi đậu vào Học viện Âm nhạc Tchaikovsky. Trước anh chưa có một người nào vào được học viện này mà không qua một năm dự bị. Năm đó anh mới 18 tuổi.

Khi vào học tại Học viện Âm nhạc Tchaikovsky, Đặng Thái Sơn gặp một vị danh sư khác. Đó là giáo sư Natanson. Nếu như Isaac Katz là người khám phá ra tiếng đàn Đặng Thái Sơn, tìm mọi cách mang anh về Liên Xô để có thể tìm đúng thầy thì Natanson chính là ông thầy này, một thầy dạy tận tâm và rất giỏi.

Sơn được cấp học bổng 60 rúp một tháng. Số tiền này chẳng nhiều nhặn gì, nếu tính theo hối đoái thời đó thì chỉ tương đương với khoảng 20 USD. Sơn có hai người bạn thân trong thời gian này, cả ba góp gạo thổi cơm chung, dè sẻn từng đồng mới có thể tạm đủ ăn và thỉnh thoảng vẫn phải đi làm thêm để kiếm tiền chi dụng hàng ngày.

Năm 1980, Sơn tốt nghiệp Học viện Âm nhạc Tchaikovsky với hạng tối ưu. Tòa Đại sứ Việt Nam tại Moskva chắc được chỉ thị của Hà Nội nên đã coi như không biết, không để tâm đến thành tích của người đồng hương này mà còn có ý muốn truy nã, gây khó khăn cho Sơn chỉ vì bố anh thuộc “thành phần phản động Nhân văn Giai phẩm”!
Tốt nghiệp song phải làm gì? Giáo sư Natanson thúc đẩy anh phải nộp đơn và hoàn tất thủ tục xin dự thi, nhân kỷ niệm Chopin hàng năm tại Ba Lan. Đặng Thái Sơn bèn làm đơn với tòa Đại sứ Việt Nam xin được giới thiệu là một ứng viên Việt Nam đi thi Chopin và xin cấp ít tiền lộ phí vì đường từ Moskva đến Warszawa, thủ đô Ba Lan quá xa, mà anh làm gì có tiền. Đơn của anh bị bác.

Khi ấy Liên Xô cũng chuẩn bị cử một số nhạc sĩ đi Warszawa. Họ tổ chức một kỳ thi tuyển lựa cả trăm người để tìm ra mươi người đại diện cho Liên Xô. Những người này sẽ được chính phủ Liên Xô giúp đỡ. Đặng Thái Sơn cũng thi “ké” vào đó. Anh được chấm điểm cao nhất, nhưng anh không ở trong danh sách đại diện Liên Xô để đi thi được. Anh phải dự thi với tư cách tự do, vô tổ quốc và không được chính quyền Liên Xô giúp đỡ.

Không những thế ban tổ chức kỳ thi ở Ba Lan còn toan bác đơn xin dự thi của Đặng Thái Sơn vì đơn dự thi của anh không một lời giới thiệu, chẳng biết anh là ai, nhưng rồi họ cũng thông qua, vì Sơn là người Việt Nam đầu tiên xin dự thi từ trước đến giờ. Vả lại anh có sau lưng cả một học viện âm nhạc làm chứng cho khả năng của mình, khả năng hạng tối ưu khi ra trường.

Giáo sư Natanson thấy vậy lại phải ra tay giúp đỡ vì ông biết người trò cưng đầy tiềm năng của ông rất có hy vọng thắng giải. Ông phải bỏ tiền ra cho Đặng Thái Sơn mua vé xe lửa đi Warszawa, thuê nhà trọ, thuê cả dàn nhạc đệm cho anh đánh đàn – Một số tiền không nhỏ.
Không có tiền mua vé máy bay, và chỉ đủ tiền mua vé xe lửa hạng nhì, Sơn không có người thân nào ra tiễn tại sân ga Moskva, cũng chẳng có người bạn nào đến đón khi tới Warszawa. Hành lý của anh thì thật nhẹ, vài bộ quần áo tạm lành lặn. Anh không có cả một bộ đuôi tôm để lúc hữu sự dùng đến… Buồn quá, Sơn đã phải dốc bầu tâm sự với ông bố Đặng Đình Hưng.

Trong thư gửi cho cha mình, Đặng Thái Sơn viết:
“Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vác-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-tan-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ…

Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình mà Việt Nam thì không có – con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp được Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”

Và hình như thế, Sơn đã được Chopin chọn, anh qua được vòng loại một cách dễ dàng, loại hầu hết 149 đối thủ thuộc 37 quốc gia trên toàn thế giới, rồi tiến lên vào vòng chung kết. Để vào vòng chung kết, Sơn bị kẹt một điều là thí sinh phải mặc áo đuôi tôm. Anh có hai ngày chuẩn bị cho buổi chung kết nhưng làm sao có áo đuôi tôm bây giờ? Người gỡ rối cho anh lại là giáo sư Natanson.

Ông thầy phải lôi anh đến một cái tiệm, sắm cho anh một bộ, nhưng tìm cả nửa ngày không có chiếc nào vừa với thân thể nhỏ thó của anh. Thế là đành may một chiếc, lấy trong vòng 24 giờ. Anh bước vào phòng thi với cái áo còn chưa được nhặt sạch chỉ.

Kết quả anh đã thắng giải đầu là giải quan trọng nhất; anh còn đoạt thêm 11 giải phụ nữa, trong đó có một giải của hãng truyền hình NHK Nhật Bản, chính hãng NHK sau này mở cho anh con đường ra khỏi nước!

Tin Đặng Thái Sơn đoạt giải Chopin ở Warszawa đã như một làn sóng chấn động giới âm nhạc cổ điển thế giới. Khi tin này về tới Việt Nam thì báo Nhân Dân của nhà nước Việt Nam – những người từng không muốn anh ra khỏi nước, không muốn anh học dương cầm tại Liên Xô, lại còn tìm cách cản trở anh đi Warszawa tham dự kỳ thi Chopin – đã đăng tin này lên trang nhất trong ba ngày liền, với những lời ca tụng quá lố đến nỗi cả tháng sau, khi về nước thăm ông cụ thân sinh, anh ngượng khi đọc…

Cuộc sống sau “Nhân văn Giai phẩm”, nhà thơ Đặng Đình Hưng bị ung thư phổi. Khi Đặng Thái Sơn tham dự cuộc thi âm nhạc năm 1980 tại Ba Lan, Đặng Đình Hưng đang phải sống ở gầm cầu thang nhà ông bạn, không nhà không cửa, chỉ nằm chờ chết.

Đặng Thái Sơn về nước kịp thời. Cha anh bị bệnh đã khá lâu và không được điều trị đúng mức. Cha anh cần phải mổ ngay, một cái bướu trong phổi. Anh về nhà hôm trước, vài ngày sau cha anh nhập viện, một bệnh viện dành cho các cán bộ cấp cao cỡ thứ trưởng trở lên. Cha anh được bác sĩ Tôn Thất Tùng, người bác sĩ số một của y khoa Hà Nội khám bệnh và được giải phẫu bởi một bác sĩ lừng danh về phẫu thuật. Nhờ vậy mà anh cứu ông cụ sống thêm được mười năm nữa.

Năm tháng qua đi, dù cả cuộc đời “sau Chopin” Đặng Thái Sơn chỉ ở Nhật và du diễn khắp thế giới rồi định cư ở Canada, nhưng anh vẫn được nhà nước “lôi” về gắn lên ve áo danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân – cho dù phần lớn nhân dân chẳng biết anh là ai, và cũng chẳng bao giờ nghe – hiểu nổi thứ âm nhạc mà anh đánh ra!.

Có lẽ chính người nhạc sĩ cũng không để tâm đến danh hiệu này vì ngay sau đó ông cùng với mẹ, bà Thái Thị Liên xin định cư tại Montreal và xin nhập quốc tịch Canada.--


======================================================================= 

Chợ Vườn Hoa, Đà Nẵng xưa
==============================================


Friday, October 31, 2025

Hưng Yên đuổi dân làm sân golf


Lễ khởi công sân golf Trump Organization, Hưng Yên 


ĐUỔI DÂN LÀM SÂN GOLF CHO TRUMP


HƯNG YÊN, August 11 (Reuters)  
Bà Nguyễn Thị Hương, nông dân, ngủ không được vì vừa nhận lệnh của chính quyền phải dọn nhà đi để làm sân golf và khu nghỉ mát của gia đình ông Trump; bà sẽ được bù trừ 3,200 đô la và một số gạo. Sân golf nầy sẽ bắt đầu xây dựng trong tháng chín sắp tới. Chủ nhân dự án sẽ bồi thường cho mấy ngàn dân làng số tiền và vật phẩm như trên để giao lại đất đai đã canh tác mấy chục năm nay để sinh sống.

Đây là dự án hợp tác kinh doanh đầu tiên của gia đình ông Trump, ký kết một cách dễ dàng nhanh chóng ở Mỹ.
990 mẫu dự định làm sân golf hiện là các nông trại trồng trái cây như chuối, long nhãn và các hoa màu khác. Một số ít người mong chờ cơ hội mới nhưng đa số dân làng đã lớn tuổi lo ngại không biết sẽ sinh sống thế nào trong nền kinh tế mới nhiều giao động. Bà Hương, 50 tuổi, nói rằng cả làng lên ruột vì dự án sẽ lấy hết đất và trở nên thất nghiệp; bà được lệnh bỏ lại hai công đất (200m2) ở Hưng Yên cạnh Hà Nội, đổi lấy số tiền ít hơn nửa năm lương của một công nhân trung bình.
Công ty địa ốc Kinhbac City sẽ thực hiện sân golf nầy sau khi trả cho gia đình Trump 5 triệu đô để giữ giấy phép chính quyền Hà Nội cấp.
Gia đình Trump sẽ điều hành câu lạc bộ nầy khi nó hoàn tất nhưng không lo việc bồi thường cho nông dân.
Ông Trump nói tài sản trong thương vụ nầy được giữ trong một "trust" của các con của ông nhưng sổ sách kế toán cho biết các nguồn lợi nầy đi vào túi của ông Trump.
Chính quyền sẽ ấn định biểu suất bồi thường và sẽ công bố chính thức. Tuy nhiên 5 người bị truất hữu đã được thông báo một mét vuông sẽ được đền bù từ 12 đến 30 đô la tùy địa điểm.
Trong lúc ấy, một viên chức hữu quyền nói rõ hơn, tô suất bồi thường xưa nay không quá 14 đô một mét vuông.
Trong nước VN cộng sản, ruộng đất được quản lý bởi nhà nước. Nông dân được phép canh tác dài hạn trên những miếng đất nhỏ; nhà nước lấy lại thì chỉ ra lệnh, không cần dài dòng giải thích.
Bà Hương đã thuê lại một khu đất rộng hơn phần của bà để canh tác nhưng bà chỉ được bồi thường miếng đất nhỏ nhà nước cho làm phương tiện sinh sống.
Trong buổi lễ khởi công có sự tham dự của Eric Trump đại diện Donald Trump, thủ tướng Phạm Minh Chính nói rằng nông dân sẽ được bồi thường thỏa đáng. Nhưng nông dân không có quyền thương lượng theo giá thị trường, đồng loạt chỉ 12 đô một met vuông. Ông Đỗ Đình Hường, một nông dân khác, nói dân chúng sẽ vui vẻ nhận ít tiền nếu vườn đất của họ dùng làm đường hay tiện ích công cộng. Nhưng đây làm giàu cho ông Trump, người vốn đã giàu.
Trị giá địa ốc tăng năm lần ở các nơi ngoài 990 mẫu dự định. Ông Lê Văn Tư có cái quán ăn ngoài rìa cho biết sẽ sửa phạn điếm nầy thành nhà hàng cơm nước hầu hạ cho giới giàu sang, hiểu ngầm sẽ kiếm ra nhiều tiền; ông khoái chí cái trại heo gần nhà sẽ mất tiêu khỏi hôi thúi. Kính màu hồng của ông Tư được cung cấp bởi các luật sư và nhà đầu tư trong dự án nầy và, dĩ nhiên, chính quyền.

◙ Ghi chú của người dịch:
Năm 2024, khi Donald Trump chiếm đa số phiếu và chưa nhậm chức, chính quyền CS tỉnh Hưng Yên đã gởi đại diện đến gặp "the President-elect". Vài ngày sau, phái bộ nầy và con trai thứ của Trump, Eric Trump, đã ký giao kèo thành lập khu golf và resort ở Hưng Yên, vốn đầu tư 1,5 tỷ đô. Trump đã ngồi chụp hình chung mừng con trai thành công trong thương nghiệp. Ông nói đây là thương vụ của Trump Organization, của gia đinh Trump mà Chairman là con trai trưởng Donald Trump Jr. Tổng thống chưa nhậm chức không cho biết vai trò của ông trong tổ chức nầy. 
Thủ Tướng Hà Nội đã khai mạc lễ đặt viên đá đầu tiên cho thấy partnership nầy là phương cách mua lòng tân tổng thống HK. Hai bên đã phải thương thảo từ lâu vì khế ước đầu tư lớn quá bạc tỷ không thể soạn trong vài ngày.
Lần bầu cử trước 2016, khi Trump chưa nhậm chức, một luật sư Mỹ đại diện quyền lợi sòng bạc của Trump đã đến Saigon đề nghị biến Thủ Thiêm thành Macao hay Las Vegas thâu nhỏ, nghĩa là gồm những sòng bài. Ông nói đi Saigon là ý kiến riêng, ông thấy tiềm năng rất lớn: Trump đã có kinh nghiệm sòng bài nay lại có quyền trong tay; đẻ ra, Trump đã là businessman. Thủ Thiêm không phát triển theo chiều hướng nầy.
Tám năm sau, kỹ nghệ ăn chơi đi theo một diễn trình ngược lại, dùng chính quyền chơi với chính quyền. Đại diện Hưng Yên đã đi sứ.
Trump và tổ chức Trump cho biết không đảm trách bồi thường nhưng vốn đầu tư dành 1/3 (500 triệu) cho việc nầy. Chính quyền VN trở nên nhà thầu, dùng quyền lực và pháp chế công hữu để đuổi dân, chi tiêu ít lại, còn thì bỏ túi. Có chửi thì chửi, đừng động tới Trump; có sừng có mỏ thì gõ với nhau.
Việc làm ăn của các con nhà Trump là chuyện tự nhiện; cô con gái đầu của Trump và người chồng gốc Do Thái trong thời gian Trump tại vị đã trở thành tỷ phú. Cũng như con gái của Bill Clinton hiện đi chiếc xe mắc nhất thế giới, có nhà cửa dinh thự. Obama có cái nhà nghỉ mát đang rao giá bán 36 triệu. Con của Trump khôn ngoan đã đầu tư, làm việc với chính quyền các nước tự lo đối đầu với dân chúng, nhưng sau lưng chúng có một bố già được ca ngơi là vô vụ lợi (sic, sic, sic...)




Thursday, October 30, 2025

cổ sử VN viết theo sách Tàu


ấn tín Văn Đế Hành Tỷ

CỔ SỬ KHÔNG MANG KÝ ỨC LỊCH SỬ
The Absence of Historical Memory in Early VN
Lê Minh Khai • 2012 • ttt dịch

Các học giả VN thời Trung Cổ viết những bộ sử đầu tiên về Châu Thổ Hồng Hà đều theo nguyên tắc chính trị nối tiếp chính thống 正統.

'Đại Việt Sử Lược' bắt đầu đường nối tiếp nầy với Triệu Đà. Triệu Đà gốc nơi bây giờ là tỉnh Hồ Bắc và thành lập một vương quốc trong vùng bây giờ là tỉnh Quảng Đông và xưng hoàng đế vào cuối thế kỷ 3 trước công nguyên.
Sau đó, sứ giả nhà Hán đã thuyết phục Triệu Đà ngưng việc dùng danh hiệu hoàng đế. Người kế vị của Triệu Đà được sử Tàu và Đại Việt Sử Lược ghi là Văn Vương. Vương là tước hiệu được chấp nhận dành cho thủ lãnh một vùng dân cư chịu thần phục nhà Hán đúng như điều Triệu Đà được yêu cầu thi hành.
Tiếp theo, Đại Việt Sử Lược đem việc kế nghiệp chính thống nầy lùi vào lịch sử đến vị vua thần thoại là Kinh Dương Vương. Từ Kinh Dương Vương qua các vua Hùng rồi đến Triệu  Đà. Triệu Đà đã bỏ tước vị hoàng đế và truyền ngôi cho Văn Vương. Sử Việt không những theo đúng lịch sử các triều đại tiền sử của Tàu mà nhiều đoạn chép nguyên từng chữ.
Vậy, phải chăng Đại Việt Sử Lược và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là một phần bộ của truyền thống lịch sử nước mình? hay là các sáng tác thời Trung Cổ dựa trên các tài liệu bằng chữ viết của Trung Hoa? Nói khác, phải chăng các bộ sử ấy dung chứa một phần nào ký ức lịch sử hay chỉ được đúc kết từ những gì các học giả Trung Hoa đã viết thành chữ?

Khoa khảo cổ có thế giúp một tay để trả lời. Trong thập niên 1980, các nhà khảo cổ Trung Hoa đã khai quật huyệt mộ mà họ tin của người kế vị Triệu Đà tức là Văn Vương. Vô cùng ngạc nhiên, họ tìm thấy chiếc triện 文帝行璽 Văn Đế Hành Tỷ.
Trong khi sử sách Tàu và Việt minh định rằng Triệu Đà đã từ bỏ tước vị hoàng đế, khảo cổ cho thấy người kế nghiệp của Triệu Đà vẫn dùng tước hiệu nầy.
Như đã nói trên, sử Việt đầu tiên được soạn thảo theo nguyên tắc chính trị, theo đó các triều đại kế tiếp theo một mạch chính thống. Nhưng sự kiện Triệu Đà xưng hoàng đế rất quan trọng, ông là người đầu tiên ở phương Nam làm việc nầy, ra ngoài đường lối chính thống. Tại sao sách sử của hai nước không cho biết thừa kế của Triệu Đà dùng tước hiệu nầy?
Lý do: sử gia không có 'ký ứ
c lịch sử'; truyền thống ký ức lịch sử không có trong vùng. Đại Việt Sử Lược và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là những sản phẩm của một diễn trình chế biến lịch sử thời Trung Cổ, không dung chứa ký ức lịch sử.
Nếu sử Việt không nhớ Văn Đế thì làm sao nhớ các vua Hùng xuất hiện trước Triệu Đà?

◙ Ghi chú của người dịch:
Một bài viết chung của tác giả và Đinh Hồng Hà có đoạn nói thêm đường dây kế nghiệp còn kéo đến Thần Nông:
trích: Trong khi quan niệm quốc gia, giống nòi, là những đề tài sôi sục ở Âu Châu, giới ưu việt cai trị ở VN chú trọng đến phả hệ chính trị, kết nối triều đại đương thời vào chuỗi kế nghiệp chính thống từ một hoàng đế thần thoại là Thần Nông. Thân thế của Thần Nông và các vua kế nghiệp được đề cập trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, thế kỷ 15. Thời điểm nầy cách xa mấy ngàn năm, tính từ thời gian giả định Thần Nông có thật. ngưng 
Giới ưu việt là tầng lớp sĩ tử, giới trí thức Hán học, phần lớn làm quan triều Nguyễn. Mãi cho đến gần đây, thập niên 1930, Nhiếp Chánh Vương Tôn Thất Hân lập lại phả hệ chính trị nầy lên đến Thần Nông trong một luận văn Hán Tự.

=========================================

cô đơn Saigon xưa

=====================================




Monday, October 27, 2025

bình đẳng và đẳng bình




BÌNH ĐẲNG và ĐẲNG BÌNH
Tôn Thất Tuệ

Vào mùa Thế Vận Hội 2024 ở Paris, vài Facebook đăng bài "Đừng cười cợt vội" của Phạm Gia Hiền, mở đầu như sau:
"Chỉ sau 46 giây thượng đài, Angela Carini (Italy) đã phải giơ tay xin thua đối thủ người Algeria - Imane Khelif, võ sĩ từng bị cấm thi đấu ở giải vô địch thế giới năm 2023 vì có hormone sinh dục nam quá cao". Bài báo nêu rõ những sự vô lý mà giới quyền anh đã áp đặt cấm Khelif dự tranh. Bài kết luận việc cho cô nầy lên đài chính là nguyên tắc bình đẳng: Angela và Imane đều là con gái đúng như trời sinh, không có cái vụ chuyển thành nam giới; thắng thua là chuyện bình thường".
Lúc ấy đọc xong tôi có cảm nghĩ khác, ra ngoài các lý luận pháp lý. Bình đẳng thì đúng rồi; bình đẳng chúng ta đã quen như khẩu hiệu theo châm ngôn của Pháp: Liberté Égalité Fraternité (tự do, bình đẳng, bác ái huynh đệ). Nhưng cái bình đẳng ấy thì như tôi và ông Trump, ông Bill Gates đều bình đẳng. Bình đẳng chính trị ấy chẳng có gì bình đẳng. Và ngay trong câu mở đầu nêu trên đã không có sự bình đẳng. Khetif quá nhiều hormone nam tính.
Đẳng bình chữ tôi nghĩ ra hay đã đưa vào tiềm thức chữ kẻ khác đã dùng để thay thế équité / equity trong nghĩa bình đẳng thật sự cao hơn pháp lý, gần đến đạo lý xã hội.


Bức hình minh họa ba người đứng xem đá banh cho thấy sự khác biệt giữa đẳng bình và bình đẳng. Cũng như hý họa tuyển chọn vào sở làm qua kết quả leo nhanh nhất giữa voi, khỉ, chim, cá. Cũng như khi Saigon bắt đầu TV mười gia đình chưa có một nhà có máy thu, trẻ con đánh đu cửa số nhà khác xem ké, có đề thi vào đệ thất toàn quốc: em hãy tả cảnh cả nhà ngồi xem truyền hình.

Tôi nghĩ đến một chuyện trong kinh Phật. Vua A Xà Thế bi bệnh tâm thần rất nặng. Phật biết và nhắn rằng nếu ông đến đạo tràng, Ngài sẽ chỉ con đường viễn ly điên đảo, thân tâm an lạc. Ông không tin vì Phật từ bi với mọi người sao lại lo cho một mình ông. Ngài đáp: cha mẹ thương yêu mọi đứa con như nhau nhưng đứa nào yếu kém một điểm gì thì cha mẹ chú ý cho đứa đó nhiều hơn.
Ấn dụ nầy đã bao gồm hai ý niệm bình đẳng và đẳng bình.

Đẳng bình là một vấn đề rất lớn, chi phối hầu hết các sinh hoạt chính trị, văn hóa, kinh tế của các nước dân chủ, chậm nhất là giữa thế kỷ 20.
Có nước rùm ben la lối, lý thuyết, thực hành, gây chia rẻ màu da, địa phương, chủng tộc bên cạnh những giải pháp tích cực dùng đẳng bình để bù đắp những bất bình đẳng dưới chiếc áo bình đẳng.
Có nước âm thầm làm những việc trong tinh thần đẳng bình. Ví dụ miền Nam VN từ 1954 đã hạ thấp số điểm cần thiết trong kỳ thi tú tài cho các thí sinh miền Thượng, cho họ ưu tiên vô học các trường cao đẳng chuyên nghiệp. Lý do trong quá khứ, các sắc dân thiểu số không được hưởng những phúc lợi như người kinh về giáo dục, kinh tế v.v...
Việc làm giới hạn nầy đã đi trước HK. Đến 1961, TT Kennedy mới đặt nền móng cho đẳng binh, phát họa cac điều ông gọi là affirmative actions (hành động xác quyết tích cực), mãi đến sau khi ông chết mới bắt đầu thực hiện bởi TT Johnson năm 1965. Dĩ nhiên affirmative actions rộng lớn, bao quát hơn việc giúp người Thượng ưu tiên nhập học.
Nói cho dễ hiểu và thực tế, affirmation actions giúp cho người da đen ưu tiên vô đại học; hai sinh viên bằng điểm thì người da đen được chọn. Điều nầy bắt buộc với các trường nhận tài trợ của chính phủ. Để chính sách nầy có thành quả, chính quyền trung ương trợ giúp các tiểu bang thành lập nhiều state university và community college (cao đảng công đồng) và nhiều học bỗng, giúp người da màu có bằng cấp đại học, không phải trả học phí cắt cổ như Harvard...
Có lẽ affirmative actions đã làm được việc trong giáo dục, đã đủ, cho nên tối cao pháp viện đã đình chỉ thi hành trong một phán quyết tháng 6 năm 2023.
Đẳng bình vẫn còn được nghiên cứu và thi hành trong nhiều lãnh vực. Giáo dục chú ý khả năng nhận thức của từng học sinh, để ý hoàn cảnh sinh sống của các em trong gia đình, trong khu vực trú ngụ ...

Những dòng nầy vô cùng sơ lược chi để gợi một vấn đề thuộc hàng nằm, không sôi động nhưng cấp thiết, vì tính cách nhân sinh, luân lý và công bằng. Xin lỗi tôi vẫn bị ảnh hưởng bởi PG, nên ghi lại một đoán của Pháp Hoa: nếu có chúng sinh nào đến chỗ Như Lai ở, ta sẽ dùng Phật nhãn xem đức tính căn cơ theo đó mà cứu độ, mỗi nơi ta thuyết giảng những danh hiệu khác nhau.

Để giúp vui và chấm dứt, xin nêu ẩn dụ bánh pizza của nhà giáo DebHillCA
Gia đình sáu người ngồi quanh một cái bàn và một ổ bánh pizza to nhiều xúc xích và phó mát. Món ăn Ý nầy sẽ chia ra sao?
Nếu theo nguyên tắc bình đẳng (égalité /equality), mỗi người sẽ đưọc 1/6 chia đều, lớn nhỏ như nhau.
Nhưng theo tinh thần đẳng bình équité / equity, ổ bánh sẽ chia theo nhu cầu cá nhân vì phúc lợi chung của gia đình. Cô bé đôi tám vegetarian sẽ ăn rau cải. Chú em đang độ lớn cần ăn nhiều theo đòi hỏi của cơ thế sẽ được một miếng bự lớn hơn 1/6. Bà ngoại vì bao tử không chịu các thứ làm từ sữa không dám đụng tới phó mát, bà lớn tuổi chỉ ăn chút xíu vành bột, còn để phần cho cho các cháu ăn thêm. Sư khác biệt về nhu cầu không làm cho ai tốt hơn giỏi hơn hay tệ hơn xấu hơn, đơn giản cho thấy mỗi cá nhân có những nhu cầu riêng thỏa mãn bởi những phương cách phù hợp riêng. 1/6 cái bánh quá nhiều quá thừa với bà ngoại nhưng chưa đủ với bé trai lên 10 đang lớn nhanh.

==========================================

vợ lính ngây thơ, hiền hậu

===================================




người Dao và người Việt xưa trong sử Tàu

người Dao ở Hòa Bình cúng tổ Bàn Hồ
 
NGƯỜI DAO và NGƯỜI VIỆT

The Yao and the Việt 

Lê Minh Khai, ttt dịch

Người Dao là sắc tộc sống trong vùng núi từ Hồ Nam đến biên giới Bắc Việt. Họ viết tiền sử của chính mình dựa theo các tài liệu của Trung Hoa. Những sáng tác nầy được kết tập thành cuốn 評皇券牒 Bình Hoàng Khoán Điệp (văn thư tổng gộp về vua Bình) còn gọi 過山榜 Quá San Bảng (thẻ thông hành vượt núi).

Theo những tài liệu nầy, người Dao là hậu duệ của một vị tổ nửa người nửa chó tên là 槃瓠 Bàn Hồ. Truyện gốc không do người Dao sáng tạo mà là sáng kiến của văn gia Trung Hoa. Thật vậy, chúng ta có thể tìm thấy truyện nầy trong  後漢書 Hậu Hán Thư của Phạm Diệp hay Úy Tông. Sau đó, Phạm Diệp nói rộng rằng mọi sắc tộc 南蠻 Man Nam (gồm cả Bách Việt) đều là con cháu của Bàn Hồ.
Bàn Hồ, một con chó, đã giúp Bình Hoàng Đế giết kẻ địch Cao Vương muốn xâm chiếm đất nước. Vì công trạng nầy Bình Đế gả con gái cho Bàn Hồ, phong Bàn Hồ là Bàn Vương; nhà vua thấy tiếc nên đã đuổi theo bắt con gái lại nhưng trời đất bỗng nhiên sấm sét mưa bão nên đành thôi.

12 người con của Bàn Hồ

Công chúa ăn ở với Bàn Hồ sinh ra sáu trai sáu gái. Chúng lấy nhau, sinh đàn sinh đống ở khắp vùng núi. Người Dao xem Bàn Vương là ông cố tổ cao cao ... tằng, là thủy tổ. Hậu Hán Thư nói thêm xã hội người Dao chia thành nhiều tập thể cộng đồng đứng đầu bởi các tướng quân; họ nhận ấn tín của triều đình, đội mão bằng da con ráy cá. Dân chúng gọi các ông lớn nầy là 精夫 tinh phu, gọi nhau là 姎徒 ương đồ.

Truyện nầy Phạm Diệp Úy Tông viết vào thế kỷ thứ 5 trong chương Nam Man nhưng 1,000 năm sau, người Dao dùng để tỏ bày nguồn gốc và căn cước của họ.
Nếu đã đọc Lĩnh Nam Chích Quái, bạn thấy ngay có sự giống nhau. Truyện người Dao, hoàng đế gả con gái cho một người-chó đã gợi qua Hồng Bàng Thị Truyện với vợ vua bị Long Vương bắt cóc. Cả hai truyện, hai vị vua đã bị các trở lực siêu phàm thần bí không thể chạy theo giật lại hai phụ nữ. Hai nường sinh con, sinh cháu hàng hàng lớp lớp, phải chia ra từng nhóm.
Tóm lược, Bình Hoàng Khoán Điệp hay Lĩnh Nam Chích Quái đều viết theo sách Tàu, đặc biệt là Hậu Hán Thư của Phạm Diệp.

Ghi chú của người dịch
Mặc dầu Hậu Hán Thư nói Bàn Hồ là thủy tổ của mọi dân Nam Man, Lĩnh Nam Chích Quái không ghi rằng giống Bách Việt là con cháu của người-chó nầy. Dịch từ tiếng Anh, a dog, không trang trọng như trong sách là long khuyển, từ trên trời giáng xuống cung triều của Bình Đế như một thần hộ mệnh. Hình ảnh người chó sẽ không làm người Ấn Độ dị ứng vì đã quen vị thần số một là Ganesha mặt voi.

đám rước Ganesha

Tác giả đề cập người Dao từ Hồ Nam đến biên giới Bắc Việt. Nhưng người Dao đã đến gần biên giới Việt Lào ở tỉnh Hòa Bình cạnh Thanh Hóa, tụ tập trong vùng Mai Châu. Trang quảng cáo du lịch của Mai Châu Resort cho biết người Dao thờ Bàn Vương và công nhận nguồn gốc như Lê Minh Khai trình bày. trích:  Vợ chồng Bàn Vương sinh được 12 người con (6 trai, 6 gái). Vua Bình Vương ban sắc phong cho họ thành 12 dòng họ của người Dao, gồm: Bàn, Phàn, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu. Con cháu Bàn Vương được cấp "Quá sơn bảng văn" (Giấy thông hành qua núi) để phân tán đi sinh sống ở các nơi. Sau khi Bình Vương qua đời, Bàn Vương lên làm vua nhưng vẫn giữ nếp sống giản dị, dạy dân cách trồng lúa, dệt vải, săn bắn. Khi Bàn Vương qua đời, người Dao thờ cúng ông như một vị thần linh thiêng.--

=========================================




Sunday, October 26, 2025

Nam Trung, một làng gốc Nam Kỳ ở Huế






Cầu Phú Thứ cách Nam Trung 1 km

NAM TRUNG làng Nam Kỳ ở Huế
Đinh Khắc Thiện
Vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 xứ Thuận Hóa là nơi đã xảy ra nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử đất nước.
Năm 1786 Nguyễn Huệ đem đại quân Tây Sơn từ phía Nam ra hạ thành Phú Xuân từ tay quân Trịnh, chấm dứt thời kỳ thành Phú xuân bị quân Trịnh chiếm đóng.
Năm 1802, Vua Gia Long sau khi đánh bại nhà Tây Sơn thống nhất đất nước lập ra triều Nguyễn, đã đóng đô tại thành Phú Xuân.
Đồng thời với các sự kiện trọng đại này của đất nước, người dân Phú Xuân đã chứng kiến một trào lưu di cư từ các tỉnh phía Nam ra lại Thuận Hóa. Hay còn gọi là hiện tượng nhập cư ngược từ phía Nam ra Phú Xuân, Huế.
Họ là những người theo các đoàn quân của Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh vào chiếm hay khôi phục Phú Xuân. Họ là những tướng lĩnh, những quân lính, những quan chức dưới trướng của hai vị vua nói trên, sau khi đến kinh đô Phú Xuân làm nhiệm vụ đã đem theo gia đình đến định cư hẳn ở đây, lập nên những dòng họ mới, thậm chí là những ngôi làng mới.

Thời Tây Sơn, đa số các dòng họ này đều xuất phát từ Quảng Nam đến Bình Định, như họ Lê Nhữ làng Mỹ Á (xã Vinh Giang, Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế), họ Phan làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ, Phú Lộc, tỉnh Thừa thiên – Huế), một số dòng họ ở làng An Bằng (xã Vinh An, Phú Vang)….

Nhưng đặc biệt là khi Vua Gia Long khôi phục Phú Xuân, ngoài một số người gốc Thuận Hóa là trọng thần của triều đình cùng vua trở về, còn có rất nhiều người gốc Nam bộ đi theo làm nhiệm vụ rồi định cư luôn. Đã tạo nên một lượng cư dân Nam kỳ khá lớn tại Phú Xuân. Họ nhập cư Thuận Hóa theo 3 đợt chính :
- Đợt “Trung tiến” đầu tiên là những công thần theo giúp chúa Nguyễn Phúc Ánh, trong thời kháng chiến (khởi binh từ Long Xuyên, năm 1778), người nổi tiếng nhất trong đợt này là Phạm Đăng Hưng (1765-1825).
- Đợt thứ hai kế tiếp trong khoảng thời gian từ 1802-1862; nổi bật nhất là Phan Thanh Giản (1798-1867) ông quê quán ở trấn Vĩnh Thanh (Kiến Hòa sau này); Phan Thanh Giản là người Nam đầu tiên thi đỗ tiến sĩ (khoa Bính Tuất – 1826).
- Đợt “Trung tiến” thứ ba diễn ra vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, một lượng lớn người Nam giỏi tiếng Pháp ra Huế giúp việc, đã khiến cho lượng người Nam tại Huế khá đông đúc.
Đây là lý do tại sao hiện nay ở Huế có một số dòng họ gốc Nam Kỳ khá nổi tiếng, như họ Phạm Đăng (ở phường Kim Long, thành phố Huế), họ Đoàn cũng ở Kim Long.
Trong các dòng họ này, có một nhân vật của đợt “ Trung tiến” đầu tiên rất nổi tiếng đó là Phạm Đăng Hưng – nguyên là Thượng thư Bộ Lễ triều Minh Mạng ông là người thành lập “Nam châu hội quán” (hay Nam châu tương tế) làm nơi sinh hoạt, gặp gỡ của những người gốc Nam Kỳ ra lập nghiệp ở Thừa Thiên. Trụ sở của “Hội Nam châu Tương tế” là một ngôi nhà khá lớn trên sở đất rộng 2 mẫu 3 sào là quà tặng của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (là con gái của cụ Phạm Đăng Hưng, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức), ngay sau Phủ Đức Quốc Công từ (nơi thờ cụ Phạm Đăng Hưng) ngay đầu cầu phía Tây của cầu Bạch Hổ. Đây là nơi sinh hoạt và tổ chức các kỳ đại hội lễ tết của dân cư gốc Nam Kỳ sinh sống tại Huế .

Nhưng theo thời gian hội quán của “Hội Nam châu Tương tế” trở nên quá nhỏ so với lượng người Nam Bộ định cư tại Kinh Đô. Và để giúp cho bộ phận cư dân gồm toàn là những người có công với triều đình này có một không gian lớn hơn để làm nơi cúng tế, gặp gỡ vào các ngày lễ tết, năm 1904 Vua Thành Thái đã cấp đất để thành lập thôn Nam Trung (người miền Trung, gốc miền Nam), thuộc làng Phú Đa, tổng Sư Lỗ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên để làm nơi thờ cúng, tế tự cho các dòng họ gốc Nam Kỳ. Làng Nam Trung ra đời từ đó.

Trước năm 1975 làng vẫn mang tên là thôn Nam Trung, thuộc xã Phú Đa, quận Phú Thứ, tỉnh Thừa Thiên; nhưng sau năm 1975 làng lấy lại tên ban đầu là thôn Nam Châu (nay thuộc thị trấn Phú Đa, huyện Phú Vang). Đây là ngôi làng Nam Kỳ duy nhất tại tỉnh Thừa Thiên – Huế hiện nay.
Người có công khai phá hoàn chỉnh làng Nam Trung đầu tiên là cụ Phạm Năng Tuấn (1857-1932) tước vị Hàn Lâm Viện Thị Độc Phụng Thành Đại Phu. Công dân đầu tiên nhập tịch sổ bộ của làng sau ngày thành lập (1904) chính là Phủ Doãn Thừa Thiên cụ Trần Trạm (1857-1938).
Đây là ngôi làng có các cư dân vốn là các trọng thần của triều đình gốc Nam Kỳ, các nhân vật khoa bảng và nhiều nhân vật nổi tiếng của xứ Huế xuất thân hoặc là công dân danh dự của làng, đặc biệt về văn học nghệ thuật.
Cho nên cư dân quanh vùng đã truyền tụng một giai thoại có thật về ngôi làng này, đó là ngôi làng có “quan nhiều hơn dân”, vì thực tế như nói trên đây - “dân làng” đều là quan lại khá giả sinh sống ở Kinh thành, số cư dân ở lại làng rất ít, họ chỉ trở về làng đông đủ khi có việc làng, việc họ.
Do đặc điểm của làng là “quan nhiều hơn dân”, khi có việc làng, việc họ hay chạp giỗ cúng kỵ đều phải thuê mướn dân các làng chung quanh đến làm các công việc nặng nhọc như mổ heo, hạ bò, mang vác cờ lọng nghi vệ cúng tế hay chạp mộ .

Ngôi làng có đầy đủ các tiêu chuẩn của một ngôi làng như quy định của luật pháp thời ấy, dân làng được cấp 9 mẫu đất để làm tế điền và 7 sào đất để làm Từ Đường Cửu Tộc (9 họ) tại huyện lỵ Phú Vang. Buổi đầu ngôi làng Nam Trung hội tụ được 9 họ tộc nguyên quán miền Nam, gồm: họ Phạm Hữu, họ Phan, họ Trần, họ Nguyễn Trọng, họ Nguyễn Trung, họ Đoàn, họ Lê, họ Đặng Ngọc, họ Đinh, về sau có thêm họ Hoàng Trọng.

Vì lý do khá đặc biệt trên đây, làng Nam Trung tuy là một ngôi làng ngụ cư đã sản sinh ra nhiều bậc khoa bảng và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Ngoài những công dân danh dự nổi tiếng của làng (là người lập làng nhưng không sinh ra tại làng) như : Phạm Đăng Hưng, Phan Thanh Giản, Trần Đạo Tế, Trần Trạm (Phủ doãn), Đặng Ngọc Oánh (Tuần vũ), Phạm Hữu Văn (Tiến sĩ năm 1913), Nguyễn Trọng Tịnh (Phó Bảng năm 1916)…

Lớp hậu duệ của các cụ cũng khá nổi tiếng, đặc biệt về văn học nghệ thuật, họ Phạm Đăng có họa sĩ Phạm Đăng Trí – là họa sĩ nổi tiếng nhất của xứ Huế, họ Phan Thanh có nhà thơ Phan Thanh Phước, nhà giáo Phan Thanh Hy. Họ Đoàn có Đoàn Nẫm, Đoàn Nông là những nhà nghiên cứu tuồng; họ Trần như Trần diệu Tâm (An Hiên – Paris). Họ Đặng Ngọc có chủ rạp hát bội Ba Tuần ở Huế - Đặng Ngọc Oánh, nhân vật khai sinh ra ngành kịch nói – cậu Năm Hùng, chính là ông Đặng Ngọc Hùng con ông Oánh. Họ Đinh có chủ nhà in ở Gia hội ông Đinh Văn Sum, có họa sĩ Đinh Cường nổi tiếng về tranh trừu tượng…cũng chính là một người dân của làng Nam Châu.

Ngoài ra cũng có khá nhiều công dân danh dự của làng (không nhập tịch) khá nổi tiếng, như: Trương Vĩnh Ký, luật sư Diệp văn Kỳ (1895-1945), cụ Hồ Phú Viên hàm Hiệp Tá (Tuần Phủ),

Đặc biệt một người dân của làng đã được lưu danh tại văn bia tiến sĩ ở Văn Thánh Huế là ông Phạm Hữu Văn (1882-1946) bút hiệu Mai Nam, tiến sĩ khoa Quý Sửu (1913) ; vị tiến sĩ này có ảnh hưởng khá sâu đậm trong lòng người dân làng Nam Trung.

Ở đây có một chi tộc họ Đinh gốc Nam Kỳ.   22.07.2013

====================================