add this

Saturday, December 16, 2017

nhân văn giai phẩm



nhân văn giai phẩm
Nguyễn Đình Cống

Nhân Văn (NV) là tên một tờ báo tư nhân do một số văn nghệ sĩ, trí thức lập ra vào giữa năm 1956, phát hành được 5 số thì bị cấm. Giai Phẩm (GP) là tên tạp chi, có GP mùa xuân, GP mùa Thu, GP mùa Đông, phát hành từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1956, mỗi GP có vài số. Trước đây ghép vào Nhân Văn, Giai Phẩm còn có thêm Đất Mới, nhưng dần dần Đất Mới bị bỏ qua. Đất Mới là tên một tạp chí của sinh viên vào cuối năm 1956, chỉ ra được 1 số. NVGP là một phong trào của văn nghệ sĩ và trí thức, nói lên nguyện vọng được tự do sáng tác, tự do thể hiện tình cảm con người, tự do tư tưởng và ngôn luận.

Những người đề xướng và có vai trò hàng đầu như là: Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Phùng Cung, Hữu Loan, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Văn Cao, Xuân Sách, Thụy An… Hai người bị kết án nặng nhất là ông Nguyễn Hữu Đang và bà Thụy An (xử án tháng 10/ 1960, kết án 15 năm tù).

Trước 1956, theo đường lối cách mạng, mọi sáng tác và hoạt động văn hóa văn nghệ đều phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Thực chất sự lãnh đạo này là bắt buộc các văn nghệ sĩ phải nghe theo, làm theo các chỉ thị, chịu sự kiểm soát độc đoán của các đảng viên phụ trách, trên cùng là Trường Chinh và Tố Hữu, dưới là các cán bộ tuyên giáo các cấp. Trong tác phẩm của ai đó, là văn thơ, nhạc họa hay lý luận phê bình nếu bị phát hiện dù chỉ một câu, một ý, một chi tiết nhỏ bị cho là vi phạm lập trường giai cấp vô sản, bị cho là sai với tính đảng thì không những tác phẩm mà tác giả xem như đã bị nhận xuống bùn đen vạn kiếp. Màu tím hoa sim với Hữu Loan, Tây tiến với Quang Dũng là các dẫn chứng. Tình trạng đó làm ngột ngạt một số trí thức và văn nghệ sĩ, nhưng vì còn chiến tranh chống Pháp nên nhiều người tạm chấp nhận, tam chịu đựng.

Năm 1956, ở Liên xô có việc Kroutchev, tổng bí thư Đảng CS kêu gọi chung sống hòa bình, mở rộng tự do dân chủ, đặc biệt là chống sùng bái cá nhân lãnh tụ, Trung quốc có phong trào Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng, Việt Nam phát hiện sai lầm cải cách ruộng đất, Đảng Lao động kêu gọi mở rộng dân chủ. Một số trí thức và văn nghệ sĩ tưởng thời cơ đã đến để vận động cho dân chủ hóa và tự do sáng tác nên mới tập hợp nhau để hoạt động. Đầu tiên là một số văn nghệ sĩ trong quân đội viết kiến nghị, xin được tự do sáng tác, được để cho văn nghệ lãnh đạo văn nghệ. Kiến nghị không được chấp nhận. Viết bài thì báo nhà nước không đăng. Đã vậy thì vận động lập tờ báo tư nhân, lấy tên là Nhân Văn. Một số người có tên kể trên đã có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong việc làm báo tư nhân từ trước năm 1945, đặc biệt là Phan Khôi, một trí thức có tinh thần tranh luận mạnh mẽ, đã lão luyện trong nghề báo. Hồi đó ở Hà Nội vẫn có một vài tờ báo tư nhân được tiếp tục hoạt động, mạnh nhất là nhật báo Thời Mới (sau sáp nhập với Báo Hà Nội thành tờ Hà Nội Mới). Trong thời gian ở Hà Nội chuẩn bị thi đại học tôi đã chứng kiến cảnh mọi người chờ đợi, hào hứng tiếp nhận báo Nhân Văn.

Ngày 9 tháng 12 năm 1956 Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ quyền tự do báo chí. Ngày 15 tháng 12/ 1956, lệnh đóng cửa báo Nhân Văn (đang in số 6). Tờ báo bị cấm trong sự tiếc nuối của nhiều độc giả.
NVGP bị quy kết phạm vào các tội sau: 1- Không tin vào Chủ nghĩa cộng sản. 2-Phản đối chuyên chính vô sản, đòi dân chủ. 3-Chống sùng bái cá nhân. 4-Không tin vào tinh thần quốc tế vô sản, chống rập khuôn theo Liên xô, đề cao dân tộc. 5-Chống sai lầm cải cách ruộng đất. 6- Đòi văn nghệ sĩ được tự do sáng tác.

Sau khi NVGP bị cấm, bắt đầu một đợt học tập và phê phán trong hàng ngũ văn nghệ sĩ, trí thức và sinh viên. Tháng 2 năm 1957 Trường Chinh kêu gọi đập nát bọn NVGP. Tố Hữu là người trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh. Đây là một dịp tốt để cho một vài trí thức và văn nghệ sĩ tỏ lòng trung thành với Đảng. Họ có 3 loại chính. Loại 1, hăng hái nhất, thường là những người tài năng có hạn, muốn tỏ ra tuyệt đối trung thành để được tiến thân. Loại 2, tuy có tài năng nhưng từ trước đến lúc đó chưa được Đảng tin yêu thật sự nên cố tỏ ra có lập trường giai cấp và tự giác theo Đảng, hy vọng được tin cậy hơn. Loại 3, tuy trong lòng thấy được chính nghĩa của NVGP, nhưng vì sợ uy quyền, vì lo cho miếng cơm manh áo mà phải phụ họa theo.

Những người của NVGP phẩm bị tù đáy, bị đàn áp, bị tước bỏ nhiều quyền của con người, quyền của công dân, ít nhất họ cũng bị cách chức, bị quản thúc, bị hạn chế về nhiều mặt và phải sống một quãng đời quá cơ cực. Đại đa số họ đều có nhân cách cao thượng, được những người tử tế tôn trọng. Từ sau 1986 một số người được phục hồi một cách lặng lẽ bằng việc được nhắc đến tên, các sáng tác được ghi tên thật. Những Phùng Quán, Hoàng Cầm, Trần Dần, Quang Dũng, Hữu Loan, Văn Cao v.v… lại được quần chúng yêu mến và tôn vinh. Nguyễn Hữu Đang và Thụy An mãn hạn tù. Thế nhưng Đảng và chính quyền không có một lời chính thức nào minh oan cho họ. Phan Khôi chết trong tủi nhục năm 1959, gần đây được một số nhà nghiên cứu đề cao, tôn vinh là nhà văn hóa lớn. Nguyễn Hữu Đang ốm chết năm 2007 trong vòng tay bè bạn. Thụy An được đón ra khỏi tù như một bà hoàng.

Vào cuối đời, lúc sắp chết Tố Hữu có tỏ ra ân hận, nhưng cũng không dám công khai nhận lỗi lầm, mà chỉ tâm sự riêng với một vài người thân tín. Phùng Quán, gọi Tố Hữu là cậu ruột, kể chuyện sau: khi cậu đã nghỉ hưu Quán mới dám đến thăm, ra về được nghe tâm sự rằng cháu đã dại mà cậu cũng quá dại. Cậu còn đọc cho Quán nghe bài thơ vừa sáng tác.

Có anh bộ đội mua đồng hồ.
Thật giả không tường anh cứ lo
Mới hỏi cô bán hàng, cô tủm tỉm
Giả mà như thật, khó chi mô.

Tên bài thơ, có thể đặt là “Anh bộ đội bị lừa”. Anh bộ đội và cả tác giả đều đã bị lừa. Một đời làm cách mạng, cuối cùng tỉnh ngộ ra “Giả mà như thật”. Đó là kết quả của tuyên truyền lừa dối. Đó là bi kịch của cuộc đời.

Vào cuối đời, nhiều người trước đây tích cực trong việc đánh NVGP tỏ ra hối hận (như Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu). Cũng có một vài người không có sự hối hận thật sự, những sai sót trong các sách và bài viết của họ bị một số hậu thế vạch ra và phê bình (như Nguyễn Lân, Phạm Huy Thông chẳng hạn).
Nhân Văn Giai Phẩm nên được viết vào lịch sử để nhắc nhở hậu thế.-
(Facebook Nguyễn Đình Cống)


                         A-Celebration-of-Women-Feature-Banner-e1352628808407 (1) 512

để nhìn đời bằng một con mắt
ttt 

Vì sao tự hủy một con mắt? Thụy An đã trả lời: “để nhìn đời bằng một con mắt”. Nữ sĩ với tên thật Lưu Thị Yến ấy đã làm việc nầy trong trại tù khi thọ án 15 năm. Cai tù đã chế nhạo với cái tên An Chột. Năm 1994, Phạm Văn Thành, hiện ở Paris, được đưa từ Phú Yên ra Thanh Hóa, ngày đầu nghe loáng thoáng cai tù nói với nhau: “xưa An Chột ở đây nhiều năm”. Anh thấy sự đau khổ trong xe cùm từ miền Trung dày thêm bởi hai tiếng An Chột, hổn danh của Thụy An, người mà Thành mượn tên đặt cho đứa con gái đầu lòng. Thành đang đứng nơi xưa kia Thụy An bị giam giữ, sống cô đơn tủi nhục. Cảnh này na ná như Kiều gặp mộ Đạm Tiên trong Đoạn Trường Tân Thanh.



Đến 1973 sau 13 năm đày ải bà được thả ra, thiết nghĩ vì Hà Nội mượn cớ dựa vào hiệp định Paris. 1975, bà xin vào Nam với hy vọng các con lãnh sang Hoa Kỳ, bà học tiếng Anh với người học trò cũ của con bà là GS Bùi Dương Chi; sống cô đơn trong một căn nhà thuê cạnh chợ Bà Chiểu, Gia Định. Sinh 1916 Hà Nội, nữ tác giả của Một Linh Hồn đã từ trần 1989 khi hồ sơ di trú chưa hoàn tất. Linh hồn của bà trùm khắp Biển Đông theo tro cốt rải ngoài khơi Vũng Tàu, hằng năm hiếu tử Bùi Dương Chi đều ra biển thả hoa cho mẹ.
Thụy An bị kết tội liên lạc với Pháp và mua chuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nguyễn Hữu Đang nói “Bà Thụy An không tham gia gì vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả. Bà ấy không viết một bài, một câu, một chữ nào cho Nhân Văn cả. Bà ấy cũng không hề mách nước, bàn bạc gì với người khác hay với tôi bao giờ cả. Không, không hề có, tuy rằng có quan hệ, thỉnh thoảng có gặp nhau, cũng nói chuyện”.


Lê Đạt thì rõ ràng hơn: "Tôi nhắc lại một lần nữa là chị Thụy An chưa bao giờ ở trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả. Nhưng chị Thụy An rất thân với anh em trong Nhân Văn Giai Phẩm và đặc biệt là thân với tôi. Người ta buộc tội chị Thụy An, người ta cứ buộc tội mập mờ thế thôi, nhưng tội chính của chị Thụy An là thế này: Là gián điệp cài lại để lũng đoạn nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng cho đến khi tôi biết thì tôi cũng chẳng thấy chị ấy viết bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế mà chị ấy đối với tôi thì lại rất quý, chị ấy luôn luôn mua đồ đạc cho tôi, cho vợ con tôi, và tôi cũng chẳng thấy chị ấy bàn với tôi về việc viết một bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế cho nên việc ấy tôi cho cũng là một cái oan rất lớn".
“Tôi có thể bảo đảm 100% chị ấy không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián điệp thì phải có chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu? Liên lạc với ai? Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà nước chưa trả lời tôi được. Chưa có chứng cớ thì làm sao có thể kết luận người ta là gián điệp được. Thì cứ cho tôi là người mù mờ đi, tôi bị chị mua chuộc đi. Tôi nhớ lại tất cả cuộc đời của tôi, thì chị ấy chưa mua chuộc tôi lần nào cả. Và chị ấy chỉ giúp đỡ tôi rất nhiều. Cho nên đến bây giờ tôi thấy là: Riêng về trường hợp chị Thụy An, tôi vẫn rất ân hận. Tại vì chúng tôi đã được phục hồi nhưng chị Thụy An chưa được phục hồi gì cả. Mà một trong những tội lớn nhất của chị ấy là mua chuộc tôi. Thì như các bạn đã biết, tôi chưa từng cảm thấy bị mua chuộc mà chắc cũng chưa ai mua chuộc được tôi. Cho nên tôi thấy riêng tôi bây giờ nói những dòng này, tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào đó, người ta phục hồi chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì riêng tôi, tôi đối với chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ".

Rất nhiều người từ những quan điểm khác nhau từ những nhóm chính trị khác nhau đòi chính quyền CS phải xin lỗi Thụy An, phải trả món nợ. Việc làm ấy được điều động vì lý do nhân đạo và tinh thần công lý. Nhưng theo ngu ý, đòi chính quyền CS xin lỗi có nghĩa là công nhận quyền sinh sát của chính quyền nầy, xin lỗi như một lỗi ngoài da, ví như anh cảnh sát Mỹ dùng bạo lực quá tay. Cốt gốc của vấn đề là chuyên chính vô sản, chuyên chính là viết cho đẹp nhưng thật ra là dictature. Đày ải người ta rồi chỉ xin lỗi, như ông Bùi Tín đòi xin lỗi hàng ngàn vạn người chết Mậu Thân.


Người đời đã biết trái sai, xem Thụy An như kẻ chịu hình phạt, phải vác chính chữ thập gỗ của chính mình, để thấy kẻ kia tàn bạo đến mức nào. Có ai đòi Do Thái xin lỗi đã đóng đinh Jesus đâu. Xin lỗi chỉ là trò hề, như Tào Tháo chỉ cắt búi tóc thay án tử hình. Lại có ông sư đăng đàn chẩn tế, áo mão rực rỡ, lọng vàng chuông trống, để giải tội giải oan. Giải oan ví dụ địa chủ bị đấu tố hành quyết hay dân Huế Mậu Thân, có nghĩa là giải tội của kẻ làm ra oan. Giải tội cho những người nầy, có nghĩa là họ có tội phải chết, nhưng giải đi cho xong để Diêm Vương khỏi mất công. Thật đã đánh đĩ tôn giáo và ngôn ngữ.





Sunday, December 10, 2017

khóc cười 1956 Nguyễn Mạnh Tường




See the source image
vừa khóc vừa cười
Nguyễn Mạnh Tường

Trong một thiên anh hùng ca sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ 11, thi sĩ tường thuật cuộc chiến đấu anh dũng của hai anh hùng Roland và Olivier, chống lại kẻ thù chung. Hai bạn chí thân giết được nhiều địch, nhưng hai người đều bị thương cả. Đặc biệt Olivier, máu chẩy nhiều, hoa cả mắt không nhận thấy gì nữa. Khi Roland lại gần để giúp bạn, Olivier tưởng nhầm là kẻ thù, bổ mấy nhát dao xuống, may không trúng đầu Roland. Anh này liền dịu dàng lên tiếng: “Tôi là Roland đấy mà. Sao anh đánh tôi?”. Olivier xin lỗi bạn: “Mắt tôi hoa, không nhận ra anh nữa”.

Khi châu Âu chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư sản, trong thế kỷ thứ 16, Rabelais kể chuyện Badebec, vợ của Gargantua, vừa sinh con xong thì từ trần: “Cái thắc mắc làm cho Gargantua rối trí là hắn không biết nên khóc vì vợ vừa chết, hay nên cười vì con vừa sinh”.

Đến cuối thế kỷ thứ XVIII, khi Cách mạng 1789 sắp bùng nổ, Figaro, một nhân vật của Beaumarchais, sau khi kiểm điểm tình hình của một xã hội đã thủ tiêu hết mọi tự do, kêu lên: “Tôi vội vàng cười khì để tránh khỏi khóc oà”. Như thế không đúng. Phải khóc trên cái hiện thời để đón cái ngày mai. Dù sao, người trí thức là người vừa khóc, vừa cười. Khóc vì các sai lầm phải chứng kiến trong hiện tại, cười vì vui với cái mới đang đến. Khóc vì đau khổ. Cười vì hy vọng. Khóc hôm nay để cười ngày mai. Trên quá trình từ cái khóc đến cái cười diễn cuộc đấu tranh tư tưởng của người trí thức.

Người nào chỉ biết hoặc khóc thôi, hoặc cười thôi, không phải là người trí thức.

Ta ân cần với người trí thức ưa khóc. Ta phải chiếu cố, nâng đỡ người ta. Người ấy đau khổ vì các thắc mắc căn bản và sâu sắc. Người ấy thành khẩn. Người ấy không phải là thù, người ấy là bạn. Ta phải kiên trì, cố gắng đưa cái khóc của người ta biến thành cái cười.

Ta dè dặt, có khi ngần ngại, trước người trí thức ham cười. Ta hoan nghênh cái cười chân thật, xuất phát từ đáy lòng, nẩy nở trên các giọt lệ vừa khô. Nhưng ta khó chịu trước cái cười bình phong dùng để che đậy các thắc mắc bản thân mà mình không muốn thù với mình. Ta ghét cái cười dùng để mị trên, lừa dưới, câu các kẻ ngây thơ, biểu lộ một ý chí tôn sùng, hòng củng cố một địa vị, hay mưu cầu một bổng lộc. Quần chúng cần đề cao cảnh giác để khỏi mắc mưu cái cười ấy. Cấp lãnh đạo lại cần cảnh giác hơn nữa vì cái cười nịnh hót nuôi dưỡng bệnh chủ quan mà cấp lãnh đạo thường mắc.

Cái cười nguy hại này không nhất thiết biểu hiện bằng sự nhích môi. Nó có thể là linh hồn của một cử chỉ, nội dung của một thái độ. Có người cười bằng cái đầu nó gật, cái lưỡi nó tán thành, ủng hộ. Trong bao nhiêu “tả khuynh”*, tôi nghe thấy vang tiếng cười ấy.

Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.

Tin vẫn hơn nghi. Trong mười người ta tin, có thể có một kẻ thù lẻn vào. Nhưng ta vẫn còn chín người bạn. Và chín người bạn này sẽ giúp ta tìm ra kẻ thù ấy. Nếu ta nghi cả mười người, khi ta giơ tay, chẳng ai bắt tay ta. Ta không có một người bạn nào cả.

Đồng ý rằng phải phân chia rõ rệt địch, ta. Nhưng ta phải xác định thái độ của ta đối với địch. Địch mưu hại ta và thực sự gây cho ta nhiều tổn thiệt. Nhưng ta chớ nên buộc cho nó trách nhiệm về các tai hoạ căn nguyên ở sự dốt nát, sai lầm, chủ quan của ta. Theo danh từ khá phổ biến, “như thế không lợi”. Không lợi vì ta đề cao địch, tỏ vẻ sợ địch. Không lợi nữa vì gán kết quả sai lầm của ta cho địch, ta không sửa chữa được gì, không rút được bài học kinh nghiệm. Từ trước tới nay, ta chỉ đặt vấn đề: ai là địch, ai là ta? Tôi đề nghị đặt thêm vấn đề: do địch làm, do ta phạm. Điểm trên đề cao cảnh giác và cho phép ta đề phòng, hoặc đối phó. Điểm dưới nêu cao tinh thần tự phê và giúp đỡ ta xây dựng.

Con thỏ sợ đến cả bóng của nó. Con sư tử bất chấp mọi thú vật. Ta không phải là sư tử và cũng không muốn là sư tử. Nhưng nhất định ta không phải là thỏ.

Kẻ thù số một của trí thức: bọn chụp mũ. Kẻ thù số một của cấp lãnh đạo: các cán bộ chuyên môn “cười”, và bọn vỗ ngực, và cả bọn chụp mũ nữa. Các cán bộ chuyên môn “cười”, dựa vào bọn vỗ ngực trong quần chúng, ru ngủ cấp lãnh đạo. Bọn chụp mũ nham hiểm hơn: họ gây thành kiến giữa lãnh đạo và quần chúng, họ vô tình hay hữu ý xuyên tạc các nguyện vọng chính đáng, các yêu cầu hợp tình, hợp lý, hợp pháp của quần chúng. Họ là Iago xúc xiểm Othello ghen vợ, ghét vợ, giết vợ. Bị bao vây chặt chẽ như vậy, tài nào cấp lãnh đạo hiểu biết được sự thật của quần chúng?

Có một số người thấy phong trào quần chúng đòi hỏi, ở Đảng lãnh đạo, một chính sách cho trí thức (với các tự do dân chủ và mối quan hệ tốt giữa chính trị và chuyên môn) đã tỏ thái độ “khó chịu” và phản ứng mạnh. Họ nhắm mắt, lắc đầu, chép miệng, thở dài. Không thực sự cầu thị, chưa điều tra nghiên cứu, chẳng tìm hiểu sự thật, họ chỉ biết mang đao to, búa lớn ra doạ nạt, họ là Don Quichotte cầm giáo tiến lên đâm cối xay, họ quên lý luận Cách mạng họ đã học tập. Họ là nàng công chúa quên thời kỳ gặp Thạch Sanh trong hang.

“Tích tịch tình tang…” Tiếng đàn của Thạch Sanh có nhắc lại được kỷ niệm cũ không? “Hỡi tuyệt thế giai nhân mà tôi yêu với mối tình vô hạn, nàng còn nhớ thuở đôi ta gặp nhau trong hang đá không? Đôi ta quyết sống chết có nhau, với nhau. Vì vậy ta thắng kẻ thù, ta sống. Bây giờ thời kỳ gian lao đã qua, nàng trở về dinh thự huy hoàng, lên xe xuống ngựa. Nàng lỡ lòng nào quên tình duyên cũ?”.

Tôi muốn thân ái hỏi các bạn đang chép miệng thở dài: “Các bạn là những người cách mạng. Thái độ của các bạn phản ứng, đối phó (tôi không nói đàn áp) trước một phong trào quần chúng đông đảo, đòi hỏi, trên lập trường cách mạng, những quyền lợi chân chính, thái độ ấy, phân tích, truy nguyên nó, ta thấy gì? Tôi run sợ trước kết luận tôi phải tiến tới. Tôi ngừng bút. Tôi nhường lời cho tất cả người cộng sản trên thế giới, trong đó có các đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, có các bạn, để các người ấy nhận định về thái độ nói trên, định danh cho nó, gọi nó bằng tên cách mạng của nó. Để tránh khỏi mang tiếng chụp mũ cho các bạn, tôi dành quyền phán định cho “giới có thẩm quyền”.

Tôi chỉ xin nhắc lại rằng trong lịch sử cách mạng Liên Xô và Trung Quốc, có khi giai đoạn kiến quốc tiến vào bước quyết liệt, chính thể cách mạng không thể nào lãnh nhãn được vấn đề trí thức. Cuộc đấu tranh của trí thức Việt Nam hiện thời xen vào khung khổ cách mạng, phối hợp với phong trào trí thức trên toàn thế giới. Coi nhẹ nó là một sai lầm. Giải quyết nó một cách hời hơt, nông cạn, với tinh thần của người nhớn cho kẹo trẻ con để nó khỏi khóc, là một sai lầm nghiêm trọng. Đối phó với nó, chống lại nó… tôi không tiếp tục vì tôi tin rằng không một chính thể cách mạng nào lại hành động như vậy. Bằng chứng là báo Nhân dân trong số 30-9-56 vừa đăng bài của đồng chí Lục Định Nhất đọc ngày 26-5-1956, với sự chậm trễ có 4 tháng thôi. Từ Bắc Kinh tới Hà Nội, đường dài hơn năm nghìn cây số, tốc độ của sự thật như thế là nhanh rồi. Còn báo cáo của đồng chí Chu Ân Lai in từ ngày 30-1-1956, tôi không nhớ đăng báo Nhân dân ngày nào. Dù sao, các bạn thấy rõ là, Đảng Lao động Việt Nam coi trọng vấn đề, như Trung Quốc từ đầu năm nay, như Liên Xô từ năm 1936. Đảng lại còn phát động tinh thần dân chủ trong quần chúng trong các giới, các cơ quan, và sở dĩ làm như vậy là để thắt chặt liên lạc với quần chúng, đi sát với sự thật của quần chúng, trưng cầu ý nguyện của quần chúng để xây dựng chính sách, lãnh đạo có kết quả. Vậy tại sao các bạn lại chép miệng thở dài? lại xuyên tạc ý nghĩa trọng đại, lịch sử của một phong trào quần chúng, mà chính Đảng phát động? Thế các bạn đấu tranh cho ai, phục vụ cái gì? Chủ trương của Đảng phát huy dân chủ là một sáng kiến mà toàn dân hoan nghênh. Hạt đã gieo, bây giờ sắp đến lúc gặt hái. Cớ sao các bạn lại muốn truất quyền của Đảng gặt hái cái mùa màng mà Đảng đã gieo hạt?

Nhưng tôi hiểu các bạn. Các bạn là những người tốt. Chẳng qua các bạn chỉ nặng về một số thành kiến mà thôi. Tuy nhiên, các bạn thật sự cầu thị: các bạn cho phép tôi tin như vậy. Phải không, các bạn? 4-10-56

In lần đầu trên Giai Phẩm mùa thu  – tập III

*Ghi chú của blogger: dưới chế độ CS, tả khuynh trong đoạn thứ 7 chỉ có nghĩa là khác với quan điểm chính thức của nà nước, một cách tổng quát hay một chính sách nào đó.  Tả khuynh, ngoài thế giới CS, thường được hiểu là chủ trương chống với xã hội cũ đầy bảo thủ. Tả khuynh hữu khuynh ra đời từ thời cách mạng Pháp 1789; những ngày kế cận cách mạng, tại các buổi nhóm họp, các Etats Generaux (tạm gọi là bô lão, thân hào nhân sĩ) chủ trương thay đổi, bình đẳng v.v… ngồi bên phía trái; bên phía phải chủ trương giữ nguyên chế độ quân chủ.


                            


Tuesday, December 5, 2017

saigon xưa mà nay nay mà xưa



Saigon nay mà xưa
ttt giới thiệu tập hình Saigon Cõi Nhớ

Bộ ảnh mang tên Saigon Cõi Nhớ qui tụ những nhà nhiếp ảnh tài tử và các diễn viên nam nữ cũng rất tài tử. Hai chữ tài từ (amateur) làm tôi tin tưởng vì những thứ nhà nghề mới và nhà nghề cũ muốn làm mới đều theo một thứ thẩm mỹ rất lọ, làm tuồng chẳng giống ai. Không kể yếu tố nhân sự, chính yếu là các chiếc xe thời Saigon xưa ăn khớp với vệ đường cổ kính uy nghi, dãy hàng rào sắt cùng bóng dáng kiến trúc thuộc địa và bán nhiệt đới. Nhóm sưu tập xe xưa cổ đã chạy trên đất Saigon, muốn dựng một số hình ảnh cũ của độ thị nầy. Đấy là một cố gắng vượt bực, tuy không thể so sánh với những vụ diễn lại (re-enactment) ví dụ cuộc di cư của người Mormon đến đóng chốt ở Utah.
Cao Cự Hậu, em ruột của nhạc sĩ Hoàng Nguyên (Ai lên xứ hoa đào) gởi cho tôi qua email với nhiều dấu forward. Alan Ladd ngày nào của trường Quốc Học không cho biết thêm xuất xứ; trên hình có ghi Kul.vn, tìm không ra, chỉ thấy tạp chí ảo Kul.vn rất tạp... nham.
Vài ghi chú kèm theo cho biết ông Nguyễn Thanh Bình là chủ nhân các bức hình, có thể đoán là người chủ trương. Chỉ có một kiều nữ được nêu tên Nguyễn Hồng Nga mặc chiếc áo dài của mẹ; hình chụp hai nường, không biết ai là ai. Còn có thêm một nàng với định danh là con gái của ông Trần Khắc Dũng. Nguyễn Thanh Bình được giới thiệu là "người Hà Nội, nhưng tình yêu và kiến thức về Sài Gòn của anh khiến nhiều người khâm phục".
Kiến thức về Saigon hay về từng bộ môn riêng rất hiếm. Đừng nói chi xa xôi, diễn viên hoạt cảnh Đống Đa mang giày Nike; diễn viên trong hoạt cảnh dân ca do một tòa đại sứ bảo trợ... mặc quần tây trắng bó sát chân cùng với áo the thâm.
Lại đi xa lông bông. Tôi thật phục sự nghiên cứu của điện ảnh xứ người. Chừng 2001, tôi làm việc "no tech" ở một college; trường cho mượn sân vận động để quay một trận football dùng cho cuốn phim về đội bóng Marquette bị máy bay rớt chết hết. Tình cờ tôi gặp một "nhân viên an ninh". Security guard chỉ đóng vai câm, đứng yên ở lối vào, đi theo ông bầu. Nhưng để được xuất hiện chốc lát, anh phải nạp tờ chứng đã làm security guard thực sự ba năm. Khán giả sẽ thấy một nhân viên an ninh không lúng túng trong đồng phục. Không như nữ luật sư Nguyễn Phước Đại chơi một bộ đồ bà ba và cái nón lá để làm cách mạng trông rất buồn cười. Dương Thu Hương đã tả nhóm người Hà Nội đưa qua Nga mừng Phạm Tuân lên vũ trụ, rón rén không quen với bộ côm lê, đầu lúc lắc vì cà vạt cấn cổ. Không trách người Thượng Pleiku chỉ mặc áo dài xanh theo đề nghị của Tòa Tỉnh nhưng vẫn đóng khố để được tự nhiên uống rượu cần lễ quốc khánh, để vẫn rất chi là thượng.
Vậy tìm đâu ra "người Saigon" kề vai tình quân mà đọc nhật báo Ngôn Luận? Thông thường nhất là xem lại hình ảnh cũ, xem các phim tài liệu. Các cô ắc phải xem lại ảnh của mẹ, bà nội, bà ngoại. Sống với những người Saigon trong cung cách, trong tâm tưởng. Tác giả Vũ Thế Thành đã nhắc đến những phụ nữ Hà Nội, trong phố nhỏ bán một chai nước lọc một cách rất Hà Nội, văn minh của một Hà Nội lịch thiệp, cử chỉ, ngôn ngữ và dáng dấp. Hãy nhìn những khuôn mặt cũ với dáng thiện tâm lành. Tâm lành ắc sẽ có dáng thiện. Hãy nhìn ảnh mẹ để nuôi dưỡng tâm lành bẩm sinh, những bà ngoan đạo như ăn như nuốt hình ảnh của Đức Mẹ, của Quán Thế Âm, chuyền qua dây rún đến các bào thai. Tâm chỉ nghĩ đến thiện thì hình bóng như đường Thốt Nốt. Đạo diễn Nguyễn Thanh Bình đã đạt gần đến mức mong cầu vừa nêu.
Đáng khen Nguyễn Quân đã không vì máu địa phương mà bỏ thêm vào hình những chiếc áo Le Mur đặc biệt của Hà Thành (Nguyễn Cát Tường). Ông đã trung thực không quên mẫu áo Raglan, một thời gây tiếng qua tiếng lại. Chiếc kiềng vàng tuy đã ít dùng vẫn không phải là chuyện không có; trái lại nó giúp thêm nét phong phú súc tích.
Nhưng điếu thuốc trên tay một người đẹp đang đọc báo trong quán là một điều gần như vắng bóng chứ không phải ít thấy như chiếc kiềng vàng. Phái nữ Saigon không hút thuốc, nhất là nơi công cộng, quán cafe v.v... dù vào thời thuốc Mỹ có đầu lọc rất thịnh hành như Salem bạc hà. Mà trong hình là điếu thuốc nâu. Quả tình hãng thuốc mít (MIC) có đưa ra thị trường loại thuốc Cig, vấn giấy màu nâu như màu lá thuốc vấn cigar, nhỏ và dài như cigarillo của Cuba, một thứ cigar nhỏ nhưng độ nặng như nhau. Cig cũng rất nặng mà thầy Lê Hữu Mục (vừa qua đời tháng 11- 2017) hay dùng vì nó nặng như Gaulois, Bastos và Melia. Cig không ăn khách nên đã ngưng sản xuất. Nhân viên ngoại giao Mỹ vài khi đem về thứ thuốc đen làm theo kiểu Nga tên Black Russian, nặng không kém cigarillo. Ít phụ nữ nào dùng nếu không muốn bộ răng đổi màu. Nói chung dư luận không đả động đến các bà gánh gồng miền Trung hút thuốc vấn tự trồng hay Cẩm Lệ; nhưng có khuynh hướng mạnh mẽ xem phụ nữ hút thuốc tây (thuốc điếu hình viên trụ) rất gần vườn ong bướm.
Điểm sắp nói chỉ để ghi nhận: vì gom ý trong một điểm chính, bộ ảnh đã không cho thấy thiếu nữ Saigon trong lối ăn mặc tây phương; áo đầm đã một thời gần như lấn lướt để rồi áo dài dành cho lễ lạc hay đồng phục Gia Long, Trưng Vương....


đồng phục vào thịnh thời xe Nhật, Honda, Suzuki...


Nhờ internet, chúng ta tìm được rất nhiều hình ảnh thực về Saigon nói chung và về các nàng nói riêng. Bộ ảnh đang đề cập mang tính chất nghệ thuật, mà nghệ thuật hội họa cho chúng ta nhiều bức chân dung của một người. Những bức nầy không giúp ích cảnh sát nhiều bằng photo trong mục đích nhận diện nhưng khơi bày những nét thuộc chiều sâu, điều cảnh sát không cần. Dùng sự tương tự (anology) nầy hơi gượng ép; hình cũ và hình tái tạo không song hành rõ rệt như hội họa và nhiếp ảnh. Nhưng mượn để nói rằng Saigon Cõi Nhớ chính là phát ngôn viên của niềm hoan lạc, của một euphorie, của một Bồng Lai quấn quít nguôi ngoai đắm đuối miệt mài trong lòng người. Sử tính, nếu có, không quan trọng.

Sử tính không quan trọng nên người xem không bận tâm với vài thắc mắc nhỏ. Tôi không đủ trí nhớ mà nói dinh thự màu trắng làm nền là gì, nhưng quanh đường Nguyễn Trung Trực chỉ có Dinh Độc Lập, Dinh Gia Long và Tòa Đô Chánh. Đường bao quanh không ai được phép đậu xe hay chống chân những chiếc Vespa cho nó nghỉ mà đi với người thương dưới những cây me xanh. Lại nữa, cái bản số xe, tôi rất dè dặc nhé, chỉ nhớ xưa kia các bản số gồm ba chữ cái bên trên và ba con số bên dưới. Chủ nhân tìm mọi cách cho được "chín nút" ví như 333, 171, 252; lúc ấy VN mình chưa có lệ làm bản số theo ý muốn như Mỹ. Bản xe Mercedes VN 19-62 đúng là của phủ thủ tướng.
Tiếp nhận chân phương như thế, tôi lại lo âu: thành công nầy sẽ kéo theo một loạt bắt chước như khỉ làm trò. Thẩm mỹ lọ sẽ phát nát hết, Saigon đích thực sẽ bị biến thành Saigon để gọi một thành phố ngập nước, khác với HCM City.

Tôi buộc miệng nói với bà xã đang ở trong bếp câu sấm Đức Thầy: Gia Định còn Saigon mất. Nhà tôi nói về bộ sưu tập: tuy không dùng kính hiển vi soi từng tí một, công trình nầy đã đạt mức 80%. Tôi không theo con số phần trăm. Thấy tôi chảy nước mắt, nhà tôi an ủi: lu nước ngọt để trong nhà, trộm vô lấy hết của, đập bể lu làm vui; nước đã đổ, người nhà vục lại mà được ngần ấy; quí lắm thay. Thôi, hãy ngậm ngùi và vui mừng thưởng ngoạn, với lòng tri ân. ttt

Saigon Cõi Nhớ
Bộ ảnh "Sài Gòn, cõi nhớ" được những người yêu Sài Gòn tái hiện một cách rất chân thật. Tuy những bức ảnh không được chụp bởi nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, nhưng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và kiến thức về Sài Gòn xưa, người xem dễ dàng nhớ lại một thời hoa lệ của thành phố này.

Công trình được chuẩn bị rất công phu, từ trang phục đến phương tiện đều được chọn lựa kỹ càng cho phù hợp với bối cảnh.


Thành công của bộ ảnh nằm ở những chiếc áo dài mang dấu tích những năm 70


Kết hợp áo dài xưa và xe cổ khiến bộ ảnh trở nên chân thực


Bạn sẽ ngỡ ngàng khi nhận ra những bức ảnh chụp năm 2017


Những mảng màu xưa cũ đã được tái hiện thành công nhờ sự tham gia của những cô gái thời nay nhưng đam mê tà áo dài xưa."Sài Gòn, cõi nhớ" là ý tưởng của những người trong hội chơi xe cổ Sài Gòn. Trong một buổi gặp gỡ thường niên của hội, ý tưởng tái hiện lại một Sài Gòn xưa qua ảnh đã được đồng thanh châp thuận. Tức thì những người tham dự tự chuẩn bị trang phục, xe xưa, để chỉ mười ngày mà thôi, đến một sáng cuối tuần, hoàn thành dự án cho thỏa lòng háo hức và nhận biết ý nghĩa của sự tận tâm.




Nét đẹp của những cô gái Sài Gòn xưa

Góc đường Nguyễn Trung Trực khi lên ảnh vẫn giữ được nét đẹp của Sài Gòn






Những chiếc xe xưa do hội viên mang tới.







Góp phần thành công cho bộ ảnh, chính là sự am tường về Sài Gòn thời xưa, cũng như tâm huyết khi dành nhiều thời gian để tìm kiếm trang phục. Hội viên chính là những nhiếp ảnh gia và "tài tử" không chuyên nghiệp.
Con gái của anh Trần Khắc Dũng
Chị Nguyễn Hồng Nga trong tà áo dài của mẹ. Anh Nguyễn Thanh Bình (1957) là một thành viên trong dự án "Sài Gòn, cõi nhớ". Tuy là người Hà Nội, nhưng tình yêu và kiến thức về Sài Gòn của anh khiến nhiều người khâm phục. Vốn là người thích phiêu lưu khám phá, đặc biệt là thú chơi xe cổ và nhiếp ảnh ăn sâu vào máu, anh đã rất hào hứng tham gia vào dự án "Sài Gòn, cõi nhớ".
Anh Nguyễn Thanh Bình chủ nhân của những bức hình nói: "Tuy anh em tham gia dự án đều là những tay máy không chuyên nghiệp, người mẫu cũng không phải chuyên nghiệp, nhưng với sự am hiểu Sài Gòn, nên ai cũng cố gắng hoàn thiện bộ ảnh. Dẫu cho sau khi hoàn thành, bộ ảnh còn nhiều thứ chưa hoàn thiện, nhưng anh em đã rất hào hứng với thành công này."
Bộ ảnh giúp những người trẻ chúng ta phần nào hiểu thêm về nét đẹp của Sài Gòn xưa, và nếu bạn là một người từng sống ở Sài Gòn qua thời hoàng kim, chắc chắn ít nhiều bạn sẽ tìm thấy lại một thời đã qua.









Sunday, December 3, 2017

còn nhớ Sàigòn không?


còn nhớ Sàigòn không?
Duyên Anh
Còn nhớ Sàigòn không? Thành phố tóc gẫy chia ly, thành phố mắt mờ giã biệt một cuối tháng tư lạc tay thù. Còn nhớ Sàigòn không? Những tháng nhung xanh cũ, những ngày lụa đào xưa, thành phố ấy, Sàigòn yêu dấu, mặt trời thắp sáng ước mơ, ánh trăng soi rõ kỷ niệm. Mỗi vỉa hè là một giải chiêm bao. Mỗi đoạn đường là một cơn hạnh phúc. Đã thấm niềm tưởng tiếc rồi đó, sau mười năm lưu lạc. Có chỗ nào tuyệt diệu hơn Sàigòn? Thành phố ấm quanh năm. Thành phố lá tương tư nhạc gió. Những đêm mưa, bụi khói khóc hư vô. Cổ tích ướp hơi thơ. Tình ái ngát hương thu nghìn cũ. Sàigòn dệt thơ làm nắng. Giữa tim hạ đã là xuân lãng đãng huyền thoại trong lối lụa Tú Xương, trên nền gấm Huyền Trân. Chỉ cần một câu vọng cổ, đã xao xuyến hồn già. Chỉ cần bước chân giao mùa, đã xanh mắt trẻ thơ, hồng môi thiếu nữ. Ơi thiếu nữ Sàigòn, những cô gái áo dài tha thướt phố phường, những cô gái áo ngắn gọn gàng công xưởng, những cô gái đồng phục nhịp nhàng trên đường xây dựng và bảo vệ quê hương, những cô gái Việt rộn ràng tiếng trống Mê Linh, miệt mài vó ngựa Bùi thị Xuân.
Vó ngựa lại một phen tung bụi mịt mù đất nước. Chiến tranh xâm lăng từ phương Bắc tràn xuống. Như tất cả tuổi trẻ thành phố, nông thôn, những chàng trai Sàigòn xếp bút nghiên theo việc đao cung, tạm biệt phồn hoa để dấn thân bảo vệ non sông. Mỗi tấc đất quê hương ông cha gửi lại đều ký thác bằng mồ hôi, nước mắt và máu. Thì chiến đấu giành lại từng tấc đất lọt vào tay quân thù cũng phải đổ mồ hôi, nước mắt và máu. Tuổi trẻ Việt Nam đã kiêu hùng, vẫn kiêu hùng, mãi mãi kiêu hùng. Sự kiêu hùng ấy đã làm nên những chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa…lại làm nên những chiến thắng Bình Long, Kontum, Quảng Trị… Tuổi trẻ Sàigòn đã vinh dự đóng góp xương máu cho những trang sử đấu tranh của giống nòi.

                               
Trái tim dân tộc đã nhiều lần rạn nứt phân chia đòi đoạn. Hôm nay, thêm lần nữa, trái tim dân tộc rướm máu. Những sợi máu vương đây đó. Trên nỗi đau. Trên niềm nhớ. Niềm nhớ có tên và niềm nhớ không tên. Sàigòn là một niềm nhớ không tên. Có nhớ Sàigòn không? Có nhớ niềm nhớ không tên, niềm nhớ ray rứt, niềm nhớ gặm nhắm thớ thịt ta từng phút, từng giây. Có nhớ cổng trường xưa anh chờ đón em về chiều thu muộn? Có nhớ con đường cũ lá me mưa xanh mướt ái ân? Sàigòn, niềm nhớ nhung trên những vệt sọn môi, trong ánh mắt và trong hơi thở. Sàigòn, niềm nhớ nhung trong hạnh phúc và trong đau khổ. Ở tuổi non và ở tuổi già. Ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua. Ở hôm nay ta sống và ngày mai ta chết. Ở nghìn dặm kẻ chân mây mù mịt. Ở tấc gang người cuối phố đầu phường. Ở sớm công viên ngọn cỏ ngậm sương. Ở chiều bùng binh đèn mầu phố sắc.

Từ một niềm nhớ không tên, Sàigòn đã thành nỗi đau có tên. Hãy hình tưởng, Sàigòn, người tình chung của ta, lạc vào tay thù. Hoa lạc tay thù có ố gương? Khi manh áo của loài chồn tinh phủ lên tên Sàigòn, thành phố của ta bị lột da. Như chính ta bị lột da vậy. Và đó là nỗi đau mưng mủ trong mỗi trái tim chúng ta. Những con đường hoa mộng cũ, bây giờ, hằn lên những thù hận, thống khổ, thê lương, ngậm ngùi. Nụ cười hôm qua là giọt lệ hôm nay. Hy vọng hôm qua là tuyệt vọng hôm nay. Đời sống đầy rẫy những đe dọa ban ngày, những hãi hùng ban đêm. “Nếu cột đèn biết đi, cột đèn sẽ vượt biển tìm tự do”. Ai đã nói giùm tâm sự cột đèn Sàigòn? Dân tộc Việt Nam hiền hòa và luôn luôn bất hạnh, nào ngờ, sau một đổi đời nghiệt ngã, lại hóa ra thuyền nhân khốn khổ lênh đênh trên mặt đại dương chập chùng hệ lụy. Đất đưa người ra biển. Biển dẫn người về đâu? Về đâu và sẽ ra sao tháng năm biệt xứ xanh xao phiền muộn. Đất đưa người ra biển nhưng đất không chia xẻ với người thảm cảnh phiêu lưu. Biển dẫn người về đâu, dẫn về đâu, biển cũng chẳng hiểu nổi sự đói khát, niềm sợ hãi của người ra khơi. Thế đó, nhân loại có từ nỗi đau rõ rệt tên tuổi của chúng ta một danh từ nạm vàng tủi nhục: Thuyền nhân.

Bỏ quê hương ra đi, để lại Sàigòn héo hắt trong tay thù. Còn nhớ Sàigòn không? Nghĩ gì về Sàigòn bây giờ? Sàigòn bây giờ ra sao? Đừng hỏi mưa, hỏi nắng. Mưa và nắng cũng buồn bã trốn khỏi thành phố rồi. Hãy hỏi mẹ lang thang góc phố. Hãy hỏi cha thất thểu đầu đường. Hãy hỏi chị ngồi lê chợ trời. Hãy hỏi em chầu chực bán máu đỏ đong gạo đen. Son phấn hoàng hôn những vỉa hè cơm áo. Nước mắt đêm khuya những cay đắng phận người. Sàigòn bây giờ như vậy. Đến vỏ cây già cũng bị lột đến ngọn cao. Đến muông thú Bách Thảo cũng gầy mòn, chết đói. Vẻ kiêu sa dĩ vãng là bệ rạc hiện tại. Bàn tay ngọc thiếu nữ Sàigòn đã kềnh càng ghẻ lở vì nước phèn thủy lợi cưỡng bức. Đôi mắt xanh em nhỏ đã trắng rã vì khoai sắn triền miên. Sàigòn ra đường không áo dài. Sàigòn ra đường không cười nói, líu lo. Cúi xuống là ngục tù, trại tập trung. Nhìn lên là công an độc ác. Thời tiết Sàigòn bây giờ ngậm đầy khắc khoải. Không khí Sàigòn bây giờ dằng dặc ngậm ngùi. Sàigòn bây giờ ở trong nhà với những phiền muộn, thở dài, với những giọt nước mắt âm thầm nhỏ xuống miếng đời buồn tênh, ngao ngán.

Nhưng có phải xa Sàigòn là lên thiên đàng hạnh phúc không? Hãy hình tưởng trùng dương nổi giận vô duyên cớ nuốt gọn thuyền nhân. Hãy hình tưởng sóng gió phũ phàng vùi dập thuyền nhân. Hãy hình tưởng hải tặc tàn bạo cưỡng hiếp, giết chóc thuyền nhân. Và, sau chót, hãy nhìn thật lâu, thật kỹ ngày tháng chờ đợi phát chẩn ân huệ định cư ở các trại tỵ nạn, gọi là “quán trọ trước cổng thiên đường”. Hãy nhìn rõ ràng những bước chân em bé lên ba, lên năm, trên cát bỏng oan khiên quê người. Rồi sẽ hiểu tại sao “Tôi biết tôi sẽ buồn”. Chừng đó lòng hoài hương bừng bừng sống dậy, thuyền nhân ao ước một ngày về cùng Sàigòn gấm vóc ngày xưa.
 
Đâu riêng gì Sàigòn phá sản hôm nay. Quê hương ta, khắp nơi, đều bị phá sản, của cải và tình nghĩa, từ lá cờ hừng hực máu thù hận tanh hôi ngạo nghễ tung bay. Hà Nội đã rạc rài hơn ba chục năm rồi. Thiên đàng của đám người ảo tưởng và phản bội chỉ là thứ thiên đàng bánh vẽ Xã Hội Chủ Nghĩa bước giật lùi. Không còn ai chết đói mà chỉ còn những ai đói rách triền miên. Đất nghìn năm văn vật, người sống bằng tiêu chuẩn vật, vật và người đồng hóa, vật và người chung một tâm sự và bị bóc lột như nhau. Những kẻ khố rách đi giải phóng những kẻ áo lành. Rốt cuộc, Sàigòn tăm tối, đoạ đầy, thê thảm ngang hàng Hà Nội. Hãy quan sát Hà Nội, thủ đô của “phẩm cách con người”, “đỉnh cao trí tuệ và tiến bộ”. Hãy tìm cho Hà Nội một định nghĩa chính xác về hạnh phúc. Vậy đó, những hình ảnh sống động và đích thực của Hà Nội và đang của Sàigòn dưới mầu cờ kiêu ngạo ngu xuẩn và sắt máu căm hờn. Vinh hoa của Sàigòn đã bị đẩy ra vỉa hè. Người mẹ ngồi cau mày trong nắng sớm. Người cha đứng nhăn nhó dưới mưa chiều. Gửi gì về cho Sàigòn? Một an ủi, một mơ ước hay một hứa hẹn? Thành phố, cây cỏ, nắng mưa, chim muông, người vật, vỉa hè, góc quán, gửi gì về? Gửi gì về?

Gửi gì về cho vừa đủ một quê hương bỏ lại, một quê hương chất ngất sầu đau? Gửi gì về cho ruộng đồng bát ngát, cho sông nước mênh mông? Gửi gì về cho con kinh mới đào, cho con lạch vừa khơi? Gửi gì về cho bờ xa, cho bãi rộng? Gửi gì về cho đồi thấp, cho núi cao? Gửi gì về cho rừng sâu, cho biển thẳm. Gửi gì về cho lúa vào sữa, cho heo may giải đồng? Gửi gì về cho hoa bưởi, hoa cau? Gửi gì về cho sầu riêng, măng cụt? Gửi gì về cho câu hò lan tỏa, cho điệu ru ấm nồng? Gửi gì về cho đường thơm tình tự, cho ngói đình ái ân, cho nhịp cầu thương nhớ? Gửi gì về? Gửi gì về? ôi quê hương, chỉ khi khuất xa gần như vĩnh biệt, ta mới biết tương tư mùi rơm mới, mùi khói đốt đồng, mùi hoa hèn, mùi cỏ dại. Và ta mới thấy cái đơn giản nhất, cái bình thường nhất đều đã bùi ngùi nhất trên khói sóng hoàng hôn. Không có nơi nào đẹp hơn quê hương ta. Gửi gì về? Cho gửi một mơ ước trở lại.

                                 

Mơ ước trở lại thắp sáng hồi tưởng. Và bằng hồi tưởng ta về với quê hương ta. Vùng biển ta đó. Từ cao nhìn xuống. Nha Trang cát trắng với cầu Bóng huyền thoại. Rừng đồi ta đó. Đà Lạt nên thơ. Này hồ Than Thở. Nọ rừng Ái Ân. Ta vào trường Võ Bị tìm lại dấu chân cũ, hình bóng xưa của những chàng trai “vốn giòng hào kiệt”. Những chàng trai ấy, bây giờ, ở đâu. Hẳn nhiên, nhiều người đã “áo bào thay chiếu anh về đất”, về tận lòng đất Việt Nam. Để Việt Nam ngạo nghễ muôn đời Nhiều người đã ra đi, mang theo tâm sự Đặng Dung, chỉ mong sớm về giải thoát non sông kẻo chết già. Ta rời trường Võ Bị Quốc Gia sang trường Yersin chứa chan kỷ niệm. Ngôi trường còn đó, buồn bã với cảnh ngộ đổi lốt thay tên. Ngôi trường tự nhiên mơ mộng, một ngày nào, học trò cũ về làm xôn xao dĩ vãng. Hồi tưởng cho ta đôi cánh tự do bay. Một thoáng vỗ của hồi tưởng, ta đã ra công trường Hòa Bình của Đà Lạt mờ cao. Rồi ta lại bay qua đồi, vào thăm viện Đại Học Đà Lạt kiếm chút an ủi hiện tại hiu hắt. Và ta về, ta về cùng nắng ấm Sàigòn. Con đò đưa khách sang Thủ Thiêm. Cột cờ Thủ Ngữ khóc thầm vì vắng bóng lá cờ vàng sọc đỏ thân yêu. Bến Bạch Đằng đó. Phố Tự Do kia. Tiếng còi tầu nào réo gọi chuyện viễn du. Đợt sóng nào nhắc nhở vạt hoàng hôn sông khói. Ôi, Sàigòn, một miếng Sàigòn thôi, đã đủ lòng ta ấm áp phương xa. Tưởng chừng hồn ta đang là đà trên Sàigòn. Hồn ta là phố phường cũ, là dinh thự xưa. Tự nhiên, ta muốn thầm thì với Sàigòn: “Em, Sàigòn ra sao? Còn nguyên màu áo, còn nuôi chiêm bao, còn chờ đợi nhau? Em, đường thương lối nhớ, cỏ cây quá khứ, nhạc chim lời gió, nước mắt mây mưa, đã mất gì chưa”? Đừng, đừng mất gì cả, bởi vì ta vẫn mơ một ngày về.

Hưng vong là luật chung của muôn đời. Dâu biển đã xẩy ra cho cả tư tưởng, nói chi một triều đại, một chế độ hay một chủ nghĩa. Một thi sĩ đã định nghĩa cái không bao giờ có dâu biển, không bao giờ chết:
                Ai cũng chết cả rồi
                Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam.
Một thi sĩ khác định nghĩa thêm cái không bao giờ mất:
                Me ơi, tha thiết lắm rồi
                Mất gì không mất tình người Việt Nam.

Người Việt Nam vĩnh viễn. Tình Việt Nam vĩnh cửu. Đã không mất con người thì không bao giờ mất quê hương. Và những kỷ niệm thuộc về quê hương cũng không mất. Còn đó, Sàigòn với Nhà Thờ Đức Bà, với Thảo Cầm Viên, với Bảo Tàng Viện, với Lăng Ông Bà Chiểu. Còn đó, Huế với bầy phượng vĩ đỏ ối mùa hè rắc rơi sắc máu trên lối Huế cổ kính, thầm lặng. Còn đó, Huế với lăng tẩm, điện đài. Còn đó, Huế với “dấu xưa xe ngựa” với “nền cũ lâu đài”. Còn đó, linh hồn tiền nhân bảng lảng trên lớp rêu phong, trên những thềm bậc vang bóng một thời. Hỡi tiền nhân bất hủ, có phải người không chết, người chỉ Tĩnh Tâm dưới hồ sen. Và ý nghĩa sống của người vẫn vàng thắm nhụy sen, vẫn thơm ngát hoa sen. Ta thèm rung một hồi chuông Thiên Mụ gọi về những xao xuyến Huế ở mỗi hàng cây, mỗi viên gạch, mỗi bờ tường, mỗi mái ngói, mỗi vạc đỉnh, mỗi hoa lăn của một triều đại đã khuất lấp ngậm ngùi. Còn đó, Huế với sông Hương núi Ngự, với cầu Trường Tiền, cầu Bạch Hổ. Còn đó, Huế với những lá đò dìu nhẹ trên mặt nước bình yên. Còn đó, Huế với giòng An Cựu “nắng đục mưa trong” và những con thuyền đêm đêm chở đầy trăng xuôi về Vĩ Dạ.
Sao em không về thăm thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá. xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió mây đường mây
Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có mặn mà

Còn đó, Huế, còn nguyên đó, bờ sông với những cô nàng giặt chiếu, với những nụ cười thật đẹp, thật thơ. Còn đó sân trường Đồng Khánh bướm trắng tung bay. Còn đó cổng Viện Đại Học giấc mơ xanh thắm. Còn đó, còn nguyên đó, khi ta về. Còn đó, Hà Nội với hồ Tây, hồ Trúc Bạch, với con đường Cổ Ngư thơ mộng thuở học trò. Còn đó đền Quan Thánh. Còn đó đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, hồ Gươm, tháp Rùa. Còn đó khu Giảng Võ Văn Miếu, chùa Một Cột. Còn đó 36 phố phường.
Còn quê hương Việt Nam. Còn nguyên vẹn. Nếu ta đừng quên và đừng bao giờ đánh mất tình người Việt Nam, dù đi đến cuối đường oan biệt xứ. Mãi mãi Việt Nam. Mãi mãi Việt Nam.

Ngô Thụy Miên

Ngọc Lan