add this

Monday, April 16, 2018

thơ thylanthảo

Image result for evacuation from Highland vietnam
cao nguyên di tản

nhìn lịch… tháng tư
thylantho

Ngày ny mt thu c im gió
Áo tr
n giày saut thân xác xơ
Ta v
l thm tươi máu đ
Đ
ường 7B, t l khó ng

      KonTum chi
ến tích còn nguyên đó
      Núi Ch
ư Pao Thiết Giáp kiêu hùng
      Tây Nguyên sao n
nào đành b
      Dân lính đau th
ương, bước đường cùng. 

Hàng ngàn ng
ười bước dài vô tn
Khúc đuôi còn k
t ti Pleiku
Sông Ba sóng n
ước trường giang chn
R
ng núi sơn khê kín gic thù…

      Dân ch
ết ng đè lên xác lính
      N
ước đp Đng Cam ng sc hng
      Đàn bà con tr
cùng chung phn
      Tr
i đt xa xôi cũng xót lòng …

Bé yêu
ơi mi ln anh k
Em ng
i đ mt lng tai nghe
Sinh m
ng con người như giun dế
L
i bước phương Nam rt khó v

      Em khuyên anh hãy quên chuy
n cũ
      Tu
i bây gi, anh nh làm gì
      Bu
n đau tiếc hn chi thêm kh
      B
ước cui đi anh hãy vui đi! 

Em yêu
ơi hàng năm nhìn lch
Th
y xót lòng nh li Tháng Tư
Chi
ến sĩ Cng Hòa không hèn yếu
Sao l
i buông gươm trước gic thù…

      Có em anh th
y đi đáng sng
      B
t mun phin nh chuyn ngày xưa
      Tình em cho, ng
như là mng
      Đ
ường anh đang bước, tnh giông mưa! (9-4-18)


          

Thursday, April 12, 2018

đêm di tản theo bờ sông Ba

pvp
Tướng Phạm Văn Phú, tự sát khi Cao Nguyên thất thủ


    Tôi còn nghe bàn tán xôn xao đâu đó là: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có kế hoạch Di Tản Chiến Thuật ra khỏi Cao Nguyên, nên chúng ta bình tĩnh chờ đợi...!"

Trực thăng nhấc mình lên một cách khó nhọc; bên dưới một người phụ nữ đeo tòn ten dưới càng! Khi lấy độ cao lướt qua lùm cây bên kia sông cũng là lúc người phụ nữ buông tay rơi tự do xuống đám rừng!

                 Tỉnh trưởng: Tình hình KonTum vẫn yên tĩnh, chúng ta được tăng cường một Liên Đoàn BĐQ...

đêm bên bờ sông Ba

Trang Y H

Buổi họp cuối cùng!
Ra khỏi tòa hành chánh tỉnh KonTum vào lúc 4 giờ chiều ngày 15 tháng 3 năm 1975. Bên tai tôi vẫn còn nghe văng vẳng lời nói của ông tỉnh trưởng: " Tình hình KonTum vẫn yên tĩnh, chúng ta được tăng cường thêm một Liên Đoàn BĐQ...!" Thành phần tham dự gồm các phòng, ban Tiểu Khu và các đơn vị hành chánh. Mặc dù nghe lời ông tỉnh truởng nói như vậy… khi ra về chúng tôi nhìn nhau không dấu nỗi sự lo âu vu vơ nào đó hiện trên khuôn mặt mỗi người!     Bầu trời KonTum hôm nay toàn màu mây xám yên ắm một cách lạ thường, trông ảm đạm như những ngày mùa hè đỏ lửa cách đây ba năm! Không nghe tiếng máy bay, tiếng đại bác như mọi ngày. Tôi chạy xe ra phi trường đường băng im lìm không có chiếc máy bay nào nằm ở đấy. Người lính gác cổng bồng súng đứng tư lự mắt nhìn về cuối sân bay - nơi đó có vườn "Paradise"! Tôi vòng xe chạy ra đường Nguyễn Huệ ngang qua ngôi nhà Thờ Gỗ thấy cửa đóng im ỉm; tiếp tục chạy ra cầu DakbLa quay qua trường trung học Hoàng Đạo. Phố đã lên đèn, "Chiêu Anh Quán" cuối đường Lê Thánh Tôn dân nhậu lưa thưa. Tôi buồn bã trở về đơn vị!      
6 giờ sáng ngày 16 tháng 3 năm 1975. Người chỉ huy chạy đến cho tôi biết rằng “Tất cả bỏ KonTum đi trong đêm các cây xăng không còn một giọt xăng nào! Anh em tự lo liệu..."! Ông chở tôi về nhà đón vợ con ông, rồi tức tốc chạy ra khỏi tỉnh. Khi xe chạy qua cầu DakbLa tôi quay đầu nhìn lại KonTum lần cuối. Dòng sông DakbLa hiền hòa êm ả với những đám bắp xanh tươi dọc theo bờ sông Phương Hòa - Phương Qúy- đôi mắt tôi cay xè và lòng tôi nặng triũ! (Mặc dù tôi không còn người thân - năm 1972 đã được di tản về làng tạm cư Long Thành, sau đó định cư ở Long Khánh). Phố núi thơ mộng nầy - nơi tôi đã chôn chặt một thời tuổi nhỏ với biết bao thương nhớ: bạn học ngày xưa; bạn chiến đấu và những kỷ niệm tình yêu một thời gắn chặt trong suốt quãng thời gian hai mươi năm! 
    
Pleiku im lìm như một thành phố ma! Nghe nói Bộ chỉ huy quân đoàn rời bỏ Pleiku lúc 9 giờ đêm hôm trước. Nhìn về hướng phi trường Cù Hanh những cột khói bốc cao và những tiếng nổ... hình như không phải tiếng pháo kích của cộng quân - tôi nghĩ vậy...Xe chúng tôi chạy vòng qua rạp hát và rẽ về hướng Phú Bổn, vì chúng tôi đã biết đường QL 19 đã bị chặn mấy tuần lễ trước. Đến Phú Bổn tôi thấy một người Mỹ, có lẽ là cố vấn cùng với những người lính VNCH bên cạnh chiếc trực thăng, họ nói chuyện vui vẻ! Tôi cứ tưởng rằng nơi đây vẫn còn yên tỉnh... Chúng tôi chạy quanh co một lúc là bắt kịp đoàn quân, dân di tản ùn ùn kéo nhau qua đèo. 

Tôi không biết đèo nầy tên gì, chúng tôi vượt đèo nhanh vì xe nhỏ. Qua khỏi đèo chừng 3 hay 4 cây số, tôi thấy địa hình bằng phẳng, chỉ có cỏ tranh và những lùm cây thấp; không thấy hình dạng con đuờng 7B như thế nào! Nhìn ra xa những dãy núi cao nhấp nhô tít tắp chân trời. Hồi còn học sinh tôi nghe thầy giáo giảng về địa lý: "Ở Tuy Hòa có đập nước Đồng Cam do Người Pháp xây dựng đồng thời mở con đường cũng từ Tuy Hòa- Đồng Cam- Cheo Reo, (bây giờ là Tỉnh Phú Bổn) đến PleiKu". Con đường 7B từ năm 1954 đến 1975 không còn sử dụng. Bỏ bê lâu ngày mưa núi xói mòn, cây rừng mọc kín làm mất dạng, những đoạn còn lại thì đá dăm lởm chởm cỏ, gai mọc xen lẫn lúc thấy lúc không nên rất khó đi. Trong khi đó đoàn xe công binh, xe quân đội lớn nhỏ và xe dân chở người, chở vật dụng ước chừng hơn cả ngàn chiếc chưa kể xe Honda gắn máy. Xe lính đi trước, xe dân theo sau chen lấn dàn hàng ngang chạy tìm dấu vết đường cũ mà tiến tới, bóp kèn tin tin, inh ỏi, tạo ra cảnh nghẽn đường chưa từng thấy dưới ánh nắng chói chang của những ngày đầu mùa hè. Mọi người bơ phờ, sợ hãi... người già, phụ nữ, trẻ em - đói, khát kêu khóc!      Nghẽn đường - nhích từng chút, từng chút..., có khi chạy vài trăm mét lại ngừng - một phần thì... lo âu không biết cộng quân có rượt theo hay ra chận đường! Còn nếu có pháo kích thì coi như chết tập thể...! Xe nào hết xăng thì bỏ xe xin quá giang xe khác. Tôi cũng ở trong tình trạng đó...Xe nổ máy nhiều lần hết bình ắc-quy, nếu còn xăng thì hút ra... bán - rồi  bỏ xe. Không đi nhờ xe khác được thì đi bộ. Những cây cầu sắt bắc qua các con suối lâu ngày ván gỗ mục hết còn lại khung sắt hoen rỉ... người đi bộ vin thành cầu đi qua, còn xe thì tìm những chỗ thấp, cũng may bây giờ không phải là mùa mưa. Những chiếc xe Honda- Vespa - Suzuki -Yamaha len lỏi chạy trước, đến khi hết xăng thì chỉ còn cách đẩy nó xuống khe núi! Hàng trăm, hàng ngàn chiếc cứ thế mà vứt - không thương tiếc, mới thấy thấm thía câu nói Bỏ của lấy người! mà không biết có thoát được không? Khi phía trước là núi cao, con đường 7B ở trong mơ, còn phía sau cộng quân sẽ đuổi kịp và tàn sát bất cứ lúc nào! Cũng có người quay ngược trở lại. Nhưng không ai khuyên ai một lời nào. Lý do tại sao trở lại.     

Gần đến Củng Sơn rừng rậm và đèo dốc nhiều. Xe quân đội chạy nhanh bỏ xa xe dân, nhưng bù lại là có đường mòn dễ đi và cứ thế chạy theo. Khi đến một cái dốc cao dài khoảng chừng 100 mét phía bên dưới là thung lũng cây rừng rậm rạp. Xe đi nhiều nên tạo ra một lớp bột đất mịn bụi bay mù trời...Tài xế chạy xe xuống trước còn người thì mặc quần áo nhiều vào rồi lăn hay tuột xuống...cũng có trầy xước nhưng không đến nổi bị thương. Nhìn cảnh nầy tôi nhớ khi đọc Tam Quốc Chí đoạn: " Đặng Ngãi dẫn quân đi đường tắc qua ngã Âm Bình vào đất Ba Thục tiêu diệt ấu chúa Lưu Thiện". Xe chạy cứ chạy còn những người đi bộ ghé vào Củng Sơn tìm mua thức ăn.


************************************************

thieu 

Nguyễn Văn Thiệu: từ ba không đến ba có, tổng tư lệnh mà không biết rút quan ngã nào, tham mưu trưởng Đồng Văn Khuyên, anh của tướng VC Đồng Văn Cống, không ra khỏi phòng lạnh. Ông Thiệu ra lệnh giữ tuyệt đối mật lệnh rút quân. Tướng Phú hỏi: dân và gia đình binh sĩ thì sao? Ông Thiệu trả lời giao cho VC. Tháng sau, chuẫn bị ra đi ông cỏn nói đồng bào hãy tin tường trung tướng Thiệu còn tổng thống Thiệu không cần thiết cho sự an toàn. Mâu Thân, VC đã đánh vào Chợ Lớn, ông không hay biết và ăn Tết ở nhà vợ tại Mỹ Tho. Saigon không ai trông coi, ông Loan ra tay chỉ huy thì ông Thiệu nghi đảo chánh, cho người đi coi hư thực mới về Saigon.


***************************************************************************
Tôi cũng đi theo họ. Đến nơi đã có một số người đến trước. Họ mua gà nấu cháo. Gọi là "Tiểu Khu" nhưng chỉ có vài con đường, nhà cửa lụp xụp như ở miền thôn quê. Được biết từ lâu Củng Sơn bị tách biệt với Tuy Hòa vì đường bộ cộng quân hay chặng đường và cầu cống bị đánh sập...Tôi thấy người dân ở đây chẳng quan tâm gì về chuyện tại sao chúng tôi đến đây, họ vẫn làm việc hằng ngày của họ, tôi thấy họ phơi bánh tráng. Tôi đi lại hỏi mua. Họ nói: "Bánh tráng sắn, không phải gạo, ăn được thì mua!"  Tôi nói: Ăn được! Người phụ nữ lấy một cái bánh còn ướt, nóng, ở trên lò chồng lên cái bánh tráng nướng sẵn và gập lại. Tôi trả tiền quay ra và thấy người con gái mặc quần loe, tóc dài, cười tươi đi vô nhà. Hình như ở đây rất thanh bình thì phải...? 
     
Tôi may mắn được một chiếc xe Land Rover cho quá giang. Chạy quanh co trong rừng chừng hơn một giờ là đến một bãi cát rộng mênh mông với những lùm cây lưa thưa ngang đầu. Tôi nghĩ, chắc đã đến bờ sông Ba. Xe quân đội đứng thành nhiều hàng dọc theo bờ sông có cả gia đình họ, tiếp đến là xe dân. Nhìn bãi đậu xe khổng lồ-thấy phát khiếp!

Ngày và đêm thứ nhất ở bên bờ sông Ba

Những giọt nắng yếu ớt còn đọng lai trên những tàn cây, đàn chim hình như không vội vàn bay về tổ, chắc chúng chờ xem bọn người nầy đến đây phá tan sự yên tĩnh của chúng chăng? Đúng thế! Dòng sông tuy mùa khô cạn nước, lòng sông ở đoạn này vẫn cỏn sâu và rộng chừng 100 mét. Toán công binh bắt đầu làm cầu phao qua sông. Tiếng máy nổ bơm hơi vào những cái phao; những thanh nhôm được kết nối lại; những sợi cáp kéo ngang qua bên kia bờ.  Công việc gấp gáp, ánh đèn từ chiếc xe GMC nổ máy pha sáng trưng, quang cảnh nhộn nhịp như một công trường!

Mọi người đổ xô xuống sông múc nước uống, tắm...Trên bờ những đụn khói bay lên bên cạnh những chiếc xe, họ nấu ăn, nhưng phần lớn ăn mì gói và bánh mì mang theo từ lúc ở nhà. Sau một ngày mệt nhọc họ tìm chỗ ngủ. Họ ngủ trên xe, ngủ dưới gầm xe, ngủ ngay trên cát. Tìm chỗ ngủ cũng vất vả không ít, vì xe đậu lộn xộn không có lối đi. Qúa mệt sau một ngày vượt núi, tôi chui vào một lùm cây và ngủ đến khuya. Có ai đó đạp vào chân tôi, choàng dậy...trong ánh sáng mờ mờ của ánh sao đêm, tôi thấy hai người phụ nữ tay cầm cái bình màu trắng. Tôi hỏi các chị đi lấy nước phải không? Họ nhờ tôi dẫn đi ra sông và các chị cũng cho biết là đoàn người phía sau còn rất đông. 

Đêm đầu tiên tôi ngủ ở bên bờ sông Ba! Đêm rừng nhưng không lạnh, trên trời đầy sao nhưng xem ra chẳng có ngôi sao may mắn nào! Phía xa xa từ hướng Phú Bổn những viên đạn lửa bay lên bầu trời và những tia chớp như sắp có cơn dông. Tôi nghĩ chắc đánh nhau, mà sao chẳng có nghe tiếng máy bay phản lực. Bầu trời vẫn yên lặng-yên lặng đến khó hiểu. Không có tiếng gà gáy. Có tiếng con nít khóc; tiếng vỗ về dỗ dành; tiếng hát ru nhè nhè của người mẹ...oan khốc tội tình gì mà bỏ nhà cửa ra bờ sông Ba mà nằm phơi sương, phơi nắng...? Tôi đưa hai người phụ nữ trở về chỗ của họ. Trời sắp sáng, tôi lần mò ra sông. Toán công binh vẫn miệt mài làm, tôi hy vọng cầu sẽ xong trong ngày hôm nay!


Dap-dong-cam-Phu-Yen-Tours-2
Đồng Cam, Tuy Hòa

Ngày và đêm thứ hai ở bên bờ sông Ba
Trời không sương mù nên những ánh nắng mặt trời rọi xuống dòng nước chảy lờ đờ trong vắt, thấy cát ở bên dưới, tôi xuống rửa mặt và nhìn qua bên kia bờ sông bằng phẳng. Đồng cát trắng phau phau, xa xa là rừng rậm. Mọi người cũng xuống sông làm vệ sinh như tôi, con nít có đứa nhảy xuống tắm trông cũng vui! Nhưng khi mặt trời càng lên cao, cái nắng càng gay gắt... cọng với cát được đun nóng hằng giờ mà chẳng có bóng cây cao che mát. Những lùm cây thấp ngang đầu lưa thưa trụi lá...hình như mùa xuân chưa hề qua đây! Người ta tận dụng tấm poncho, mền, căng ra từ thành xe qua các lùm cây. Còn tiểu và đi tiêu họ giải quyết vấn đề đó ngay tại chỗ. Họ không dám đi xa vì sợ có lệnh di chuyển bất ngờ. Mà họ cũng không dám đi xa, sợ lạc vì bãi đậu xe mênh mông mà không ngay hàng thẳng lối mạnh ai nấy chen lấn dành chỗ ưu tiên. Càng trưa cái nắng cao nguyên mùa khô như thiêu cháy một rừng người và xe cộ giữa hoang mạc. Những người đàn ông vội vã chạy xuống sông lấy nước và hấp tấp trở về lo cho ngươi nhà và bảo vệ chút gia tài: Vàng, tiền mang theo – trộm, cướp là chuyện thường xãy ra trong thời buổi loạn ly...       

Nhiều người say nắng, trúng gió, xây xẩm, ói mửa! Tiếng kêu cạo gió, xoa bóp, chờm nước...inh ỏi! Tiếng trẻ con khác sữa đòi ăn và mồ hôi nhễ nhại. Tội nghiệp những người mẹ quạt không ngưng tay, rồi chính những người mẹ cũng kiệt sức và ngã gục, người cha cũng bơ phờ mệt mỏi. Ở giữa rừng mà không có không khí trong lành để thở...Cát càng nóng càng bốc mùi nước tiểu, phân và thức ăn thừa cộng với mùi xăng dầu, mồ hôi do không được tắm giặt...Không khí đặc quánh, nồng nặc. Gió rừng không thổi hết mùi xú uế. Tôi thấy phía bờ sông giòng xe nhà binh nhúc nhích từng mét. Chắc cầu làm đã xong, trong lòng tôi mừng rỡ. Chạy đến xem xe chạy qua cầu như thế nào? Đến nơi tôi không thấy chiếc cầu đâu cả, nó chìm hẳn xuống khỏi mặt nước chừng nữa mét bởi sức nặng của chiếc xe GMC. Phía trước đầu xe là hai người lính công binh đi hai bên dẫn đường, xe qua thì phía sau cầu nổi lên. Chậm, nhưng rồi cũng qua được phía bên kia! Tôi nghe có tiếng ai nói cứ tiến độ như thế này, thì phải mất ba tháng số xe nầy mới qua hết. Còn cây cầu mong manh này liệu có chịu nổi số lượng xe khổng lồ này hay không? Và, cộng quân không vội vả gì rượt đuổi chúng ta - tự chúng ta đói khát, bịnh hoạn rồi chết!

Tôi còn nghe bàn tán xôn xao đâu đó là: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có kế hoạch Di Tản Chiến Thuật ra khỏi Cao Nguyên, nên chúng ta bình tĩnh chờ đợi...!" Tôi nghe và tôi cũng tin như thế thật! Bởi vì cả guồng máy chiến tranh hùng hậu mà không đủ sức di tản hết số quân, dân này hay sao?

Năm 1972 bằng đường hàng không, dân hai tỉnh KonTum & PleiKu chuyển đi sạch để lại thành phố cho quân đội chiến đấu và chiến thắng! Tôi nhìn lên bầu trời ánh nắng chói chang, trong vắt không gợn tý mây, không thấy bóng dáng chiếc máy bay nào như mọi ngày. Và, họ cũng như tôi kiên nhẫn chờ đợi ông Tổng Thống Thiệu đến cứu hay một phép mầu nào từ Thượng Đế...      Những đoàn người chạy sau, vừa mới tới tìm lối xuống sông múc nước và cho biết có đánh nhau khi qua đèo Phụng Hoàng hay Tu Na gì đó, Lính BĐQ và dân chết bị thương nhiều, ai chạy thoát được thì đi tiếp tới đây, ai không thoát được thì quay trở lại Cheo Reo. Họ cho biết thêm có người kêu gọi quay về: "Hòa Bình rồi đừng chạy theo bọn Ngụy nữa..." Bây giờ là 5 giờ chiều tin tức xấu cứ tiếp tục lan truyền trong đám người di tản. Đã sợ, giờ càng sợ hơn. Những khuôn mặt buồn thảm hốc hác, bây giờ lại càng lo lắng và xen lẫn thất vọng. Không ai bảo ai những ánh mắt đều nhìn về hướng Phú Bổn, nhưng nào có thấy gì đâu, còn phía Củng Sơn một vài đụn khói bốc lên. Có lẽ là khói bếp...


hinhanhngayquochan3041975023
mạnh ai nấy chạy; "sauve qui peut"

Nắng chiều vẫn còn bịn rịn trên dãy Trường Sơn, không khí không còn nóng hầm hập như buổi trưa, những tấm poncho, mền được tháo xuống trải trên mặt cát. Họ chuẩn bị ăn một chút gì đó qua loa và chờ đêm nay đến phiên xe mình qua sông. Tiếng trẻ con khóc và tiếng ầu ơ của người mẹ nhừa nhựa yếu ớt, có tiếng cầu kinh và cũng có tiếng kêu tên ông Thiệu ra chửi tùm lum...Tôi trở lại lùm cây cũ đêm hôm trước hòng tìm chỗ ngã lưng, chiếc xe Land Rover tôi đi nhờ vẫn còn nằm đó. Lùm cây trơ trọi không còn chiếc lá nào, mùi nước tiểu xông lên nồng nặc, bụng đói cồn cào, hai ngày qua không có hột cơm trong bụng. Tôi quay ra bờ sông và thấy những người lính đang ăn cơm sấy - tôi xin và họ cho tôi một bịch! Đêm nay tôi nằm trên cát, đêm rừng buông xuống thật nhanh, nhìn chùm sao bắc đẩu sáng lung linh, tôi nhớ mẹ tôi ở LK. Mẹ ơi! Mẹ đâu biết rằng đứa con trai độc thân 25 tuổi của mẹ hai đêm nay nằm ở bên bờ sông Ba!

Ngày thứ ba ở bên bờ sống Ba
Mệt, đói! Tôi ngủ vùi, khi giật mình tỉnh dậy xem giờ mới hay đã hơn 2 giờ sáng, nhìn về cầu phao ánh đèn từ chiếc xe GMC vẫn rọi xuống sông, nhưng không thấy chiếc xe nào qua cầu. Hình như cầu hư? Tiếng búa, tiếng va chạm sắt thép dội đi trong đêm thanh vắng...Nhìn về hướng Cheo Reo xa xa thấy những ánh chớp và những âm thanh như tiếng đại bác vọng về. Đơn vị chiến đấu đi theo lệnh di tản có nghĩa là người lính mang theo vợ con. Chỉ có súng cá nhân, gặp cộng quân vướng viú làm sao chiến đấu với hỏa lực địch có súng hạng nặng và xe tăng! Vậy tiếng súng vọng về là của ai? Tôi càng thêm lo lắng...      Buổi sáng ngày thứ ba! Bình minh le lói phía chân trời nhưng không đem lại niềm hy vọng đến cho mọi người đang chực chờ sang sông. Nỗi lo lắng lẫn sợ hãi thật sự căng thẳng trên từng khuôn mặt bơ phờ mệt mỏi do thiếu ăn, thiếu ngủ...Mới 10 giờ sáng nhưng ánh nắng đã gay gắt, cát nóng, mùi xú uế tích tụ những ngày hôm trước xông lên nồng nàn đến ngộp thở...

Người ta xúm lại săn sóc cho người phụ nữ mang thai - "Chị ấy sinh!" -có người nói thế! Và tôi nghĩ: Xưa nay người ta nói: "Chết bờ, chết bụi!" chứ có ai nói: Sanh bờ, sanh bụi đâu? Trời ơi! Sao em bé lại ra đời trong lúc nầy không biết nữa! Dòng sông Ba hiền hòa nhưng cũng oan nghiệt nầy chứng kiến biết bao thảm cảnh...!      Tôi đi ngược ra phía sau để tìm xem trong đêm qua những người chạy xuống may ra có đồng đội hay người quen biết. Trời! nhiều người bị thương: Lính có, dân có! Bộ đêm qua trên đường có đánh nhau hả? Tôi hỏi người mang áo lính rách bươn. Người lính không trả lởi mà nói: "Trong ngày hôm nay không thoát qua khỏi sông Ba thì thế nào Cộng Quân Sư Đoàn 320 đuổi kịp, hoặc nó pháo chúng ta chết hết"!  Đoàn người mới đến sáng nay họ không mấy quan tâm đến cầu phao. Họ kéo nhau đi bọc ra sau bãi xe và xuôi theo bờ sông tìm chỗ cạn để vượt. Ai chờ cứ chờ, ai đi bộ cứ tìm đường mà đi. Tôi cũng đi theo họ. Lúc này đã 3 giờ chiều, đi được chừng một cây số, thì mọi người hốt hoảng bởi những tiếng nổ chát chúa phía bãi xe. Pháo Kích! Pháo Kích! Có người hét lên...Tôi kéo hai đứa bé gia đình đi bên cạnh nằm xuống. Tôi nghĩ cộng quân pháo đuổi theo gây tang thương hoảng loạn chứ chưa chắc đã đến. 

Tôi nghe tiếng trực thăng càng lúc càng gần. Thì ra chiếc trực thăng Hồng Thập Tự hồi sáng nay có bay đến và lượn đi lượn lại bốn năm vòng rồi bay đi luôn! Không biết tại sao bay trở lại? Nó đáp thật nhanh xuống lùm cỏ giữa bãi cát, chong chóng vẫn quay...một số người chạy ào lên! Chiếc trực thăng vội vàn cất cánh nhưng quá nặng cứ chúi chúi hai ba lần, những cái túi xách quăng xuống hết. Trực thăng từ từ nhấc mình lên một cách khó nhọc và người ta thấy bên dưới một người phụ nữ đeo tòn ten dưới càng của nó! Khi lấy độ cao lướt qua lùm cây bên kia sông cũng là lúc người phụ nữ buông tay rơi tự do xuống đám rừng! Có người làm Dấu Thánh! Lạy Chúa tôi...! Người phụ nữ ấy chết hay bị thương trong lúc nầy, dù ai có lòng từ bi đức độ đến mấy cũng đều lực bất tòng tâm, không thể nào cứu được- Phía trước sông Ba phía sau đạn thù! Tôi và hai đứa bé tiếp tục đi, cha mẹ nó mang đồ đạt lặc lè theo sau.

Đi được chừng hai cây số tôi thấy một cái đập nước chắn ngang, thấp và nước chảy xói mòn. Tôi đoán đây có lẽ là cái dạng còn lại của đập Đồng Cam do người Pháp xây đã bỏ lâu năm bị nước xâm thực hư hại. Đoạn sông này cạn, nước sâu khoảng đến đầu gối. Hai bên là những bãi cát chen lẫn những lùm cây, màu cát trắng cọng với nắng chiều quyện vào nhau lung linh tuyệt đẹp!       Đã 5 giờ chiều mọi người dừng quân nằm xuống cát nghỉ ngơi hít thở không khí trong lành thật sự chứ không phải nồng nặc mùi xú uế như chỗ bãi xe. Tôi lang thang ra đồng cát rộng chừng nữa sân bóng đá, nhìn về hướng Tuy Hòa xa xa. Tôi thấy những đốm đen, tưởng là đàn chim buổi chiều bay về tổ. Nhưng không phải! Cái đốm đen ấy càng lúc càng lớn dần... Một... Hai... Ba...  Bốn – năm – sáu - bảy - tám! Đó là những chiếc trực thăng Chinook! Mừng qúa...Tôi hét lên: Có máy bay bà con ơi! Tôi cởi áo lót trắng cầm nơi tay vẫy, vẫy liên tục... Sáu chiếc bay qua trên đầu. Tôi thất vọng! Nhưng đến chiếc thứ 7 & 8 thì quay trở lại và đáp xuống. Lúc này bà con túa ra ùa lên nêm chặc người và người trên hai chiếc Chinook. Bây giờ tôi mới hiểu ra, chính chiếc trực thăng Hồng Thập Tự lúc sáng bay đến thị sát và đã can thiệp để có những chuyến cứu vớt nhân đạo nầy!

Đêm nay và ngày mai...Đoàn quân di tản chiến thuật chắc chắn sẽ đối diện với Sư Đoàn 320 thiện chiến của cộng quân. Và tôi đã khóc.
[Tôi đã đi trên con đường 7B]



Cây Bun Tháng Ba
Trang Y H


Nga tay hng git sương ngun
gom v rưới mát cây bun tháng ba
bun tháng ba đã tr hoa
bên đường hoa n tháng ba não n

xương khô dưới lá ê
li ru xác lá v v đêm hoang
gi cho anh mt cung đàn
đ anh nghe li muôn vàn nh thương

còn trong em mt đon trường
ngày nao vĩnh bit su vương mt m
em còn sng trong mơ
cành hoa rng ci trơ trơ ti đi

dm ngàn máu đ git rơi
rng anh nm li gia tri em mang
quân đi tiếp bước hàng hàng
trước sau đn réo điêu tàn là đây

tháng ba ngi vi c cây
nén nhang lan ta hn vây ly hn
anh ơi ch chp di khôn
luân hi xe y vn vn vã xoay
Tháng ba di tản.


Saturday, April 7, 2018

diệt chủng Ukraine 1932


See the source image
Ukraine 1932, tranh Nina Marchenco
diệt chủng Ukraine 1932

Serhy Yekelchyk, ttt dịch

Sau thì khác, chống đối, nhưng xưa kia, 1932, Lev Kopelev đã cùng đoàn tự nguyện từ Nga xuống lùng khắp vùng quê Ukraine để cùng nhóm nằm vùng sách hại hăm dọa nông dân, kẻ thù của Soviet. Hồi ký của ông cho biết năm nầy đánh dấu cao điểm của vụ thu vét lúa gạo bạo hành nhất, tiếp theo quyết định của Staline tập thể hóa nông nghiệp. Ông nói: “chúng tôi thực hiện sự tất yếu lịch sử”. Những chữ nầy bây giờ rất quen thuộc đối với các nhà nghiên cứu diệt chủng.

Holodomor (nạn đói Ukraine 1932, 1933) là một trong những tội ác lớn nhất của Staline mà Tây Phương* ít chú ý. Cuốn sách chúng tôi có trên tay Red Famine sẽ chỉ rõ tội ác chống nhân loại đã bị dấu nhẹm khá lâu. Tác giả Ann Applebaum đã đúc kết cuộc nghiên cứu 3 thập niên khổ nạn nầy thành đôi dòng ngắn, tiện việc ghi vào bia đá hay bia miệng:

Trận đói nầy không phải vì nguyên do mất mùa hay thời tiết khắc nghiệt, cũng không do sự sai lầm của các kế hoạch gia Nga. Chính đó là một cuộc sát hại tập thể nông dân do chính quyền Sô viết điều khiển có kế hoạch.
Các vùng thóc lúa sản xuất nhiều vẫn bị chung số phận cả nước; điều nầy minh chứng nhà nước Xô Viết chủ trương đè bẹp khắp nơi việc nông dân chống đối tập thể hóa và trưng thu nông phẩm.


vùng quê thuở xưa ở Ukraine
Tuy nhiên mùa thu 1932, bất thần Staline đưa ra những chính sách cay nghiệt áp dụng cho Ukraine. Thay vì giảm quota trưng thu, Staline còn kết tội đảng CS địa phương hèn nhát do kẻ thù dật dây. Một số biện pháp vô cùng cứng rắn như là: đóng cửa biên giới, bao vây cô lập các cộng đồng nào không đạt “chỉ tiêu” và phạt các làng nạp trễ bằng cách tịch thu thực phẩm. Đường lối chính thức của Ukraine đầy tính chất sát nhân đưa đến 3,9 triệu người chết trực tiếp và 600 ngàn trẻ chết lúc sinh.

Red Famine không những chỉ đưa ra các con số thống kê và các biên niên thư mục, tác giả còn ghi lại tiếng nói của những kẻ sống sót làm độc giả sửng sốt. Một người còn nhớ xác bà mẹ căn phồng như một chai nước suối. Một người khác thấy tim của một bé gái tong teo đang đập dưới lớp da nhăng nhíu. Lắm người khác lắc đầu không tìm ra chữ để diễn tả các cuộc hành quyết tập thể kẻ lấy trộm thực phẩm hay ăn xác chết.

Tiền lệ ép chết đói hàng loạt thành phần chống đối trong những năm 1917-20 thời Lenine dạy Staline tầm quan trọng của việc xóa bỏ tinh thần quốc gia Ukraine bằng cách thành lập một cộng hòa soviet và điều khiển văn hóa Ukraine trong những năm 1920. Nhưng qua thập niên mới, Staline tin tưởng cần thiết phải tấn công các nhà ái quốc UIkraine thay vì ép họ vô đường lối mới.


Image result for ukraine

Trong bối cảnh nầy việc sát hại các nhà văn hóa cùng với nạn đói chỉ là những việc riêng trong một kế hoạch rộng lớn nhằm tiêu diệt quốc gia Ukraine. Ý kiến nầy dựa vào các bức thư rợn gáy của chính Staline về điều gọi là sự xâm nhập vào đảng CS của thành quốc gia; nhất là câu: “chúng ta có thể mất Ukraine”. Tác giả cũng đã tìm thấy những công văn mật của đảng CS bài trừ văn hóa xứ nầy. Applebaum không chút nghi ngờ trận chết đói nầy là lưỡi dao bén đắc dụng cho Xô viết giết sạch dân thiểu số ở vùng quê gồm người Nga, Ba Lan, Do Thái và Đức.

Raphael Lemkin, người đưa ra quan niệm ‘diệt chủng’ tin tưởng rằng Ukraine dưới thời Staline là một ví dụ cổ điển về sự hủy diệt một nền văn hóa, một quốc gia. Tác giả đồng ý với luật gia Do Thái Ba Lan nầy, đồng thời than phiền rằng luật quốc tế hiện nay không công nhận trận đói giết người Holomodor là một sự diệt chủng. Theo bà chính phủ hiện nay của Ukraine cần vận động thế giới biết rõ vụ nầy, như một trong những phương cách chính để xác định sự cá biệt quốc gia. Dân chúng Ukraine mong muốn Tây phương* chú tâm đến thảm cảnh lịch sử nầy.

(theo bản tiếng Anh: Beating beneath the Skin, TLS London)
xin đọc thêm: Staline starved populations to death


Image result for Ukraine Forced Famine
trẻ em Ukraine 1932

A-Celebration-of-Women-Feature-Banner-e1352628808407 (1) 512


*Ghi chú về danh từ Tây Phương:
 Đến năm 285, đế quốc La Mã đã quá rộng; vua Diocletian phải giao một nửa cho người bạn, đồng thời là phụ tá, Augustus và ông đã chia thành Western Empire với thủ phủ Rome; và Eastern Empire với thủ phủ Byzantium (sau thành Constantinople, Istambul ngày nay). Thiết nghĩ danh từ Tây Phương từ đấy mà ra để chỉ các nước trong đế quốc miền tây (đa số ở Âu Châu, Anh Pháp Đức ... cùng Mỹ Châu dưới ảnh hưởng Anglo Saxon và Hispanic. Hai vùng đế quốc có hai giáo hội Thiên Chúa không ưa thích nhau đến mức cay nghiệt; thánh chiến thứ sáu thay vì đến Do Thái đánh Muslim đã từ Rome qua Constantinople tác quái và điều nầy xem như vết thương đưa đến việc đế quốc Muslim Ottoman diệt trừ La Mã. Xung đột đông tây được báo chí mượn danh từ để chỉ chiến tranh lạnh. Nga là East; khối tư bản là West. Tình cờ có sự khác biệt đông tây trong phạm vi Âu Châu, Tây Âu tư bản và Đông Âu CS.

Image result for east weat roman empires Nhưng về lịch sử và triết học, Đông Phương có nghĩa chính là nền văn minh Ấn Hoa và Á Đông, phân biệt với nền văn hóa tây phương La Hy. Văn hóa mác xít thuộc vùng Tây; sinh ra bởi người Tây Phương, lớn lên trong khung cảnh tây phương. Virgil Gheorghiu, tác giả Giờ Thứ 25, lưu ý người đọc rằng Nga Sô không phải là Đông Phương như ông đã viết: khi tàn lụi suy nát, Tây Phương sẽ được Đông Phương cứu giúp với liều thuốc trí huệ và hiền triết.
Tây phương trong bài nhằm chỉ các nước tư bản Âu Mỹ khác biệt, một thời hay hiện nay vẫn còn, chống đối ý thức hệ phi nhân cầm đầu bởi Sô Viết.




dân ca Ukraine


Friday, March 30, 2018

khóc muộn 60 năm



 khóc muộn * Tôn Tht Tu
Ông bạn cùng tuổi của tôi được một bạn khác làm sống lại thuở thiếu thời, ngồi với mẹ và chị tụng kinh trong bầu không khí gia đình vô cùng êm ấm. Tôi chợt nhớ lại chừng cùng thời gian ấy, tôi cũng tụng kinh trong một bầu không khí khác tuy vẫn được gọi là dưới ánh đạo vàng. Ông thường gởi cho nhiều người triết lý Phật và nhất là nhấn mạnh buông bỏ, một nội dung đầu môi, ghi khắp nơi trong lối chữ lăng quăng và trong chừng vài trăm email đã nhận; một âm mưu tuyên truyền xoa dịu.

Tôi tụng kinh cả sáng lẫn tối, đánh chuông hai buổi, cào lá phơi khô nấu cơm cho mấy vị nửa nửa tỳ kheo trong đó có ông Mãn Giác. Tôi không có duyên để ngộ cái chi và nhất là không có chi để buông bỏ, thành thử những lời khuyên buông bỏ chỉ ghi nhận dùng sau.

Nói về chuyện gia đình đóng góp nhiều ít cho việc chùa là điều không đáng làm; ngay như chị (Như?) Lý con hay cháu nội của ông Thái Quang Toản không muốn nhắc đến công trình của ông nầy 100% làm chùa Quy Thiện, ngôi chùa theo tôi đẹp nhất, rộng rãi mát mẻ không cổ điển như Tây Thiên, có cả một vườn sim trái vừa hoang dại vừa thuần hóa. Tôi gặp chị ở Orange County. Thế nhưng, xin nói gia đình tôi đã góp sức rất nhiều cho chùa Thiên Minh, chính tượng Di Đà bằng gỗ “to bằng trời” đối với tôi, nay thì nhỏ chỉ cao 3 m, do chị mẹ tôi đi lùng khắp vùng sơn cước tìm được ròn một cây mít rất to mua về làm tượng, trả công thợ chạm, kể luôn ba tháng ông trai giới, gây nội lực chống với quỷ phá nhà chay. Chùa chỉ có tượng đứng nầy và một tượng ngồi cao chưa được một mét theo lối Thái Lan do ông Tôn Thất Hối, con của nhiếp chánh vương Tôn Thất Hân, đưa tới.

Lại nói lòng vòng cả quên. 2003 đến thăm chùa, tôi không được thầy mới tiếp vì ăn mặc tồi tàn. Tôi khá sân si và thách đố với ông sư nhỏ hơn có biết nơi ngón tay trỏ chỉ xuống đất của tượng gỗ nầy có một dấu cưa rất cạn. Ông cho tôi điên nhưng lòng từ bi (?) của ông đã khiến ông cùng tôi vô xem thì có thật. Dấu cưa nầy cốt ý để xem tượng đồng hay gỗ; nếu đồng thì đã tiêu tùng theo tuần lễ đồng của Việt Minh 1945, cùng với các bộ lư, nồi đồng...

Khi cha tôi còn sống lên chùa thì thầy trụ trì khi mô cũng “ông tham” và tôi được ngồi bên cạnh ăn cơm chay. Khi hồi cư, nhà cháy, của cải trước đó đã cho tuần lễ vàng, tuần lễ đồng, kho gạo đồng tâm, cha tôi chết, tôi phải ở tạm trong chùa, lúc ấy pháp chủ Mãn Giác còn gọi là chú Sung (lên chức từ điệu Sung). Bây giờ mới hiểu thành ngữ “xương đồng da sắt” chính là tôi, ngủ cả năm trên bộ ngựa, không một mảnh chiếu, không mền cho đến khi dì tôi cho cái mền lính Tây cũ có chữ US Army (Mỹ viện trợ quân sự). Ngày ngày tôi phải đi kiếm củi hay ra giếng xa đứng múc nước cho O Khóa gánh về, bưng nước cho thầy rửa mặt. Nhà thờ bên ngoại cũng tiêu ma nên cậu tôi thờ ôn mệ trên chùa. Một lần gia đình cậu từ Vy Dạ lên kỵ mẹ tức là bà ngoại tôi; cậu mợ không ư hử một tiếng với tôi và tôi phải giữ bản doanh nhà bếp, không dám lên lạy bà ngoại, trong khi trước chiến tranh cha tôi cúng kỵ nhạc gia (mẹ của cậu)  rềnh rang, có rước thầy, vàng bạc, vô chay ra mặn.

Trong bữa ăn cơm cúng, cậu tôi ngồi ở chỗ cũ của cha tôi, bên cạnh là hai đứa con trai. Tôi phải đứng sau lưng cầm quạt, quạt cho thầy và cậu mợ, mắt nhìn thèm khát những món ăn trên những chén dĩa kiểu tây mà cha tôi đã mua của mấy ông tây bà đầm về nước rồi đem cúng cho chùa. Tôi mong có bữa cơm thừa. Nhưng chiều ấy tôi vẫn theo khẩu phần cố hữu là hai chén cơm úp một, còn tương thì cả mấy lu ngoài sân, húp hay chan như canh cũng được.

Tôi học i tờ, tờ i ti bên Chùa Báo Quốc tại phòng trường Nam Giao mượn, năm sau cả hai lớp tư năm đều dời lên gần Từ Đàm. Một mùa hè, gia đình Phật Tử cắm trại tại đây, tôi mới biết chùa rất rộng, lều trại đã choáng chỗ các cây nhỏ, vườn chùa chạy xuống thấp đến con đường có nhà của (Nhã Ca) Trần Thị Thu Vân; từ Thiên Minh qua đó mấy bước. Tôi thấy có mấy gánh đậu hủ, những chén đậu hủ và đường muối hấp dẫn quá.

Tôi chạy về chùa, lẻn lên nhà chính tới cái chén thầy để tiền xu cho ăn mày, ăn cắp tiền qua xơi một chén đậu hủ cho thỏa giấc mơ làm con bà chủ bán kẹo, ăn kẹo trừ cơm.

Thầy cho mấy bạt tai tím mặt. Chuyện nhỏ mà, tôi không khóc.

Sáu chục năm sau tôi mới khóc. Tôi đã khóc khi lơ lửng không biết chỗ mô trên chuyến bay về. Ra tiễn vợ chồng tôi, một người bà con cho một số kinh sách mà chúng ta thấy bừa bãi ở các chùa, ấn tống cầu phước, hồi hướng công đức…

Tôi đọc một cuốn gì đó tôi quên tên. Trong đó Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật có lời nguyện làm sao khi thấy kẻ đói khổ mà làm chuyện ác thì Ngài cho ăn no đủ rồi mới giảng kinh kệ.

Tôi khóc nước mắt đầm đìa, nhà tôi không thấy vì ngủ ngon. Tôi không khóc vì mấy ngón tay thầy xỉa vào mặt. Khóc vì hơn nửa đời người mất đi bài học. Giá như lúc ấy thầy là Dược Sư, thầy đã cho thằng ăn mày nầy, thằng ăn mày hầu hạ thầy, chút tiền ăn thêm chén đậu hủ cho đã thèm rồi dạy rằng ăn cắp là điều xấu. Muộn đến 60 năm nay mới khóc vì gần cả đời người không học được sự thâm sâu huyền diệu của đạo, có ngay trong chén đậu hủ, trong vũng nước bùn lỗ chân trâu.-



buồn vô hậu
tôn tht tu

Nơi tôi  chiu nay mưa như Huế
khí hu khô nên không khn kh như ngoài kia.
Hơn thế na
cơm ngày ba ba tm ra hai ln
có cái áo dày hơn bao b
mđồng thôi cũng đủ m qua mùa.
Kinh Di Đà vn còn như xưa nơi Thun Hóa
Như th ngã văn nht thi Pht ti Xá V quc *
Pht nói gì nghe l quá đi
x ca Phđất bng như rung lúa
nhà bên nhà gm ph màn hoa
người quên đói vì theo hương ca gió
ca không khóa.
K Pht quđộ thượng vô ác đạo chi danh
hà hung hu thit.**

Mưa như mưa chiu kia ngoài x Huế.
Kinh Di Đà lôi ra đọ quán bánh bèo
Nếu trn gian không đem tin mua súng đạn
thì sá gì nhà gm vi châu sa,
trường tr rng nhà thương thơm hơn mít.
Nhưng thy Pht là tôi bun vô hu
Pht sinh ra nơi chn ác ôn
Chúa hin thân nơi người xem nhau thua con chó.
i mươi, chiu nay bun vô hu,
Bun vô hu nên để lng bài thơ.



* Tôi nghe như vầy, một thời Phật tại nước Xá Vệ...
** Nơi xứ Phật, không có danh tự chỉ tội ác, huống là tội tác