add this

Sunday, July 25, 2021

Thực Thể Đông Dương và Việt Nam


Thực Thể Đông Dương  và Việt Nam

Dẫn nhập: Gần 200 năm định mệnh đã tròng tréo ba nước Việt Miên Lào trên một bán đảo mang cái tên đầy định mệnh. Indochine, đáng lý phải dịch là Ấn Hoa thay vì Đông Dương. Phạm Quỳnh, đầy chữ nghĩa, đã phân tích thành hai vùng ảnh hưởng Ấn Độ (Indo) là Phật Giáo Nguyên Thủy ở Cambodge và Lào và Chine vùng kia của Khổng Mạnh, Tàu. Lối nhìn nầy được ghi nhận như một chi tiết nhỏ nhoi trong một cuốn khảo luận về Đông Dương của Christopher E. Goscha nhan đề Vietnam or Indochina? được dịch qua tiếng Pháp Indochine ou Vietnam? Một nữ sinh viên đại học Lyon đã viết bài điểm sách bằng tiếng Pháp. Chúng tôi xin lược dịch bài nhận xét của Aranone Zarkan Al Farekh.

Những chữ trình quý vị có giá trị giới hạn. Thứ nhất, bài nhận xét đặt trên một bản dịch, thứ hai, không thể xác định nhiều danh từ là nguyên gốc hay là dịch thuật, thứ đến khả năng hạn hẹp của chúng tôi về lịch sử và ngôn ngữ, cũng như không biết khả năng của người điểm sách có tường tận về một vùng đất đầy tính chất chính địa (geopolitic) hay không.

Về phần chúng tôi, chúng tôi thấy rằng lịch sử nó như một mớ tương hợp đúng như phương pháp luận duyên khởi, và nó còn dài, còn dài, em ơi mưa nắng còn dài.

Phương pháp của Goscha là đặt vấn đề trên một không gian (espace) vừa địa lý, vừa văn hóa, vừa chính trị vừa tư tưởng, tức là đặt vấn đề trong một viễn tượng. Sân khấu chính trị quân sự chính yếu là VN thế mà Việt Minh không chiếm nhiều đất, lại chiếm rất nhiều đất của Miên và Lào. Vùng biên giới Lào Thái là một khu kinh tế, và cũng nhờ đó mới có thể chuyển vận quân đội ở Điện Biên Phủ 1954. Nhưng nguồn sinh lực vẫn phải có từ biên giới Hoa Việt nhờ Mao Trạch Đông đã chiếm Hoa Lục.

Tác giả chỉ phê bình sự bất công của Pháp dành cho VN như một lý do chính của sự tan vỡ Đông Dương nhưng đó chỉ là một yếu tố trung bình. Tác giả muốn nhìn theo một viễn tượng rộng rãi mà quên rằng ĐD nằm vào một thời đại kỳ quái với đủ thứ ảnh hưởng, như phong trào giải thực, chiến tranh lạnh và nhất là vai trò mới của Trung Cộng.

Ông cũng không nói đến đặc quyền Pháp dành cho người Tàu để biến người VN là một loại công dân thứ ba. Người Tàu, kẻ phục vụ trung thành và hữu dụng được hưởng quyền tài phán phân biệt (jurisdiction privilégiée), tranh chấp thì người Tàu được xử theo luật của Pháp, người Việt tùy từng vùng.

Chúng tôi xin có mấy chữ vào thời sau khi cuốn sách đã dứt. Kinh nghiệm nhìn chiến lược trên không gian rộng lớn trước 1954 được áp dụng trở lại trong chiến tranh VN. Nếu Lào cưu mang đường bộ thì Cambodge là một mật khu, hậu cần và hướng tiến chiến lược. Miền Nam, Nixon thì đúng hơn, cũng quan niệm rộng rãi, đánh qua Miên và hứa sẽ bắt hết đầu não VC, diệt mật khu như CS Hy Lạp ngưng hoạt động khi Albany không cho làm hậu cần. Không bắt được chính ủy nhưng sang bằng mật khu.Tuy vậy chỉ trong hai năm nó được thay thế bằng một mật khu kiên cố to lớn hơn để đánh đòn cuối 1975. Cambodge “tự do” của Lon Nol đã làm cuộc cáp duồng đẹp mắt.

Khmer Rouge không theo lệnh của Hà Nội nhưng theo lệnh của Bắc Kinh, có nghĩa Miên vẫn nằm trong cùng chiến lược.

Ông Đỗ Mậu đã nói với chúng tôi rằng ông Ngô Đình Diệm tiếp Sihanouk mà không cười, nên chỉ vài ngày sau ông hoàng Chùa Tháp đi Bắc Kinh ký thỏa ước cho TC và BV xử dụng đất Miên trong chiến tranh. Nhận xét nầy quá đáng vì không thể trong ba ngày mà thay đổi, có thể cuộc viếng thăm nầy nhằm che dấu âm mưu quỷ quyệt. Nhưng dẫu sao câu chuyện cho thấy Miền Nam không có một chiến lược rộng rãi, cứ tưởng vũ khí sẽ quyết định chiến tranh. Ông NĐD có chiến lược rộng rãi về hướng đông, y chừng muốn thành lập một Holly Alliance, liên minh thần thánh với Tưởng Giới Thạch, Đài Loan, và Lý Thừa Vãng, Đại Hàn.

Đông Dương sau sự ra đi của Pháp thành một Đông Dương mang một hình dáng khác nhưng vẫn là địa bàn để cho ba nước Việt Miên Lào tiếp tục tròng tréo vào nhau. Như vụ Hà Nội xua quân qua Miên 1979 giao tranh với Khmer Rouge. Qua đến thiên niên hai ngàn mà vẫn còn tròng tréo không thôi.


Thực Thể Đông Dương và Việt Nam

Aranone Zarkan Al Farekh *** Christopher Goscha

Tôn Thất Tuệ dịch

Trước khi người Pháp đến, dân tộc VN đã đồng nhất về ngôn ngữ và đã kiểm soát vùng đất từ châu thổ Hồng Hà đến đồng bằng Cửu Long. Năm 1834 hoàng đế Minh Mạng tuyên bố bảo hộ Cambodge; biên giới lãnh địa rộng hơn biên giới ngôn ngữ. Cương thổ đó được duy trì dưới uy quyền nhà vua nhờ một hệ thống nha lại gồm các công chức VN và thuộc cấp địa phương nói được tiếng Việt. Tuy nhà Nguyễn đã bỏ Phnom Penh năm 1841, Cambodge vẫn là một chư hầu cho đến 1863, ngày người Pháp đặt quyền bảo hộ riêng của họ.

Danh hiệu Việt-Nam (越南) chỉ mới xuất hiện đầu thế kỷ 19, năm 1838 vua chọn tên Đại Nam 大南 bởi vì đế quốc nới rộng về hướng Nam. Danh hiệu nầy trội yếu trong giới quan lại Nam Triều cho đến 1940. Nhưng trong Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 (Traité de Saigon) người Pháp chọn tên Annam (安南). Sau đó họ chia đế quốc VN thành ba miền Bắc Kỳ (Tonkin), An Nam (danh hiệu không chính xác vì nó còn nghĩa toàn đế quốc VN, từ nay gọi là Trung Kỳ) và Nam Kỳ (Cochinchine không rõ nguồn gốc). Năm 1863 nền bảo hộ nới rộng qua Cambodge và Lào; như vậy từ nay chúng ta có năm vùng lập thành Đông Dương thuộc Pháp (l’Indochine Française).

Năm 1887, tháng 10, Pháp thành lập Union Indochinoise, động tác đầu tiên trong chiều hướng hình thành một lãnh thổ thống nhất.

Phải chăng Đông Dương (ĐD) là hậu thân của đế quốc An nam, hay là người An nam chỉ là một phần trong dân số ĐD. Nói khác là tìm hiểu đến mức độ nào người Pháp đã thành công thành lập ĐD như một thực thể vừa về lãnh địa vừa bản tính; và vừa địa dư cùng tâm thức.

Luận án nầy chọn hai định mốc thời gian là 1887 như trên đã nói ngày thành lập Union Indochinoise và 1954, ngày mở hòa đàm Genève để chấm dứt chiến tranh VN, tuy không bỏ qua những biến chuyển khác ở giữa nhưng ít quan trọng hơn.

1887 -1920 thời gian thai nghén

Từ năm 1887, Pháp mưu toan tạo lập một cương thổ thống nhất về địa lý, ước muốn ĐD thành một nước duy nhất theo những chính sách sau đây:

Trung ương hóa

Tức là cho ĐD một trung tâm năng động để dễ kiểm soát. Union Indochinoise được thành lập 1887 nhằm thuyết phục giới ưu tú VN đầu tư trí tuệ vào việc canh tân ĐD. Lúc ấy giới nầy vẫn tin tưởng rằng tương lai chỉ hình thành với sự hiện diện của Pháp, mãi cho đến thập niên 1930, họ vẫn quan niệm canh tân hóa và ĐD trong khuôn khổ cộng tác với Pháp.

Đến 1911, toàn quyền trở thành người quản nhiệm toàn lãnh thổ (administrateur du territoire) đảm nhiệm ngoại giao, hành chánh, quốc phòng và ngân sách. Rõ là một chính phủ. Trong lúc ấy triều đình VN, Cambodge và Lào đứng riêng rẻ.

Đào tạo lớp người ưu tú.

Ngay từ đầu, người VN đã liên hệ với Pháp và dĩ nhiên hưởng những ân huệ lợi lộc. Quy chế đặc quyền làm họ nhớ đến thời xưa hoàng triều sáng rực. Tuy nhiên họ không tự xem là người ĐD; sự phân biệt giữa người VN và các dân tộc khác sống ở ĐD không những có trong người VN mà trong đầu óc người Tây cũng có.

Việc đào tạo giới ưu tú bắt đầu từ việc học hành. Pháp đã bắt đầu đào tạo công chức riêng của họ. Năm 1911, Albert Sarraut, lúc ấy là khâm sứ, thành lập Université Indochinoise ở Hà Nội. Sarraut rất nồng nhiệt ủng hộ một ĐD thống nhất, ông muốn tạo ra một nền văn hóa mới cho ĐD, tránh xa ảnh hưởng của Khổng Mạnh. Ý hướng nầy biểu lộ qua một bản đồ thống nhất; bản đồ nầy theo lệnh của Sarraut treo tại các công sở của thuộc địa. Pháp đã dần dần thay thế hệ thống thi cử xưa theo lối Tàu bằng hệ thống giáo dục Pháp.

Ở một điểm khác, chính quyền Pháp đẩy mạnh thông tin tuyên truyền qua các nhật báo và các truyện bình dân dễ đọc (les romans de gare) làm thành tiếng nói duy nhất ca ngợi sự to lớn của ĐD thời mới, y như thể muốn nói sự canh tân chỉ có thể thực hiện nhờ một Union Indochinoise. Trong một mức độ nào đó, dự án nầy của Pháp đạt một số thành quả vì cương thổ nới rộng và giáo dục đã tạo ra thế hệ trẻ VN thập niên 1930 tự cho mình là người ĐD.

Tuy vậy các kết quả ấy bị giới hạn vì chính người Pháp áp dụng hệ thống giáo dục khác biệt (différencié) giữa thành phần ưu tú VN và những thành phần thiểu số khác. Lào và Cambodge chỉ được theo học các trường cải biến (les pagodes réformées) từ các trường học xưa, đồng thời giới hạng sự giao tiếp giữa nhóm thiểu số và người VN.

Về cương thổ

Pháp cố công đem lại cho ĐD một sự sống bằng những công trình công chánh, đầu tư kỹ nghệ (cao su) và giao thông vận tải. Tiếp đến là sự canh cải hệ thống nha lại, rải công chức khắp cả cương thổ, móc nối giữa địa phương và chính quyền thuộc địa. Cũng là mục đích duy trì sự thống nhất lãnh thổ qua các hạ tầng cơ sở, mở đường cho một sự thống nhất tư tưởng và văn hóa.

Trở ngại chính yếu là sự thiên vị đặc lợi cho người VN, lớp người thực sự thể hiện sự thống nhất bề ngoài nầy, giữ các chức vụ hành chánh ngay cả tại Cambodge và Lào; họ đã thành lập một giai cấp công chức riêng rẻ. Tiếng Pháp và tiếng Việt là hai ngôn ngữ thành văn. Giới trí thức ưu tú Cambodge và Lào đã nhìn thấy qua nền cai trị Pháp một sự bành trướng của người VN.

Pháp đã thực hiện nhiều điều: thủy lộ giữa Saigon và Hongkong, Bangkok, Singapour, Marseille (chính yếu để xuất cảng mủ cao su). Trên bộ, nhiều con đường xuất hiện, quốc lộ 13 chạy theo sông Mekong hoàn tất giữa thập niên 1930; đường sắt chạy từ Saigon lên tận biên giới Việt Hoa và sau cùng là điện tín. Những cơ sở nầy tạo nên mối tương hệ giữa không gian và thời gian, xa gần, nhanh chậm. Nhưng các chính trị gia quan niệm sự thể trong một cương lãnh, một không gian gọi là Union Indochinoise.

Những thành quả trên đặt một nền tảng vững chắc cho sự di dân (chưa phải thực dân) của người VN sang Cambodge và Lào. Một số đông người VN tự xem mình là người thực dân (colon). Đến như Pham Le Bong, chủ bút La Patrie Annamite chủ trương người Việt hãy thuộc địa hóa Lào, ngõ hầu Bắc Kỳ và Trung Kỳ thoát khỏi miệng của Bắc Phương. Người Việt đã lập kiến nghị hủy bỏ điều khoản đặt người Việt nằm dưới chính quyền Lào, người Việt đã xem lãnh thổ nầy của họ.

Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong trong thập niên 1920 đã du hành khắp ĐD đã nêu lên sự cắt đứt văn hóa tại “biên giới Lào”, ông nhấn mạnh chữ biên giới (la frontière) có một ý nghĩa (đặc sắc), nó phá hủy quan niệm một cương thổ, một không gian tư tưởng chung cho cả ĐD. Theo ông, danh hiệu Indochine / Indo-Chine cho thấy hình đồ văn hóa: một bên chịu ảnh hưởng của Ấn Độ (Phật Giáo Theravada), một bên dưới ảnh hưởng của Tàu (Khổng giáo). Phạm Quỳnh quan niệm rằng ĐD ở trong sự liên tục của (chính sách) Đại Nam; theo ông, những phương tiện Pháp đã xây dựng mở đường cho sự thực dân hóa (của người VN) trên đất Lào, Cambodge.

Sự thể nầy đã khơi mào những bất hòa tương lai; và chính người Pháp đã tạo ra số người thực dân tại chỗ, để làm một cuộc thực dân hóa trong một cuộc thực dân khác của Pháp. Người Việt trên hai xứ nầy đã có những danh từ phân biệt văn hóa của họ và văn hóa người bản xứ.

1920 – 1945 chủ nghĩa quốc gia VN hay ĐD?

Quan điểm bảo thủ-

Thập niên 1930, Pham Van Bong, nhà báo bảo thủ đề cập ĐD như một sự cần thiết sống còn của người VN. Những kẻ theo chủ nghĩa quốc gia trẻ được huấn luyện trong các trường thuộc địa không còn theo đường lối Khổng Mạnh, họ xem sự đồng nhất và thống nhất Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ là điều cấp thiết, bởi lẽ sự phân chia nầy là do người Pháp tự ý làm ra. Họ không nói đến Lào và Cambogde nhưng phân vân giữa giấc mơ một ĐD do Pháp đưa vào đầu và hoài niệm một đế quốc Đại Nam thống nhất.

Giới bảo thủ và người Cộng Sản (mỗi bên một kiểu) đã hòa lẫn Đế Quốc Đại Nam và ĐD. Có giả thuyết cho rằng đó là ý nguyện quyết tâm của người VN làm sống dậy hướng tiến có trước khi Pháp đến là Nam Tiến, nay dùng ĐD làm phương tiện mới cho mục đích cũ. Do đó người VN quan niệm thực thể ĐD trong khung sườn Viêt Pháp và không để ý đến Cambodge và Lào.

Cường Để, trái  Phan Bội Châu
Ý niệm về một liên bang xuất hiện năm 1911 song hành với ý kiến thành lập một quốc gia VN phía Nam nước Tàu (Phan Bội Châu và Cường Để chủ trương một quốc gia độc lập). Để bảo vệ quyền lợi của mình, Pháp phải tìm một cấu trúc khác thay thế cho Union Indochinoise. Fédération Française ra đời 1941.

Sáng lập viên Đảng Lập Hiến Bùi Quang Chiêu đồng thuận những ý niệm của Sarraut, nhất là ở điểm tự trị của người VN, tảng quyền từ trung ương đến địa phương và tự do hành động. Đó là mốc dấu đầu tiên của chủ nghĩa quốc gia VN và làm nổi bậc khả năng trí tuệ của người Việt đã diễn dịch cụ thể các giá trị và ý niệm của Pháp.

Năm 1931, người chủ trương quốc gia VN xúc tiến chương trình phát triển kinh tế Phía Tây, lập đồn điền, khai mỏ ở Lào và Cambodge trong kế hoạch sáp nhập lãnh thổ.

Về phía Lào hoàng thân Phetsarath (1890-1959) tuyên bố cần phải có thể lệ điều chế việc nhập cư của người Việt hầu tránh việc thành lập một quốc gia trong một quốc gia; ông chỉ trích người Việt Nam chỉ nói tiếng Việt và làm mọi việc theo ý riêng. Tuy vậy, theo ông, ĐD không có thật, không có cái gọi là ĐD, ông đòi hỏi xét lại việc thực dân Pháp ủng hộ việc người VN cai trị đô hộ Lào.

Người VN rất đổi ngạc nhiên và bất mãn vì từ trước đến nay có người Lào nào dám nói như vậy. Từ đấy xuất hiện những phản ứng liên hệ đến Đế Quốc VN. Giới trí thức Cambodge chấp nhận rằng ĐD chỉ hiện hữu về phương diện hành chánh, nhưng phủ nhận tính chất đồng nhất về lịch sử, ngôn ngữ và địa dư của toàn vùng. Những lời bát khước nầy mở đầu sự xác lập “căn cước quốc gia” của Lào và Cambodge; và là vật xúc tác cho các cuộc nổi dậy 1930 và 1931 chống người VN.

Người Pháp ý thức rằng họ đóng vai vôi hồ, keo sơn, gìn giữ ĐD không để cho các phong trào quốc gia tương tranh gây bất ổn.

Về phía người CS, từ 1920, họ đã nghĩ đến cách mạng và quan niệm một quốc gia hậu cách mạng theo kiểu Xô viết, tức là hợp chủng. Họ đồng ý hy sinh những đặc thù lịch sử để chấp nhận quan niệm mới về quốc gia-liên hiệp. Đảng CSĐD chủ trương như vậy theo yêu cầu của Komintern (Đệ Tam QT). Người ta không hiểu thắc mắc của HCM ông nói ĐD gồm cả Thái Lan và Miến Điện; phải chăng ông muốn nói gồm hai xứ nầy thì quá rộng không kham với tình hình; hay ông muốn nói Komintern cần tóm luôn hai xứ nầy cho xong.

Những giao động 1940-1945

Giữa 1940 và 1945, ĐD chịu ảnh hưởng của những cuộc tranh chấp thế giới: Nga, Pháp, Nhật. Tình trạng nầy làm cho người quốc gia khó biết cách nào mà lựa chọn.

Các đại biểu người Việt tại Chambre Consultative Indigène de Tonkin (hội đồng tư vấn địa phương Bắc Kỳ) yêu cầu ban bố hiến pháp cho một liên bang ĐD gồm năm xứ, tại mỗi xứ có nghị viện gồm số nghị viên bằng nhau của người Pháp và Việt; liên bang nầy có quân đội riêng. Nói bình đẳng giữa các vùng là vậy, tuy nhiên chính quyền không chú tâm đến nguyện vọng Cambodge, Lào và các dân thiểu số khác. Thực tế bất công còn sâu sắc hơn; các bộ dân luật phân biệt rõ ràng Việt, Lào, Cambodge.

Hoàng cung Luang Pravang, Lào


Theo chủ trương của chính phủ Vichy, người Pháp muốn phục hồi những phong trào chủ trương quốc gia. Chính quyền bảo hộ đề cao những nét độc đáo của từng bộ tộc nhằm đẩy lui ảnh hưởng của Nhật. Nhu cầu phục sinh quốc tính của những vương quốc Cambodge, Lào và Việt Nam – nghịch thường thay – là nhờ người Pháp vô tình hay cố ý ngăn chận phát triển một thực thể gọi là ĐD bao trùm cả bán đảo nầy.

Bắt đầu 1942, người Pháp khởi sự dùng danh hiệu Việt Nam ngõ hầu đạt sự hậu thuẩn của giới ưu việt, xưa nay là một chỗ dựa chính của ĐD. Pháp chơi trò nước đôi, một mặt xác nhận sự liên kết với giới ưu tú VN và một mặt tăng cường sự giúp đỡ dành cho các dân thiểu số khác. Pháp đã bỏ hết công sức ngăn chận ĐD phân hóa tanh bành; nhưng ĐD không đáp ứng canh bài mong muốn khi ba xứ Trung Nam Bắc trở thành một nước VN.

Ngày 12 thg 6 năm 1945 (ba tháng sau khi Nhật chiếm toàn lãnh thổ), hoàng đế Bảo Đại chính thức công bố quốc danh là Viêt Nam.

HCM thay chữ “kỳ” thành “bộ”, Nam Bộ …để lên tiếng có mặt trên bản đồ mới. Sau khi Nhật đầu hàng, HCM thành lập VNDCCH. Sự thành lập VNDCCH xem như tiếng chuông báo tử của ĐD. Tuy vậy trong hàng ngũ CS vẫn còn nhiều người còn mang ý niệm ĐD, và chính nhờ vậy ĐD vẫn còn phần nào là một thực thể chính trị. ĐD vẫn còn mang hình ảnh lịch sử năm xưa người Việt giữ ưu thế; nay người Pháp sẽ ra đi thì người Việt thay vào làm kẻ bảo hộ và là những người lính canh giữ liên bang. Chứ còn ai vô đây!?

Sau thế chiến 2, người Pháp cố gắng bất thành gộp chung các chính phủ dân cử sau khi độc lập (Nhật khuyến khích Cambodge và Lào tuyên bố độc lập tháng ba và tháng tư 1945) trong cơ cấu liên bang ĐD. Người Pháp thất vọng vì ba xứ thành độc lập một cách dễ dàng. Việc ấn định các biên giới cẩn mật đã thể hiện sự giải tán ĐD. Từ 1945, người VN không được phép đi lại, định cư dễ dàng khắp nơi ở ĐD. Những biên giới nội địa trở thành biên giới quốc gia. Lào và Cambodge đặt các đồn trạm địa phương kiểm soát việc nhập cư và an ninh để xóa bỏ việc Việt Nam hóa lãnh thổ. Người Pháp thay đổi chiến thuật chơi lá bài thiểu số chống lại chủ trương quốc gia của người Việt, tức là số người không còn trong tầm kiểm soát của Pháp và đe dọa quyền uy của Pháp.

Từ 1951, đảng CS VN quyết định giúp các chính phủ mặt trận Lào và Cambodge giành độc lập và giành lại ĐD. Sự thể giống như sự lai tạo giữa hai môi trường khác biệt, giữa chủ nghĩa quốc gia (độc lập) và chủ trương quốc tế (liên bang). Người CS biết rằng ba nước phải tương lập, và thành lập mặt trận chung. CSVN đã trợ giúp Lao Issara va Khmer Issarak thành lập một liên minh quân sự.

1949 Mao Trạch Đông đã chiếm toàn Hoa Lục, dễ dàng vận chuyển quân dụng mọi thứ một cách dễ dàng. Chiến lược của CSVN đặt trên địa bàn rộng lớn, toàn thể lãnh thổ ĐD. Khu biên giới Lào Thái trở thành những đơn vị hành chánh quân sự, có hệ thống thâu thuế riêng, buôn bán bất hợp pháp kiếm lời nuôi chiến tranh.

Hai xứ Lào và Cambodge đều có nét chung: phe kháng chiến lệ thuộc hoàn toàn vào CSVN; phe chính phủ lệ thuộc hoàn toàn vào người Pháp. CSVN đã vận dụng thành công số người Việt trước đây đã nhập cư Cambodge và Lào, giúp mọi thứ, nhất là kinh tế chiến tranh.

Tại hòa hội Genève 1954, CSVN vẫn muốn duy trì một liên bang ĐD, nếu thành công họ sẽ kiểm soát tất cả vì ngay lúc đó họ đã chiếm 43% lãnh thổ hai nước Lào và Cambodge.

Người CS đã thực tế dung hợp giữa hai ý niệm không gian, một là VN và một là ĐD. ĐD thực sự chỉ hiện hữu trong đầu óc người Việt và người Pháp. Với người Việt ĐD hiện thân một quá khứ vương triều đã mất, với người Pháp ĐD là một vùng đất đầy tài nguyên cần được canh tân và sẽ được kiểm soát dễ dàng qua trung gian một chủng tộc. Nhưng sự trông cậy vào nhóm thiểu số nầy đã phá hỏng sự đồng nhất và an lành của một ĐD liên hiệp. Người VN, qua đặc quyền đặc lợi, đã thúc đẩy hình thành chủ trương quốc gia của Cambodge và Lào./  nguyên bản tiếng Pháp đây


=============================================================================

 

Vua Bảo Đại tuyên bố quốc danh Việt Nam
ngày 12 tháng 6 năm 1945

 ==================================================================


Friday, July 2, 2021

chuyện vặt trên tàu lửa

 


chuyện vặt trên tàu lửa

Như Qunh

1. Ga lẻ nên ít khách. Chỉ trên dưới ba mươi người đi. Hàng quán trong sân ga chỉ bán bánh mì nguội, bánh bao hấp chưa kịp nóng. Chiếc chiếu nhỏ có giá mười ngàn đồng cũng được khách mua vội để lên tàu ngả lưng. Số phận nó sẽ được vứt lại sàn tàu ở ga mà khách đến. Tất nhiên, không ai muốn ôm chiếc chiếu kè kè bên mình!
Đối diện đôi vợ chồng trung niên là một em gái nửa như sinh viên, nửa như tiếp viên quán nhậu, nửa như nhân viên ở quán gội đầu, mát-xa. Không ai biết nàng là ai; những người được nhắc tới trên đây chỉ thấy nàng có kiểu ăn mặc quá kỳ cục; theo cách nói của chị vợ anh trung niên, đó là cái quần què! chị ghé tai anh nói nhỏ. Và, khi cô gái quay lưng lại để treo giỏ đồ lên cái móc nhôm trên thân tàu, nửa chiếc mông của cô theo đó mà lộ thiên. Chị vợ trung niên đuổi chồng (đang dán mắt vào cái quần què đó): “Anh đi chỗ khác tìm ghế trống mà ngồi. Không có chỗ thì ghé căng tin uống bia đi, nhậu đi. Đến ga em gọi xuống”. Anh chồng đứng lên bỏ ghế đi. Mặt buồn xo.

2. Một người đàn bà còn quá trẻ, ốm tong teo đang lột đậu phụng luộc cho con ăn. Chị nói đang trên đường đưa con về gửi ông bà ngoại ở một tỉnh nào đó của đất nước này. Chị kể nghe xa xôi mơ hồ như chuyện của ai, như chuyện của trăm ngàn người là một!

“Công nhân tụi em như nhau cả. Vào Nam khi độc thân, gặp, yêu rồi cưới. Có người khỏi cưới luôn, tốn kém! Đẻ con ra gửi về ông bà nuôi giùm. Tiền trọ, tiền gửi con, tiền sữa, tiền gạo cơm, cá khô, trứng vịt… cộng lại luôn nhiều hơn tiền lương thì biết làm sao được? Thương con đứt ruột, cũng đành…
Con bé chưa nói được nhưng tự cảm điều gì đó từ giọng kể của mẹ nó, không ăn đậu phụng luộc mẹ đút cho nữa. Con bé phun phì phì ra ngoài, bắn trúng vào người ngồi ghế đối diện. Nó khóc gắt, tay ôm bấu lấy mẹ, tức tưởi. Dù vị khách ấy tự lấy khăn lau, nói không sao hết chị à nhưng người mẹ trẻ vẫn đánh đen đét vào mông con bé! Nó càng khóc dữ dằn hơn. Có cái gì đó như sự phẫn uất chất chứa trong lòng người đàn bà trẻ. Chị bất giác đẩy cửa sổ toa tàu lên, đưa con bé thò đầu ra ngoài. “Sợ chưa? Mày sợ chưa? Đời tao khổ lắm rồi”… Trong một chốc lát thôi, mẹ hiền trở thành mẹ mìn! Những người ngồi gần đó chứng kiến, can ngăn người mẹ trẻ đang hành hạ con bé. Người đàn bà trung niên mới đuổi chồng đi chỗ khác ngồi đứng dậy bồng con bé dỗ dành.

“Tội con mà em! Vợ chồng chị cưới nhau gần hai mươi năm nay không có con, chạy chữa suốt. Lần này cũng đi điều trị về”. Người mẹ trẻ tu tu khóc còn hơn đứa con gái nhỏ. “Chị ơi, em sẽ nhớ con lắm, nhớ con lắm”.

3. Tiếng tàu vẫn xình xịch, xình xịch lướt qua đồng hoang. Mới màu xanh của cây trái đó, giờ là hoang tàn, cỏ cháy. Vài cây bằng lăng cằn cỗi nở hoa tím lịm, đơn lẻ, buồn bã không ai ngắm. Nếu ở thành phố, gốc bằng lăng như thế trong chậu kiểng, biết bao kẻ trầm trồ, ngắm nhìn!
“Chôm chôm đây, chôm chôm vườn đầu mùa đây. Một ký ba mươi ngàn, hai ký năm mươi ngàn”. Ông già ngồi ghế sau chồm người lên, ghé đầu qua cửa sổ khi tàu dừng ở một ga xép. Ông bảo mua hai ký để mời mọi người cùng ăn cho vui. Bà vợ nói mua một ký thôi, quen biết gì mà mời? Ông liếc vợ một cái bằng con mắt không chút cảm tình. Dường như sự keo kiệt của bà vợ lộ ra hết trong câu nói làm ông tức giận. ”Ừ thì một ký”, ông nói nửa như hờn, nửa như… tuân lệnh. Ký chôm chôm đưa lên. Tờ năm mươi ngàn đưa xuống, tàu chạy. Chới với, chéo véo, cằn nhằn là những thanh âm của hai vợ chồng bị người bán chôm chôm lừa mất hai mươi ngàn đồng không trả lại trước khi tàu chuyển bánh.

4. Và cảnh đôi vợ chồng già hơn đôi vợ chồng cãi nhau vì trót mua chôm chôm. Ông đang nhấp từng ngụm rượu mà ông cho biết là ngâm từ ba mươi hai con cá ngựa tức mười sáu cặp! Hỏi vì sao phải mười sáu cặp, ông chỉ cười. Mồi nhắm là lọn chả gói lá chuối mua vội ở ga xép (ông không bị lừa tiền như ông đã mua chôm chôm). Bà vợ ông nói “tui mệt quá, hình như là say tàu’’. Ông đùa: “bà… say tình chứ say tàu gì, ngã đầu xuống đây nhé nàng?”.  “Nàng” của ông liếc mắt tình tứ rồi ngả mái đầu nửa bạc, nửa đen xuống đùi ông. Ông già kể đây là mối tình đầu của tui. Thất lạc nhau hơn bốn chục năm. Giờ hai bên đều chỉ còn… một nửa! Con cái trưởng thành hết nên… tác hợp cho đôi uyên ương già. Giọng ông kể tưng tửng khiến ai cũng phì cười. Ông nói họ đang đi thăm đất nước mình trước khi không đi được vì già nua hơn…

5. Cô gái mặc quần què nhìn cặp đôi hạnh phúc xuýt xoa. “Bà sung sướng quá! Đùi cháu toàn để đàn ông gối không à, chứ chưa có cảnh ngược lại. Cháu làm nghề… ‘’. Chị vợ trung niên háy mắt, ngắt lời. “Biết rồi đó. Tốt đẹp chi mà khoe ra đây’’. Cô gái im bặt mắt nhìn ra cửa sổ toa tàu… Ngoài đó một màu xanh xanh ngút ngát tầm mắt. Nhìn xa không biết là lúa hay cỏ. Tàu dừng ở một ga (cũng nhỏ) của miền Trung. Mẹ con cô công nhân chuẩn bị hành lý xuống ga. Người chồng trung niên khật khưỡng trở về chỗ ngồi lấy giỏ hành lý, không đợi vợ gọi xuống như lời chị đã dặn. Đó không biết là kết thúc hành trình lần thứ mấy họ vào Sài Gòn chữa bệnh vô sinh…

Họ xuống ga. Cô gái quần què liếc nhanh chị vợ trung niên “đồ vô duyên, chuyện mình không lo, xía vô chuyện thiên hạ”. May, tiếng huyên náo của những người rao bán hàng vặt giúp chị vợ vô sinh không nghe được lời dễ tổn thương.
Tàu lại chuyển bánh…

============================================================================

tám giờ tàu đi Katerini

Dà Lạt xưa kia

Xin xem thêm về bài hát ở đây




rest area








viết vội sáng July 4, 2017
Tôn Tht Tu

Tôi cũng như nhiều người trong thế hệ thất thập, hay quá độ bát thập, rất français, nghĩa là được huấn luyện trong tinh thần français, từ dictée cho đến chiếc xe đạp dò dĩa đuya ra nhôm của tây là số một.  Nói qua nói về, dư luận không mấy thiện cảm với Mỹ. Cuối thập niên 1950, sự hiện diện của Mỹ cũng khá rõ. Nhiều kẻ phiền trách mấy ông Hoa Kỳ thuê villa kiểu Pháp rồi sơn tường trắng thay cho màu vàng thổ huỳnh quen mắt, cửa thì sơn xanh lục thay vì màu rượu chát đậm. Mỹ, chúng rất tồi, uống chai bia còn một nửa đem cất tủ lạnh không dám đổ xuống đất. Tụi nớ tồi, mời tiếp tân mà chỉ cho ăn bắp rang (thật sự mời ăn "pop corn" khi đang quạt lò nướng thịt). Thằng cha Hitcock, trưởng phòng thông tin ở Chaffenjon cũ, không dám sai ai, lại đi lấy khăn chùi nước đổ giữa khu trưng bày hình ảnh, mất phẩm cách giới thượng lưu.

Về học thuật, chỉ có Pháp mới nêu ra sự phân quyền với luật gia Montesquieu. Nhưng nào biết trước Montesquieu, người Hồng Mao John Locke đã nói rồi và không những thế, đảo quốc nầy đã đặt những nền móng căn bản cho các định chế dân chủ, Voltaire đã học đem về cho Thế Kỷ Ánh Sáng. Thầy dạy luật và chính trị chỉ dùng sách Pháp.
Dẫn nhập cuốn sách mình viết về nước Mỹ, một tác giả Pháp, không nhớ tên, đại khái viết rằng dân Mỹ là dân ít biết và ít lo về triết học nhất thế giới (le seul peuple qui s'interesse le moindre - ou presque non - à la philosophie).

Đúng quá rồi chứ gì. USA không có những vĩ nhân như Jean Paul Sartre - Wikidepia gọi là a determined communist - ngồi giữa Paris cùng sư bà Simone de Beauvoir ca tụng Staline, ca tụng công thức communisme = humanisme. Đúng quá bà con ơi, humasime là một chữ đánh lừa theo một trong nhiều nghĩa là nhân đạo, nhân bản nhưng đã bỏ quên nghĩa rất tầm thường là bởi con người. [Đánh lừa như dịch chữ 'dictature du prolétariat' thành vô sản chuyên chính, sao không dịch quách là độc tài cho dễ hiểu. Công thức của Staline: socialisme = dictature du prolétariat + électricité)].
Humanisme, người cày thay trâu cũng là humanisme vậy. Tay người đập đầu người ở Sibérie, ở Suối Đá Mài cũng là humanisme. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm, cấy ni còn humanisme hơn. Humanisme là nhân đạo như ri: ba người dẫn trâu ra đồng, trời mưa; nếu chỉ có một chỗ che thì dành cho con vật, ba "human" nầy chịu ướt lạnh.

USA không có những triết gia ba xu nói phét phố chợ Saigon trong túi lận con dao giết người. Nước Pháp đã tạo nên một Trần Đức Thảo không giống ai (xin xem Chuyện Vui về TĐT). Nước có hình lục giác nầy cưu mang một thứ triết lý mà GS Nguyễn Đăng Thục nói phải vất bỏ trước khi ra phố, đi chợ, không khéo thì cầm nhầm đủ thứ.
Cứ theo sử mà nói, những người Âu lập nghiệp đầu tiên đã chán ngấy triết học của lục địa cũ đã cùng các thế lực đời và đạo đày ải con người tuy không đến như nông nô Trung Cổ. Họ muốn đi nơi khác để sống cùng trực giác tiếp xúc với Linh Thiêng. Dĩ nhiên họ cũng là người, lầm lẫn, gây thương tổn cho người bản xứ, phá hoại thiên nhiên.

Nói cho cùng có dân tộc nào lại không có một triết lý. Tác giả Mỹ Richard Hertz viết: Mỗi sáng khi lên núi hái chè, nông dân Tàu hát một khúc nhạc để ca ngợi công việc làm ăn, họ xem việc xuất hành nầy như cuộc hành hương vào Tây Phương Thế Giới. Những người chèo thuyền trên sông Volga chấp nhận (sự hiện hữu của) vũ trụ. Phụ nữ Madagascar làm việc ngoài đồng, cuốc cào nhịp nhàng như các vũ công hát múa trong đền làm đẹp lòng thần linh.

Những triết lý nầy đâu phải kiểu Descartes của ông tây bà đầm.
                                                                
Nói lung tung vung vít như trên là sau nầy, chứ khi đọc thì tin như bắp. Nhờ bức mành tre, tôi mới có cái nhìn khác. Số là lúc ấy đất Thần Kinh lậm phong trào làm mành tre giả; những ống trúc được thay bằng giấy cuốn tròn. Nguồn giấy cứng, dày có thêm màu mè là tạp chí Thế Giới Tự Do do Mỹ phát hành. Chút ít nói về Mỹ, tờ báo tường trình nhiều về sự định cư của gần triệu người Bắc, những cuộc kinh lý của Ngô Tổng Thống, nhà cửa giàu sang, bàn tủ cẩm lai ở Hố Nai Biên Hòa, những nhà thờ to lớn mới xây v.v… Tôi đi qua xin một cuốn, đi về một cuốn, góp thành đống. Đến khi muốn ra tay thì phong trào đã xẹp. Tuy còn đang lúc hy vọng vô Nam học, tôi bắt đầu thu dọn sách báo. 
Tôi tìm được vài số Informations et Documents. Tạp chí nầy không phân phát như Thế Giới Tự Do; một người nào ở phòng thông tin Mỹ cho.
Vì chỉ biết hai động từ être và avoir, tôi cố đọc thêm bất cứ thứ gì có trước mắt, để học thêm. Ngoài lý do đó, tôi chú ý nhiều hơn, các tài liệu của I&D giúp ích trong công việc chuẩn bị thi vào một trường chuyên nghiệp; tôi phải tìm hiểu các thể chế chính trị, nhân quyền và dân quyền; thực tế chính trị các nước độc tài đối với tự do.

Có một bài trông không liên hệ đến những chuyện nầy. Bài đề cập đến đô thị hóa, có một câu làm tôi giật mình: tiếng động, ồn ào náo nhiệt là kẻ thù của tự do tư tưởng.
Lạ quá xưa nay chỉ nghe kẻ thù tự do tư tưởng là Staline, Castro, Mao, Honecker, Franco ...
Câu nói nầy lại được thốt ra từ một quốc gia tự do. Có nghĩa tự do tư tưởng cần được bảo vệ trước sự xâm lấn từ mọi hướng.
khu tập thể Văn Chương 
Những kiến trúc cũ kỹ này vẫn tồn tại theo năm tháng gắn liền với cuộc sống của hàng trăm hộ dân nơi đây.
Oang oang khoe tự do tư tưởng của nhà ta, từ những loa sắt khắp nơi, nhất là các khu tập thể, là lối tiêu diệt tự do nầy mà thầy chú nhân quyền Liên Hiệp Quốc, mấy bố dân chủ giả hiệu làm sao mà thấy.

Sự bảo vệ tự do tư tưởng tinh tế nầy trong khoa đô thị hóa chỉ được quan niệm trong những đầu óc lấy nhân sinh, lấy đời người làm quý. Từ những đầu óc không lởn quởn với những thứ như biện chứng, đạo đức cách mạng, không lởn quởn với những huyễn hoặc như đảng là mẹ bác là cha.

“Tiếng động, ồn ào giết tự do tư tưởng”, lời xác quyết nầy không phải là triết lý hay sao? Triết gia trừu tượng xa vời, vẽ vời không đồng ý. Triết lý Âu Châu trống kèn ca hát chân thiện mỹ. Chân thiện mỹ đều là hư vọng nếu không dựa trên chỗ dụng. Triết lý Bát Nhã sẽ là hư vọng nếu không có chỗ dụng là độ nhất thiết khổ ách. Vì chân thiện mỹ, một thực khách đứng lên bục tiệc cưới nói: “Vì chân trong bộ ba chân thiện mỹ, tôi xin nói cho quý vị rõ cô dâu đã bị hải tặc hảm hiếp, tôi và cả tàu đều biết rõ”. Vì chân mà người nầy tồi tệ hơn thằng hải tặc trên biển. Ôi cái chân của chợ Bolsa, cái chân dài thòng lòi ra đủ thứ.

Nhận thấy sự nguy hại của ồn ào náo nhiệt, chính phủ các cấp đã làm các bức tường ngăn tiếng động để dân chúng gần các xa lộ sống an lành. Triết lý nhân sinh nầy đã thẩm nhập mọi kế hoạch đô thị hóa với mục tiêu làm cho cuộc sống chung êm đẹp hơn.

Image result for Sound Wall ConstructionNhiều bức tường chấn âm thanh là những điêu khắc (bar relief) nghệ thuật. Cỏ hai bên đường đều được cắt sạch; nhiều khúc là những vườn cây xinh đẹp như ở Florida với những cây palm xếp lối. South Carolina không kém chi. Georgia đang gia tăng những đoạn đường có hoa thường niên (annual); trồng nhiều hoa tử vi (myrtle), lily có hoa vào tháng tám nóng nhất trong năm; California có bông lau (protected grass) hay hoa trúc đào.

http://www.advancedetiquette.com/wp-content/uploads/2010/08/1-Exit-1-Mile1.jpgĐặc biệt, ít ai chú ý hằng vạn bảng chỉ dẫn to nhỏ đều viền trắng quanh có bốn góc bo tròn để khỏi nhức mắt, dù là hình mũi tên vẫn có chỗ tròn ở đầu mút.

Triết lý nầy còn đòi hỏi sự bình đẳng giữa người lái xe du lịch và nông cơ, cả hai cần có sự che chở chống nóng và lạnh, nông cơ phải có cabine và điều hòa không khí; các người chủ trương yêu cầu chính phủ giúp nhà sản xuất đến chỗ nầy.
Cũng giúp cho tự do tư tưởng, US đã ấn định một tỷ số giữa diện tích công viên và dân số tiểu bang, để công chúng có thể thư thả, thảnh thơi ngẫm nghĩ chuyện đời; công viên là phổi của thành phố.
Để bớt bực dọc cho người xê dịch đi lại, California buộc các trạm xăng phải có nhà vệ sinh, miễn phí hay thu tiền tùy chủ.

tiểu bang Connecticutt
ImageLâu nay, tiểu đệ chỉ nói chuyện trên trời như “tiếng thanh la bừng dội sóng Ngân Hà” nay xin nói chuyện dưới đất.

Ngày lễ độc lập nầy và những lễ kế tiếp, nếu sống trên xứ Cờ Hoa, các thân hữu có thể đánh ngựa sắt thăm bà con, du lịch trong sự thoải mái do mình đóng thuế xây lên mà không lo thiếu nơi tránh Tào Tháo rượt, không lo thiếu nơi chống chế áp lực của thủy thần. Hãy ngừng ở các rest area, chỗ chèn không thơm như Hotel Shearaton, Hillton nhưng sạch sẽ, không hạ phẩm cách của người dùng.--

Friday, June 25, 2021

đêm của huế

 

                                                        

đêm của huế

Tôn Tht Tu

Đêm của Huế ngày xưa buồn rất đẹp

buồn của tâm hồn đau đớn những xa xưa

buồn ai oán như tiếng rao hột vịt lộn.

Lộn đất trời lộn cả lòng ta;

Lộn úp mề mà đã chết nhăng răng

Bước xuống thuyền thì đã có kẻ phản bội

Chụp đầu ta đem luộc trứng vịt tươi.

Thôi cũng được,

để ta nếm chút rau răm cay đắng.

*

Đêm của Huế buồn vô hậu

Không vì em thì ta đã nhảy xuống sông.

Bên ni sông ta xem là vùng địch chiếm

nhưng bánh mì cơm gạo thiếu chi.

Bên kia sông còn sót lại nắng chiều

dư vị của một ngày nắng đẹp,

gọi đất Hàm Nghi; đất rất buồn đất khóc

bước vào đêm, có khi bụng đói ngủ ngon hơn.

*

Đêm của Huế, nhiều khi là đêm dài của lịch sử.

Huế của mình đau thương nhiều nhất trong lịch sử

tính từ ngày Chúa Nguyễn vô Nam.

Đêm của Huế là đêm của âm hồn

ngồi nguyền rủa gốc cây sanh quanh miếu

đêm oan hồn cũ mới đem đọ nhau vết thương thân thể,

bằng súng máy, bằng đao, bằng lưỡi cuốc, bằng búa tạ ….

Đêm của Huế ngày xưa buồn vô hậu.

24.06.2021


Thursday, June 3, 2021

lịch sử da diết như tình yêu

người intouchable da đen Ân Độ


 

lịch sử da diết như tình yêu

Tôn Tht Tu

(nhân mùa Phật Đản)

Tựu trung Thung Lũng Ấn Hà (Indus Valley) là một nền văn minh chưa từng có, ước lượng đã 15 đến 20 ngàn năm trước JC, đã có ngôn ngữ, và chính ngôn ngữ nầy là gốc của vô số ngôn ngữ trên thế giới thuộc nhánh Indo Europe; và là anh em chị em với Hy Lạp và La Tinh, (Arab cũng dung hòa giữa Hebreux và Hy Lạp), đã dùng hệ thống lưỡng cực hiện nay của computer, đã có những đô thị phát triển, có hệ thống vệ sinh công cộng, như đã được khai quật.

Chừng 3 ngàn năm trước Jesus, người Aryan du mục trên các đồng cỏ vào chiếm và tạo ra một nền văn hóa trái ngược với văn hóa cũ và đã tạo cơ duyên hình thành Ấn Độ Giáo (AG) Hindouisme. Văn minh cũ cao hơn nhưng chưa có thể lấn áp sức mạnh chính trị và kinh tế, thế rồi mở một đường mới cho lịch sử, như các cuộc xâm lăng lớn nhỏ, sẽ kéo dài ngoài sự dự đoán của nạn nhân.

Có thể cùng thời gian ấy, bên trời Tây nhóm người du mục của Abraham đến vùng đất của Philistine mở đầu một lịch sử đến bây giờ là Palestine và Do Thái.

Nhóm Aryan nầy rất thế tục trái với văn hóa duy nghiệm và huyền nhiệm hiện có. Nhưng AG vẫn có siêu hình gần giống với trào lưu của Indus Valley, và không thể bỏ qua khi nói đến Đông Phương; AG rất nhiều mysticism. Nhưng AG trách nhiệm về sự tồi tệ cho đến ngày nay. Trước tiên AG là một tôn giáo chỉ huy xã hội (society bound religion) như Muslim, TCG, quy định mọi thứ, ví dụ Đặng Văn Nhâm đã đọc Kama Sutra nói rằng việc hành dâm cũng được quy định trong AG. Khía cạnh thần học siêu hình đã có biến thái qua triết học riêng và chính trị hóa để làm công cụ cho tăng lữ. Chẳng khác kinh nghiệm ở Âu Châu từ “đêm đen Trung cổ’’.

Trong bối cảnh lịch sử ấy Phật Giáo xuất hiện. Lúc ấy xã hội Ấn đã phát triển về kinh tế như sự xuất hiện giới trung lưu. Cấp Cô Độc giàu có đã biếu Phật vườn cây làm nơi thuyết pháp; dân chúng đủ ăn và dư để cúng các thầy khất thực.

Sử gia hiện tại dưới ảnh hưởng của giai cấp đấu tranh đã cho Phật Thích Ca và PG đã thất bại trong việc canh cải Ấn Độ. Cũng như nhiều người đã trách Jesus không chịu cầm đầu dân Do Thái lật đổ cai trị La Mã. Họ cho PG sứ mệnh đấu tranh cho người nghèo nhưng hệ thống giai cấp, hệ thống hạ cấp là sản phẩm đặc thù của AG trong tay tăng lữ, như một vũ khí thần quyền và thế tục.

Đã một thời, học thuật tây phương cho rằng PG là con đẻ của AG. AG xuất hiện trước; hai tôn giáo đề cập đến nghiệp và không phải là nhất thần giáo; chữ God trong AG là một quan niệm vũ trụ; mặt ngoài AG là đa thần giáo (panthéism). Nhưng có khuynh hướng nói rằng PG xuất hiện để tiêu hủy AG, có sự cố gắng của hai bên chiếm vị thế lãnh đạo.

Cho PG tính chất đấu tranh không phải là chuyện sai. Nếu xã hội Ấn phân chia giai cấp đến cùng cực, thì Thích Ca (TC) nói con người là quý và ai cũng có thể thành Phật. Về thực tế xã hội, TC cho nữ phái xuất gia, và kinh Pháp Hoa nói Tiểu Long Nữ đã thành Phật. Kinh Kim Cang nói Phật khất thực nhà nầy đến nhà liền kế, không phải đi tìm nhà thích hợp giàu có mà khất thực. TC không dùng chữ viết tuy ngôn ngữ đã tiến bộ, vì không phải ai cũng biết đọc, chữ nghĩa chỉ dành cho một số ít. Như vậy khẩu truyền đến được với mọi người, rất bình đẳng.

Cuộc chạy đua tìm sự ưu việt lãnh đạo giữa PG và AG, nếu có, thì PG quá thất thế vì đối phương quá vững từ một lịch sử lâu dài và một tổ chức giáo hội (như một tôn giáo khác ở Tây Phương); mà PG lúc ấy, không như bây giờ, không lý tài, mặc dầu đã được giới thương gia ủng hộ; TC không muốn ai ca tụng mình, cũng không tự chế một thi sĩ (như Trần Dân Tiên) ca tụng mình, dân chúng tuy đã xem Ngài như thánh như thần vẫn dùng những biểu tượng tầm thường chỉ về Ngài lúc sống và cho đến khi Hy Lạp làm ra các tượng. Họ chỉ dùng dấu chân Phật, hay chiếc chiếu cuốn lại (viên tịch). Thứ đến, PG không có lãnh tụ khi TC nhập diệt và không có cán bộ.

Có lãnh tụ (Ca Diếp) và cán bộ (tu sĩ) chứ?! Con cá sẩy luôn lớn, cho nên Xá Lợi Phất đã được xem là lãnh tụ sáng chói nếu không yểu mệnh như Nhan Hồi của Khổng Tử. Nhánh đi về Tích Lan vẫn coi trọng XLP hơn Ca Diếp; Ca Diếp có vị trí tôn kính trong nhánh qua Tàu. Khi TC nhập diệt, các giáo phái ở Ấn thấy PG không còn lãnh đạo xứng đáng như thầy, họ đã đưa một số điều trong PG vào hệ thống riêng sau khi sửa đổi cho thích hợp. TC thành một ông thánh trong giáo hội TCG Vatican và Constantinople.

Nhiều học phái cho rằng Ca Diếp không có viễn tượng rộng rãi như TC, chỉ chú trọng đến Tăng Già mà không nghĩ đến bên ngoài, không cho đệ tử đi truyền bá các nơi. Xưa kia TC chỉ đóng cửa mùa hạ để huấn luyện và để dân chúng làm mùa, không bỏ việc để nghe giảng; đó là tập tục kiết hạ. Ca Diếp khi chủ trì cuộc quy tập kinh điển đầu tiên chỉ chú trọng tới luật và gom góp trong ba bộ gọi là Tripikata, ba cái thúng.

hình chãm trên cột đá và hình bánh xe Asoka

PG được vua Asoka giúp đỡ, vua cho dựng các cột đá ghi khắc lời kinh Phật như những huấn từ để thành người dân lương thiện. Những cột đá nầy đánh dấu bước hoằng pháp, cho đến tận Ai Cập. Trong thời Ca Diếp, PG đã phân hóa, nhưng PG đã bắt đầu qua hướng đông bằng con đường tơ lụa. Một nhánh đi xuống nam đảo Tích Lan và truyền đạo bằng thuyền cận dương đến mãi Nam Dương. Từ đó PG ngày nay được xem là tôn giáo truyền đạo mạnh mẽ và hòa bình nhất đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Sự phân hóa nầy có một vụ rất buồn cười, chia rẻ giữa hai phe nên và không nên cho các thầy giữ chút tiền trong túi để đi đò và ăn nơi không có tập tục cúng dường.

Tuy vậy PG nội địa Ấn thụt lùi, cùng thời với sự lụn bại của triều vua của Asoka. Pháp Hiển và Huyền Trang đến Ấn ghi nhận những nơi xưa kia đông đảo sư tăng tín đồ nay thành phế tích. Sự thụt lùi nầy đã xẩy ra trước khi muslim vào Ấn. Về tinh thần, lý thuyết PG không còn thuần túy; các học phái cho rằng PG đã hòa với các lý thuyết Ấn và đã cho ra Mật Tông.

Cho đến khi xem như bị xóa khỏi bán lục địa nầy, PG cũng không làm gì để cải thiện người hạ tiện. Đến thế kỷ 17, người intouchable thường bị giết để tế thần như con vật. Nếu đi qua một nơi cấm, intouchable sẽ bị chặt đầu, lấy đầu làm quả banh đùa chơi.

Muslim đã vào Ấn, tăng lữ AG đã thành người hợp tác, giúp Muslim cai trị, vì họ biết đường đi nước bước, có văn hóa cao hơn, họ được chính quyền mới cho làm trung gian cai trị nông thôn. Người trí thức địa phương đã giúp muslim Thổ cai trị, thành lập đế quốc rộng lớn nhất là Ottoman là một sự trùng hợp khác

Danh tự Ấn Độ ngày nay dùng trong chính trị cận và hiện đại cũng như trong ngành du lịch chưa phải là cả thung lũng Indus Valley; và PG lúc nguyên thủy hay thịnh hành với đại thừa đã nằm phía bắc.

Học giả Santina nói rằng PG ra đời trong sự dung hợp sự khác biệt giữa các quan niệm mà ông xem như sự nhập chung giữa sông Hằng và sông Yamuna. Ông muốn nói sự xâm chiếm của Aryan và văn minh tại chỗ của Indus Valley, mà người Aryan là nguyên khởi của AG. Khi nói đến sự dung hợp nầy Santina chỉ nói khía cạnh siêu hình triết lý của AG, như các học phái ngày nay xem AG là một phần rất lớn trong điều gọi là Đông Phương. Thật vậy, cuốn The Tao of Physic của Capra dùng các lối nhìn huyền nhiệm của AG, của PG của Lão Giáo như những mấu chốt tìm đến vật lý hiện đại.

Dùng hai chữ cho vui, AG có hình nhi thượng và hình nhi hạ. Cái thượng là những ông đạo xa vời ở trong núi, nghe kinh Veda như nghe nhạc, sống với những tư tưởng cao xa lâu đời hóa thạch và hình nhi hạ là duy trì một xã hội cầm đầu bởi tăng lữ, xuống thấp nhất là đa số nghèo và ngu dốt, đó là những người ngày ngày hốt phân bò phơi khô làm củi đốt, những người cho vay cắt cổ.

Okakura, tác giả Trà Thư, trong một tác phẩm khác đã phân chia một bên phân nửa trái đất là đi tìm phương tiện của đời sống, và một nửa bên kia đi tìm cứu cánh của đời sống. Bên chỗ cứu cánh, ông nói Tàu theo chủ trương cộng đồng (ông dùng chữ communism) và một bên ở Ấn là chủ trương cá nhân (individualism) tìm sự thể nhập vào bản thể vũ trụ. Cái nhìn lạc quan hòa đồng tư tưởng hòa đồng điệu sống, nhất là sự hội nhập qua về sau vụ xâm chiếm Aryan. Cũng như Santina, người Nhật nầy đã cống hiến cái nhìn về Ấn Độ, và là cái nhìn hiện có về tiểu lục địa nầy trong các sách Tây Phương và giáo khoa, trong đó VN cũng dùng trong phân khoa triết học.

Tất cả những thứ đó trong điều chúng tôi tạm gọi là hình nhi thượng của AG.

Hình nhi hạ, là sự sống thật sự và những bất công xã hội không được nói tới đầy đủ, thỉnh thoảng có những hình ảnh như một sông Hằng đầy xác chết.

Okakura dùng chữ communism theo nguyên nghĩa, chủ trương cộng đồng (viết trước sự xuất hiện CSQT 1917). Thật vậy, xã hội Tàu không có sự phân chia giai cấp rõ rệt, người nghèo có thể làm thừa tướng, mở lớp dạy đời. Có thể Okakura thấy danh tự chủ nghĩa cá nhân nhằm giải thích Ấn Độ không chú trọng đến đời sống các thể nhân bên ngoài vòng lũy tre làng. Từ đó Ấn Độ gồm những ốc đảo cô lập và độc lập với nhau.

Tàu thường có sự thay đổi triều đại mà trên lý thuyết do sự cơ cực của dân chúng như sự ra đời của nhà Chu. Ấn Độ không có những đổi thay ấy. Theo chuyên môn là không có cách mạng. Ánh sáng của khoa xã hội học ngày nay có thể giải thích. Thông thường ai cũng nghĩ một khi dân chúng chỉ có cái khố rách thì họ sẽ đứng lên đập đổ chính quyền, làm cách mạng. Sự thật trái ngược khi quá nghèo thì chỉ nghĩ đến cách tìm củ khoái và ước mơ, nguyện cầu.

Giới lãnh đạo có hai cái lợi. Bóc lột lấy của bỏ túi, và dân càng nghèo thì địa vị càng vững chắc. Đêm tối Trung Cổ kéo dài trong tình trạng nông nô. Cách mạng Âu châu thành tựu khi dân chúng tạm no và có thêm trí thức và thấy có khả thể từ tạm no đến no đủ, và ý thức no đủ như cứu cánh ít nhất trong đoản kỳ. Họ có động lực, không chấp nhận sự tích đọng hiện tại.

Hình nhi hạ của AG rất thực tế và có chính sách; không những họ khống chế giai tầng hạ tiện mà mọi giai tầng phải dậm chân tại chỗ. Sau gần chục ngàn năm đến thế kỷ thứ 7 AG mới đưa ra công thức rõ ràng: tất cả vì nghiệp, vì nghiệp có các giai cấp. Tuy vậy từ ngày đầu của giai đoạn Vệ Đà, quan niệm giai cấp đã có.

Xã hội chia ra: tăng lữ (Bà La Môn) / hành chánh quân sự, / thương gia doanh nghiệp / và thợ thuyền. Vì bất cứ lý do gì, kẻ đứng ngoài 4 tập thể ấy là hạ tiện. Nghiệp đã được dùng để giải thích các giai cấp như một định mệnh an bài, cứ vậy mà sống.

Tuy không nói ra, PG là trái bom gài vào ngôi nhà ấy. Thích Ca cũng như các học thuyết khác, công nhận có nghiệp, và là một yếu tố vô cùng quan trọng. TC nói chỉ tính từ lúc sinh đến lúc chết thì không thấy gì cả. Ngài muốn nói đến tính chất vô thủy của nghiệp nhưng nghiệp là hữu chung. Nghiệp không vĩnh cửu làm cho con người đời đời ở thiên đàng hay đời đời ở địa ngục. TC không quan niệm nghiệp là một thứ déterminisne, mà hậu quả của nghiệp sẽ thay đổi xấu hơn hay tốt hơn nhờ tác động của của con người. Theo bây giờ Ngài nói lên thứ tự do triết lý. PG là tôn giáo duy nhất trong khu vực nói đến giải thoát nhưng không chủ trương lật đổ theo kiểu cách mạng cận và hiện đại.

Vậy thì hình nhi hạ của AG không thể chấp nhận PG. Họ rất khoa học nếu không diệt được PG thì biến PG theo kiểu khác không nguy hại hay hữu dụng; ngày nay nhiều chính thể không diệt được tôn giáo thì biến tôn giáo thành công cụ, thành tà đạo.

PG tại bản chất không phải là một society bound religion, chỉ muốn là một nền móng văn hóa, đã không thành công trước sức mạnh có tổ chức như Lão Giáo nghệ sĩ lùi bước trước Khổng Giáo muốn giữ chính quyền để hành đạo. TC là nhân vật được các vua chúa kính trọng, xuất thân tại xứ Ma Kiệt Đà rất giàu mạnh, Đại Đế A Xà Thế là một đệ tử, TC đã giảng hòa các vương quốc, có sự hậu thuẩn của doanh nghiệp như Cấp Cô Độc… nhưng không lợi dụng thời thế để cầm quyền, để có thể phong vương người nầy người kia như các vua Âu Châu.

Vì vậy, trách cứ PG đã không làm gì và từ đó bất công xã hội còn mãi đến ngày nay; trách cứ nầy chỉ có giá trị như một thương cảm. Mà chỉ nên nói lịch sử đã không có cơ may là dùng nền nhân bản nầy. Nhưng lịch sử đã bỏ mất rất nhiều cơ may như đã bỏ mất quan niệm động của Heraclites để vào nhị nguyên nguy hiểm hiện nay: ta khác người, ta có thể giết người. (le moi et le non-moi) Lịch sử đầy rẩy những sự lựa chọn vô lý, nhỏ và to.

Sau 2500 năm, tại Ấn có người muốn dùng PG để giải quyết những bất công xã hội, giải thoát những người cùng cực. Ai?, thành công hay thất bại? Đó là phần cuối của tham luận vớ vẩn nầy.

Mấy ngàn năm nay tại tiểu lục địa nầy, giai cấp xã hội là một thực thể, chỉ biến dạng trong sách vở, trong lý thuyết nhưng căn bản vẫn là sự hiện diện của một số đông người dân bị cho là hạ tiện, hạ đẳng e chừng còn thua súc vật. Sự phân chia xã hội đã thành khung, có công thức thần học: hoàn toàn dựa vào nghiệp. Người Anh cai trị Ấn đã tận dụng tình trạng nầy, (tức là sự chấp nhận các đẳng cấp) nhưng thực hành theo quan niệm riêng là dành vị trí cao sang cho người Ấn nào đã thành TCG (Christian) và một số người đặc biệt; nhất là vào hệ thống công vụ hành chánh của thuộc địa toàn đế quốc. Tăng lữ tiếp tục giữ vai trò mại bản, giải quyết nhu cầu tôn giáo cho đại chúng.

Dĩ nhiên số người hạ tiện tiếp tục sự cơ cực. Theo nhận xét trên, những người sau nầy lãnh đạo một Ấn Độ độc lập thuộc thành phần người Anh ưu đãi, như Gandhi và Nerhu.

Người Anh thực tiển và nhiều tính chất doanh nghiệp (businesslike), đã thấy trước trào lưu giải thực của thế kỷ 20 nên đã nhẹ tay với giai cấp hạ tiện Ấn. 1932 giai cấp nầy được tham dự bầu cử cấp địa phương thôn xã. Thế nhưng người Ấn với nhau cũng lấn cấn không đồng lòng lợi dụng cơ hội nầy, ngay như Gandhi vẫn chủ trương duy trì hệ thống bốn giai cấp cũ, đồng thời cho giai cấp hạ tiện tham dự vào đời sống chính trị.

Người Anh trao trả độc lập đưa đến hiến pháp 1950 hủy bỏ giai cấp hạ tiện. Nhưng vẫn chỉ trên giấy tờ.

Giai cấp hạ tiện tiếng Ấn là Dalit, dịch qua Tây phương là intouchable. Vận động cho người Dalit đã manh nha từ 1880 nhưng không kết quả trước sự cấu kết AG và chính quyền thuộc địa. Vấn đề Dalit thực sự bắt đầu sau khi có độc lập và hiến pháp.

Lập luận của người dân, của học thuật của chính giới rất đơn giản: trăm dâu đều đổ trên đầu Ấn Giáo; dẹp bỏ AG thì tự nhiên Dalit không còn nữa. Như kiểu đấu tranh giai cấp, luôn có một kẻ thù của chính quyền, của giai cấp. Nhưng dẹp bỏ hiểu theo cách đặc biệt là khuyên người Dalit không theo AG nữa.

Lời kêu gọi nầy đã đem lại một số tín đồ cho TCG (Christian và Roman catholic); Shikhism, Zoroaster một số tôn giáo mới xuất hiện vào lúc ấy, và sau cùng là Phật Giáo.

Ở phần dẫn nhập tác phẩm dày cộm về dân luật, Vũ Văn Mẫu viết rằng PG đã hồi sinh mạnh mẽ ở Ấn Độ. Vị giáo sư cạo đầu chống ông Diệm nại bằng chứng là biểu tượng pháp luân nằm ngay giữa quốc kỳ Ấn. Quốc kỳ Ấn gồm ba màu: cam, trắng và xanh lục. Pháp luân nằm chính giữa màu trắng, phía trên là màu cam phía dưới xanh lục.

Bánh xe gồm 24 căm, minh thị gọi là pháp luân Asoka (The Ashoka Chakra) vẽ lại từ hình pháp luân nơi bức chạm Sư Tử, và nơi nhiều chiếu lệnh ghi trên cột trụ đá. Bánh xe nầy bắt chước pháp luân của Phật.

Lý do chọn biểu tượng nầy không vì tôn giáo. Sau thời gian nhục nhã dưới sự cai trị của Anh, người Ấn muốn tìm về một thời thịnh trị, đó là thời Asoka có mặt gần khắp thế giới với trụ đá ghi các chiếu lệnh của nhà vua tuy dựa vào giáo lý của Phật. Họ xem là một hành vi chính trị hơn là tôn giáo.

Nhận xét có phần chủ quan của Vũ Văn Mẫu có thể vì phong trào Dalit theo PG dưới sự lãnh đạo của Ambedkar trong sự chuyển hướng xã hội xẩy ra vào thời độc lập. Người Dalit bỏ AG, nhận các tôn giáo khác, những tôn giáo tạm gọi là thiểu số.

Ambedkar tuy thuộc gia đình Dalit được học bỗng ngoại quốc và trở thành nhà khoa học xã hội, hành nghề luật sư, tham dự vận động độc lập cho Ấn Độ. Ông kêu gọi mọi người nhất là Dalit bỏ AG gia nhập tôn giáo khác. Nhưng chính ông lưỡng lự, không biết theo đạo nào, trong lúc các tôn giáo như Christian, Zoroaster, Shikh đã có thêm rất nhiều bổn đạo. Ông nói ông đang lựa chọn. Thanh thế của ông ngày một lên nhờ vị trí cũ trong nền cai trị tiểu bang Bombay và địa vị chủ tịch ủy ban soạn thảo hiến pháp; hiến pháp nầy hủy bỏ giai cấp Dalit.

Ambedkar đưa ra một thứ PG gọi là tân phái, Navayana. Tân phái phủ nhận đại thừa, tiểu thừa và Kim Cang Thừa, không như các phong trào khác từ xưa mong giải thoát Dalit vẫn theo tiểu thừa Tích Lan. Tân phái hủy bỏ tứ diệu đế, và xem nghiệp cùng vô ngã là dị đoan; nghiệp, vô ngã và tứ diệu đế do tà đạo đưa vào. Ông chỉ chấp nhận bát chánh đạo là thứ thiệt của Thích Ca. Không chấp nhận lối tu theo Tăng Già.

Các tác phẩm của Ambedkar cho thấy một lý thuyết PG dựa vào Karl Marx mà ông cũng nói rõ trong một cuốn sách. Người ta cho rằng ông đi trước phong trào thần học giải phóng của TCG.

Tuy đã viết sách về PG, Ambedkar để mất 20 năm mới chính thức tự công nhận là người theo Phật ngày 14-10-1956, hai năm trước khi chết. Dịp nầy 380 ngàn Dalit cũng theo PG cùng với Ambedkar tại Napour; hai ngày sau ông đã làm lễ gia nhập cho 300 ngàn người khác cũng tại tiểu bang nhà, nơi ông làm việc trong chính quyền thời thuộc địa.

Phong trào của Ambedkar ngưng lại sau khi ông chết 1958. Ngày nay nhiều người Ấn và ngoại quốc cố gắng vận động theo kiểu quần chúng đi theo tân phái, kéo theo một số người ngoài giai cấp Dalit, với hy vọng tân phái phổ biến rộng hơn. Thống kê hiện nay cho biết PG Ấn dưới mọi hình thức chiếm 1% dân số.

Không rõ các tôn giáo mới ra lò thì sao, chứ tân phái PG của Ambedkar quá mới mẻ so với giáo lý sẵn có của Christian, Zoroaster, Shikh. Ambedkar, theo tập tục Ấn Độ, tự nhiên thành một ông đạo, một guru.

Chúng tôi không nói đến ảnh hưởng vào đời sống người Dalit, sự lượng định rất khó và nhiều ý kiến trái ngược. Nhưng hãy nhìn tân phái PG của Ambedkar theo lối PG cổ truyền.

Navayana là một sáng tạo cấp thời, có tính cách chính trị. Cùng giai đoạn nầy, Ne Win ở Miến Điện đưa ra chủ thuyết xã hội PG, dung nạp chủ nghĩa quốc gia, Marxisme, và PG; tại Cambodia, Sihanouk cũng đưa ra chủ thuyết tương tự, và ngày nay Trung Cộng và chư hầu theo công thức PG= giáo lý + dân tộc + XHCH. Nhìn lại thì thấy tân phái của Ambedkar không tha thiết với lý thuyết Marx mà chú trọng hoàn toàn giải quyết vấn đề tôn giáo của Dalit.

Ambedkar quy y Phật
22 điều “quy y” gồm hơn nửa để phủ nhận AG: tôi không chấp nhận Ấn Giáo / tôi không chấp nhận thần Visnu, Brahma, tôi không chấp nhận sự thể nhập của God, tôi không chấp nhận sự hành lễ của Bà La Môn, tôi phản đối lời nói rằng Phật là một thị hiện của Visnu.

Ambedkar không thấy nghiệp là quan niệm đã giam cầm mọi người mà TC cố giải thoát và cho biết nghiệp là hữu chung, không thể quyết định mọi số phận. Nay nói nghiệp là dị đoan không đủ đánh đổ ngôi nhà giai cấp của AG. Bát bỏ tứ diệu và cái nhìn vô ngã để ôm giữ bát chánh đạo thì giống như phía trên cà ra vát, vét tông mà bên dưới đóng khố, đi chân đất.

Phương pháp truyền đạo của TC là không nói đến kẻ khác, hãy nói giáo lý của mình, là ánh sáng thì bóng tối sẽ mất đi. Kinh Pháp Hoa rõ điều kiện: là mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, ở nhà Như Lai (nhu hòa, từ tâm và nhất thiết nghĩa không).

Buddhist socialism của Ne Win chỉ làm cho các chùa không rộn rã ồn ào vì du khách nhưng đã nhấn chìm Miến trong 30 năm độc tài, kèm theo mấy chục năm độc tài khác của đàn em, tạo ra tầng lớp quân phiệt, ngày nay trổi dậy. Socialisme bouddhistique của Sihanouk giúp ông hoàng làm con rối của Tàu và của Khmer Rouge.

Hiện nay Ấn Độ xem như không thay đổi về khía cạnh giai cấp, và PG mới chẳng làm gì đề khai phóng số người nầy. Dalit là một bài học mà các dân tộc bị xâm chiếm bị đô hộ cần học hỏi.

Dalit là một vấn đề của cả chục… ngàn năm từ khi Aryan vào tiểu lục địa nầy cho đến NGÀY NAY, vẫn chưa giải quyết mà còn trầm trọng hơn. Vậy thì những cố gắng ngụy trang như buông xả, từ bi, quên hận thù chỉ làm mất cái đẹp của chùa chiền vì quá nhiều bản hiệu loăng quăng.

Một lập luận hấp dẫn cho phe thất sủng: Aryan là kẻ ngoại xâm, không khác người Anh. Có người Ấn da khá đen và người Ấn giống tây trắng. Người thứ nhất là giống Dravidien, người thứ hai là Aryan. Ngày nay DNA cho biết người da trắng có chung mẫu số riêng khác với người Dravidien.

Người Dravidien bị dồn xuống phía nam và tràng qua đến Thủy Chân Lạp, miền Tây của VN bây giờ. Dalit đại đa số có màu da đen sậm như người Miên. Dalit ngày nay vẫn phải làm những việc xã hội cho là dơ bẩn, lo vệ sinh, hốt rác; đời sống rất cơ cực.

Đây chỉ là cảm quan cá nhân, không phải là sự điều tra xã hội học, hay bài lịch sử triết học Đông Phương. Chúng tôi chỉ muốn nói một thứ hình nhi hạ bị bỏ quên bởi những triết gia. Chúng tôi tiếp tục công nhận hình nhi thượng của Hindouisme không ra khỏi Indus Valley, trái lại còn là thành tố quan trong nhóm gọi là darmic religions: (darmic, darma, đạo pháp và huyền nhiệm).

Rất buồn, nhận xét tinh anh của Okakura (ĐP chỉ lo ý nghĩa và cứu cánh cuộc sống) chẳng tìm ra được ý nghĩa cứu cánh nào cho những người bị xâm chiếm mất đất sống, đất nhỏ của tiểu quốc, đất lớn của đại quốc. Nếu chuyện Dalit ở Ấn còn nguyên thì chuyện Palestine vẫn còn nguyên từ thời Abraham đến giờ cả chục ngàn năm.

Lịch sử, nó cũng da diết như tình yêu, em ơi, mưa nắng còn dài, lịch sử còn dài..….---

==================================================================

thảo nguyên Mông Cổ
=================================