add this

Saturday, February 19, 2022

Lạc Việt ta và Lạc Việt Tàu


Lạc Việt tàu, Lạc Việt ta

The Lạc-Việt, the Vietnamese, and the Zhuang

Hong Hai Dinh and Liam C. Kelley, TTT dịch

Tổng quát trên thế giới ngày nay, thế kỷ 21 là thời đại quốc tế và tin học, ai cũng cho là đúng rằng dân chúng và văn hóa của ngàn năm đầu tiên trước TC không quan trọng và không lấy gì đáng tin. Nhưng thu nhỏ nhãn giới ở VN và Tàu thì nhận định nầy sai lạc, vì hai xã hội nầy chú tâm đặc biệt và sâu sắc dùng quá khứ xa xôi làm phương tiện tạo dựng và củng cố bản chất (identity, căn cước) trong thời đại hiện kim. Một số người cho rằng sự móc nối xã hội hiện tại và quá khứ xa không gì khác hơn là công việc của các chính quyền độc tài nhằm duy trì tinh thần quốc gia. Nhưng hành vi nầy ở VN và Tàu thì phức tạp hơn nhiều, căn cứ vào sự kiện là các học giả hai nơi khi quán xét bản sắc riêng lại dùng chung một nguồn tài liệu.

Bài viết nầy phân tích hiện tượng nói trên và xem xét vai trò của Lạc Việt (Luoyeu) trong cố gắng của hai nước cả một thế kỷ trong mục đích tạo dựng một căn cước cho người Việt ở VN và cho nhóm thiểu số Zhuang (Tráng) ở bên Tàu. Khi dùng chung một nguồn tin tức với hai mục tiêu khác nhau, học giả VN và Tàu đã thay đổi ý nghĩa của danh từ nhân chủng học (ethnonym) 'Lạc Việt' theo nhu cầu riêng.

Nguyên thủy là một tên ngoại nhập (exonym) mà người Hán đã dùng 2.000 năm trước để chỉ những cộng đồng sống trong vùng Hoa Nam, danh xưng Lạc Việt ngày nay được các tác giả VN và Tàu dùng như tên tự xưng (autonym) để chỉ tiền nhân tổ tông người VN và của người Tráng (Zhuang). Sự biến dạng từ một danh xưng ngoại nhập đến danh hiệu tự xưng đã xẩy ra nhiều lần, nhiều lúc ở hai nước nầy. Trong trường hợp VN, cố gắng đẩy mạnh củng cố ý thức về một căn cước quốc gia bằng cách nối kết người Việt với Lạc Việt trong hai thập niên 1950 và 1960. Kết quả ngày nay ai cũng xem sự nối kết nầy đương nhiên như vậy.

Trong trường hợp Tàu, thì 15 hay 20 năm nay mới có người ra công kết nối người Tráng và Lạc Việt xưa. Hiện thời chưa thể lượng định chính xác kết quả nhưng dự đoán rồi ra sự kết nối người Tráng và Lạc Việt xưa sẽ được chấp nhận như đương nhiên là vậy, không khác trường hợp của VN. Cố gắng nầy của Tàu đưa đến nhiều câu hỏi về hậu ý của Tàu trong hành động nầy, nhất là cách chọn thời điểm.

Với tư cách nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cố sức trình bày cách thức VN và Tàu quan niệm giống nòi và sự kế tục từ Lạc Việt / Luoyue xa xưa. Cả hai bên đều có những tầm nhìn vượt qua thời gian và không gian, và xuyên qua các học giả từng vùng tạo ra các ảnh hưởng khác trong người Việt và người Tàu.

Lạc Việt, tên ngoại nhập và tên tự xưng

Trong các sử liệu tiền tân thời (trước khi giao tiếp với Tây Phương) của VN và Tàu, hai chữ Lạc Việt / Luoyue [駱越 / 雒] được dùng để chỉ nhóm người Việt / Yue 越 thuộc một khối người rộng lớn hơn gọi là Bách Việt / Bai Yue 百粵/越. Trong sử Tàu, chữ Việt / Yue 越/粵 là một tộc danh (ethnonym) dùng để chỉ tổng thể các cộng đồng khác biệt cư ngụ trong vùng Hoa Nam hiện thời và các xứ phía bắc của Đông Nam Á và phân thành những nhóm nhỏ như Lạc Việt, Âu Việt 甌越, Mân Việt 閩越. Danh từ Bách Việt xuất hiện lần đầu tiên trong Lã Thị Xuân Thu 吕氏春秋, đúc kết chừng năm 239 trước TC, ở nước Tần sau Chiến Quốc Đông Chu. Nó xuất hiện nhiều lần hơn, trong sách sử của Hán Triều, nhưng không phải là danh tự duy nhất để chỉ các cộng đồng sống ở Hoa Nam; sách còn dùng những chữ khác như man 蠻 và di 夷. Nhưng tộc danh rõ rệt hơn, cá biệt hơn là Lạc Việt tiên khởi xuất hiện trong Hán Sử 漢書 trong chương Cổ Quyên Chi Truyền 賈捐之傳, tiểu sử Cổ Quyên. Chương nầy nói rằng người Lạc Việt có tục cha con đều tắm chung trong cùng một dòng sông. Tuy nhiên không rõ Lạc Việt là một vùng, một tiểu quốc, một nhóm người cùng chủng tộc hay cùng văn hóa.

Nhưng có điều chắc là Lạc Việt là một danh tự ngoại nhập (exonym) để chỉ nhóm người không thuộc Hán tộc, sống quanh biên giới phía nam của đế quốc thuộc Hán triều. Bao nhiêu thế kỷ sau cho đến thế kỷ 20, học giả VN và Tàu bắt đầu ghép cho danh xưng Lạc Việt một qui chế tự tại tự xuất. Học giả Tàu lập luận rằng Lạc Việt là tổ tiên của cộng đồng chủng tộc Tráng hiện sống trong Vùng Tự Trị Tráng ở Quảng Tây, các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông, Hồ Nam và một số ít ở châu thổ Hồng Hà.

Trong lúc ấy học giả VN lập luận rằng Lạc Việt là tổ tiên người Việt, (gọi là người kinh), chiếm đại đa số dân cư VN.

Thế nhưng không xã hội nào trưng ra bằng chứng Lạc Việt đã là danh hiệu tự xưng của nhóm dân cư được xem là tổ tiên của người Việt hay người Tráng. Tuy vậy, họ vẫn tiếp tục việc nầy. Ví dụ học giả Trần Trí Dõi, một mặt cho rằng người Việt là con cháu của Lạc Việt, một mặt nói rằng danh tự Lạc Việt người VN chỉ dùng để chỉ tổ tiên lịch sử của họ nói trong sử Tàu như tập Hán Sử, chứ không phải là chính họ trong tình trạng hiện tại. Theo ông, ý nghĩa nguyên sơ của danh tự nầy đã mất, và chừng từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, nó trở lui trong ngôn ngữ VN, có nghĩa là tập thể tổ tiên xưa của người Việt. Mãi đến thế kỷ 20, học giả VN mới xem Lạc Việt là tổ tiên xa của họ, trong khi cần đến gần một thế kỷ nữa, thế kỷ 21, người Tàu mới nại rằng Lạc Việt, Luoyue là tổ tiên của người Tráng. Dẫu sao khó lòng mà nói hai lập trường nầy đúng sai thế nào.

Theo sự phân loại ngữ học, ngôn ngữ người Tráng thuộc nhóm Kam-Tai trong đại loại Tai-Kadai. Người nói tiếng Tai-Kadai ngày nay ở từ Đông Nam Trung Hoa cho đến tiểu bang Assam Đông Bắc Ấn gồm các sắc dân Tày, Thái, Nùng, Lào và Lồ sống trên lãnh thổ VN. Trong lúc ấy, Việt ngữ thuộc nhóm Mường trong đại loại Á Úc (Austroasiatic).

Thực tế, rất khó xẩy ra sự kiện các cá nhân nói các thứ tiếng khác biệt là hậu duệ có chung tổ tiên. Vài học giả Tây Phương nghĩ rằng người Hán cổ đại dùng danh xưng Lạc Việt để chỉ các nhóm người nói những ngôn ngữ khác nhau và có thể có vài điểm chung về văn hóa, chứ không phải một nhóm sắc tộc có đặc tính rõ rệt và nói cùng một thứ tiếng. Nếu đúng như thế nầy thì Lạc Việt – như một nhóm văn hóa – có thể là tổ tiên vừa là của người Việt vừa là của người Tráng. Nhưng học giả VN và TH không nhìn Lạc Việt theo lối nầy.

Họ nhìn Lạc Việt như một sắc tộc riêng biệt trong quá khứ và có liên hệ mật thiết với một nhóm sắc tộc riêng biệt trong hiện tại. Nhóm người riêng biệt hiện tại là công đồng Việt hay cộng đồng Tráng. 

Một điểm mà các học giả tuy khác quốc tịch đều đồng ý là danh tự Lạc Việt / luoyue không từ nguồn gốc Tàu. Học giả Vũ Thế Ngọc lập luận rằng “lạc” là tiếng Việt giống như chữ “nước”, có nơi đọc là “nác”. Nhà ngữ học TH Liang Tingwang cho rằng Lạc Việt do chữ của người Tráng là “roegvet” hay “loegvet”. Tại Quảng Tây có thị trấn tên Lowo (陸斡鎮 Lục Oát Trấn) mà người Tráng đọc là “Roegvet” hoặc “Loegvet,”, Lạc Việt từ đó mà ra, ông nói rằng nó có nghĩa là đào đất, (oạt điền 挖田), cũng có nghĩa là loài chim đào đất (oạt điền chi điểu 挖田之鳥). Con chim nầy là vật tổ của Lạc Việt.

Nhà ngữ học Pháp Michel Ferlus thì nghĩ khác. Theo ông, tộc danh Lạc Việt gồm hai thành tố, hai thành tố nầy là chuyển ngữ phát âm của hai chữ tại chỗ, địa phương. Hai chữ nầy còn lưu dấu trong các ngôn ngữ thuộc hai đại loại Á Úc và Tai-Kadai. Theo ông, Việt, yue do chữ wat mà ra. Wat có nghĩa là đất hình tròn quanh một khu định cư. Trong lúc ấy lạc do chữ rak hay p.rak có ghĩa là người, dân chúng. Chữ nầy còn có nghĩa môn (củ môn), từ đó có thể đoán là nhóm người cùng trồng củ môn, dần dần biến nghĩa thành một khu vực có người sinh sống. Nhiều người phê bình gay gắt phương pháp luận nầy, nhưng ý kiến của Ferlus gần với ý nghĩa trong Hán Sử, người Tàu thuộc giống Hán muốn nói Lạc Việt gồm một tập hợp dân chúng có nhiều nguồn gốc sắc tộc nhưng có những nét văn hóa và sinh hoạt xã hội giống nhau.

Tiếp đến chúng ta gặp vấn nạn: trong số tập hợp những chủng tộc ấy, ai là Lạc Việt, ai là Việt nầy Việt kia? Về phương pháp luận, lấy gì mà nói chữ nầy chữ kia được dùng để gọi một cộng đồng người. Ferlus dùng phương tiện phát âm (phonetic) nhưng không nên loại bỏ phương pháp dùng ý nghĩa. Tùy theo cách viết, “lạc” là con ngựa trắng có bờm đen (駱) hay con chim cú con (雒); trong lúc ấy “việt /yue (越) nghĩa là quá mức, qua khỏi bờ cuối. Thật khó giải thích vì sao các chữ ấy đi cùng nhau, mang ý nghĩa gì.

Dù theo nguyên gốc nghĩa gì, không có bằng chứng rằng xưa thời cổ đại, người Việt và người Tráng tự nhận mình là Lạc Việt /Luoyue. Phía người Tráng, họ không có truyền thống dùng ký tự mà viết sử. Nhưng người Việt thì dùng sử ký rất sớm. Tuy vậy, cho đến giữa hai thế kỷ 14 và 15, sử VN không có chỗ nào dùng danh từ riêng Lạc Việt. Thay vào đó, sử VN gọi những trú nhân đầu tiên ở châu thổ Hồng Hà là “Lạc dân” 雒民, dựa theo sử ký xưa của Tàu.

Ví dụ, Li Daoyuan (chết năm 527), tác giả Thủy Kinh Chú 水經注, trích dẫn một tác phẩm đã soạn từ trước Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域記 mô tả các điều kiện sinh sống tại đây trước khi người Hán đến đô hộ hoàn toàn. Trích: Trong thời xưa, trước khi Giao Chỉ có quận huyện, khu vực nầy gồm các cánh đồng “lạc”. Những cánh đồng theo nhịp thủy triều lên xuống. Dân chúng khai thông những cánh đồng nầy để trồng trọt, và họ được gọi là người Lạc, dân Lạc. Lạc Công, Lạc Hầu được bổ nhiệm cai quản các quận huyện; nhiều nơi còn có thêm Lạc Tướng. Lạc tướng mang quân tước đồng bằng dung vải màu lục. Sử gia VN Lê Tắc (1263-1342) trích lại những dữ kiện nầy trong cuốn An Nam Chí Lược 安南志略 khi nói về những trú dân đầu tiên trong châu thổ Hồng Hà. Lê Tắc không nói những trú dân nầy là tổ tiên người Việt, ông chỉ mô tả điều kiện sinh hoạt trong vùng nhưng người đọc có khuynh hướng cho đó là tổ tiên người Việt trong những thế hệ kế tiếp đến ngày nay.

Những sách sử kế tiếp mới hơn cũng không nói đến hai chữ Lạc Việt. Đơn cử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越史記全書; Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục 欽定越史通鑑綱目, hai tập nầy chỉ nói Ngã Việt 我越 hay Đại Việt 大越 để chỉ vương quốc VN và không dùng hai chữ Lạc Việt. Tuy nhiên Sử Ký chính thức của VNCS từ 1945 cho đến ngày nay dùng tộc danh (ethnonym) Lạc Việt để chỉ trú dân miền Hoa Nam và Bắc Việt trong những thế kỷ trước TC và xem họ là tổ tiên của người Việt hiện nay.

Đào Duy Anh (1904-1988) là sử gia góp công nhiều nhất trong việc phát triển quảng diễn ý niệm rằng Lạc Việt là tổ tiên người Việt hiện thời. Ông đã đề xướng quan niệm nầy từ thập niên 1940 trong cuốn Nguồn Gốc Dân Tộc Việt. Về phía Tàu, ý niệm Lạc Việt là tổ tiên của người Tráng mới được khai triển gần đây không quá 20 năm.

Người Pháp bàn về nguồn gốc người Việt

Song song với việc chính quyền Pháp chiếm toàn cõi VN vào thế kỷ 19, các học giả Pháp bắt đầu ngay công việc tìm hiểu dân cư VN là ai, ra làm sao và có nguồn gốc thế nào. Lúc ấy danh từ “Việt” chưa xuất hiện trong ngôn ngữ (viết và nói). Học giả Pháp gọi người mình là annamite, lập tự theo danh từ người Tàu gọi An Nam là vương quốc VN. Đồng thời, nhóm ưu tú cai trị xứ mình trong triều Nguyễn lại dùng danh từ “hán” để chỉ thần dân trong vương quốc.

Tiếp đến từ những năm đầu tiên của thế kỳ 20, học giả VN tiếp xúc với Tây Phương và hiểu quan niệm Tây phương về “quốc gia, dân tộc”, họ gọi người mình là Việt. Tuy bây giờ là một danh từ chắc chắn để chỉ dân chúng trên quốc thổ nầy, “Việt” chưa thành một thực tại ngôn ngữ trong thế kỷ 19.

Trong khi quan niệm quốc gia, giống nòi, là những đề tài sôi sục ở Âu Châu, giới ưu việt cai trị ở VN chú trọng đến phả hệ chính trị, kết nối triều đại đương thời vào chuỗi kế nghiệp chính thống từ một hoàng đế thần thoại là Thần Nông. Thân thế của Thần Nông và các vua kế nghiệp được đề cập trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, thế kỷ 15. Thời điểm nầy cách xa mấy ngàn năm, tính từ thời gian giả định Thần Nông có thật.

Sự cách biệt thời gian nầy đã phá bỏ tính chất khả tín của sử Việt. Học giả Pháp phải đi tìm trong sử liệu cổ đại của Tàu. Trong khi làm việc nầy, họ cũng nêu lên những viễn tượng mới, những nhãn quan mới. Sử Tàu nêu các danh từ riêng như Mân Việt 閩越, Âu Việt 甌越, Ðông Âu 東甌, Tây Âu 西甌 và Lạc Việt. Những danh tự ấy chỉ những khu vực hay dân chúng sống trong đó. Vùng nầy chạy từ Giang Trấn bây giờ xuống Bắc Việt. Hai chữ Âu và Việt được dùng với các chữ khác để phân biệt Âu nào, Việt nào. Các nhà nghiên cứu cho rằng Lạc Việt sống gần châu thổ Hồng Hà.

Nhắc lại, sử Tàu có ghi Bách Việt, tổng thể những nhóm người sống ở Hoa Nam. Do đó Việt như một mẫu số chung. Căn cứ vào các sử liệu nầy, hai học giả Édouard Chavannes (1865–1918) và Léonard Aurousseau (1888–1929) đưa ra lý thuyết cho rằng trong những thế kỷ trước TC, các nhóm dân Việt từ từ di chuyển từ châu thổ Dương Tử đến châu thổ Hồng Hà. Trên đường di dân nầy, họ hình thành những nhóm nhỏ chi phân, trong đó nhóm Lạc Việt xuống phía nam sâu nhất trong các nhóm. Aurousseau tìm thấy một danh từ riêng liên hệ đến tổ tiên Lạc Việt, thuộc gia đình cai trị trong vùng bây giờ là tỉnh Phúc Kiến, vương quốc Mân Việt. Thế kỷ thứ hai trước TC, Sử Ký Tư Mã Thiên kê tên gia đình quyền thế xứ Mân Việt là Sô 騶. Gần 500 năm sau, học giả Từ Quảng 徐廣 bình chú sách của Tư Mã Thiên đã viết rằng Sô 騶 đôi khi viết thành Lạc/Luo 駱. Aurousseau, cho đó đã đủ bằng chứng cho thấy những người cai trị bà con với vua chúa Mân Việt tuy đã định cư ở châu thổ Hồng Hà. Học giả Âu Châu xem xét các trống đồng khai quật trong châu thổ Hồng Hà thì thấy hình người đứng trong thuyền, đội mão có lông chim, để nói rằng vật tổ Lạc Việt là một con chim. Tác giả Claudius Madrolle cho rằng hình người trên thuyền muốn nói rằng người Lạc Việt có khả năng đi biển và dùng đường biển di dân từ Phúc Kiến đến Bắc Việt, họ bà con với người Mân ở Phúc Kiến.

Lạc Việt của Đào Duy Anh (ĐDA)

Các học giả nêu trên tuy tin ở sự liên hệ gia tộc giữa Bắc Việt và Phúc Kiến, qua chữ ‘’lạc’’, họ không dùng hai chữ Lạc Việt để chỉ tổ tiên người Việt hiện nay. Nhưng từ thập niên 1940, ĐDA đề xướng tên mới đầy đủ là Lạc Việt trong mục đích tìm kiếm tổ tiên người VN.

ĐDA chỉ tổng hợp và làm mới, tân trang, kết quả nghiên cứu của Aurousseau và Madrolle. Ông lập luận rằng Lạc Việt là tổ tiên trực tiếp của người VN và nguyên thủy xuất phát từ Phúc Kiến. Ông cũng xác nhận từ trước hai chữ Lạc Việt không được dùng trong thời kỳ tiền tân thời; nhưng ông nói chữ ‘’lạc’’ trong sử Tàu là nói về vùng đất bây giờ là VN và dân cư sống ở đó.

Căn cứ kết quả nghiên cứu của các tác giả Pháp, ĐDA đưa ra một diễn trình (scenario) như sau. Người Lạc Việt xưa là những ngư dân đã theo gió mùa đi thuyền từ quê quán, Phúc Kiến bây giờ, xuống phía nam đến chỗ bây giờ là VN. Trên các cuộc thủy hành họ quan sát hướng bay của một loài chim gọi là Lạc. Họ dùng chim Lạc làm vật tổ, đội mão có lông chim, khắc hình chim vào trống đồng, vẽ hình chim lên thuyền.

Tuy ĐDA bị hạ bệ qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm, chính quyền đã dùng lý thuyết của ông làm lý thuyết chính thức về lịch sử: Lạc Việt là tổ tiên của người Việt hiện nay. Lời minh định nầy của ông được ghi rõ trong sách giáo khoa hay bất cứ sách nào do chính quyền cấp phép.

Các nhà phê bình không dám đụng tới lý thuyết nầy, họ chỉ phê bình ĐDA những điều ngoài rìa khi ông viết về luận thuyết nầy. Họ không đồng ý với ĐDA rằng chim lạc là vật tổ; vì sách Tàu nhiều khi viết lạc là con ngựa trắng có bờm đen.

Cũng ở ngoài rìa, vài học giả không đồng ý với ĐDA khi ĐDA hiểu chữ lạc như một chữ Tàu. Theo họ, lạc là tiếng việt, biến thiên từ chữ nước đọc là nác. Thủy Kinh Chú nêu trên cho thấy vùng đất mới theo thủy triều lên xuống, nước là yếu tố chính trong các sinh hoạt, người sống trong vùng là người nước, người nác sau thành Lạc. Đó là ý kiến của hai ông Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc viết năm 1974.

Tính từ lập luận của Aurousseau và Madrolle và sự biến chế tổng hợp của ĐDA, lý thuyết cho rằng Lạc Việt là tổ tiên người Việt tương đối mới, ý chính cuối thế kỷ 19, tổng hợp tô điểm từ thập niên 1940. Nhưng thời gian đó vẫn dài, dài hơn, xưa hơn cố gắng minh chứng Luoyue / Lạc Việt là tổ tiên người Tráng ở Quảng Tây, TH.

Cũng giống như ĐDA lên tiếng đầu tiên, một học giả Tráng phất cờ đầu tiên; chúng tôi muốn nói 黃現璠 Hoàng Hiện Phan.

Pháp và nguồn gốc Tráng

Có sự trùng hợp kỳ thú. Nếu Aurousseau và Madrolle đã ảnh hưởng quyết định trong việc xây dựng lý thuyết Lạc Việt là tổ tiên người Việt, lý thuyết Lạc Việt là tổ tiên người Tráng cũng bắt nguồn từ một người Pháp khác.

Nhiều nhà Hoa học Pháp đã ảnh hưởng giới trí thức Tàu. Nhưng trong vụ tổ tiên người Tráng, Albert Étienne Jean-Baptiste Terrien de Lacouperie (1844–1894) vô cùng quan trọng. Trong loạt bài viết xuất bản trong hai thập niên 1880 và 1890, nhà Hoa học nầy (sinologist) đã khai triển một phương cách mới để giải thích và tìm hiểu lịch sử TH. Lacouperie đối kháng quan điểm của thời ông cho rằng văn minh TH phát triển riêng rẻ, tự nó hình thành, độc lập đối với các vùng khác trên thế giới. Theo ông, từ thời xưa, rất xưa nhiều bộ lạc từ Lưỡng Hà Địa (Mesopotamy) đã di dân vào Tàu và hòa lẫn với dân địa phương kém văn minh hơn. Một trong những nhóm đó là tổ tiên của sắc dân Tráng tại Quảng Tây.

Học thuật Âu Châu xác nhận sự hiện diện một “gia đình” ngôn ngữ chung gồm Thái Lào Shan (Miến Điện) và nhóm Tai-Kadai. Lacouperie là một trong những người đi đầu trong cuộc nghiên cứu nầy. Ông cho rằng những người nói các thứ tiếng ấy là trú dân đầu tiên trên đất TH đã hòa hợp chung sống với người mới tới từ Tây Á đem theo bền văn minh Babylone, hai chục thế kỷ trước TC. Nhiều học giả Âu Mỹ theo chân Lacouperie. Những ý kiến nầy khác với những gì được ghi vào sử Tàu nhưng từ đầu thế kỷ 20 được các học giả tân thời chấp nhận. Hoàn cảnh mới là sự chống đối nhà Mãn Thanh giúp cho trào lưu tư tưởng nầy sống động hơn.

Vì nhiều lý do, kết quả nghiên cứu của Lacouperie không được chú ý. Tuy nhiên qua ông và đồng nghiệp, trí thức TH làm quen với các quan niệm Tây phương về dân tộc, quốc gia, giống nòi và họ có nhãn quan mới về xứ sở. Ví dụ, thập niên 1930, sử gia Từ Tùng Thạch 徐松 石(1900–1999) đã cố liên kết các địa danh xưa ở Hoa Nam với những tiếng trong ngôn ngữ hàng ngày của dân chúng trong vùng; và cho thấy các địa danh ở Quảng Tây là tiếng Tráng, có nghĩa người Tráng là một trong những nhóm đầu tiên nhập cư vào đấy. Năm 1959 nhà nhân chủng học Phi Hiếu Thông 费孝通 (1910–2005), đi theo lý thuyết nhập cư của Chavannes và Aurousseau, lập luận rằng người Tráng là một thành phần trong cuộc di dân của các nhóm Việt trong ngàn năm đầu trước TC từ tỉnh Giang Châu đến Quảng Tây. Cùng năm, học giả Túc Quan Xương 粟冠昌 (1923–2007) đưa ra ý kiến khác rằng người Tráng là hợp chủng của người địa phương và dân mới đến từ tỉnh Tứ Xuyên. Phi Hiếu Thông và Túc Quan Xương ấn hành những luận văn vào một thời kỳ trọng yếu cần sự hiểu biết về sắc tộc Tráng. Vì một lý do phức tạp khó nói ở đây, năm 1950 đảng CS Tàu quyết định thành lập khu tự trị Quảng Tây cho người Tráng. Đây là một phần trong một chính sách rộng lớn hơn cho các sắc tộc quyền tự trị giới hạn. Nhưng trong trường hợp Tráng, tiến trình phức tạp hơn vì trước 1950 chưa thấy xuất hiện một ý thức rõ rệt về bản chất căn cước của một sắc dân gọi là Tráng. Song song với việc thành lập khu tự trị Tráng, xuất hiện nhu cầu hiểu biết về sắc tộc Tráng để dạy người Hán và người Tráng về lịch sử lâu năm của nhóm thiểu số nầy. Túc Quan Xương và Phi Hiếu Thông đóng góp vào sự kiến tạo một ý niệm quốc gia. Nhưng đóng góp quan trọng nhất là của Hoàng Hiện Phan 黃現璠 (1899–1982). Ông là người Tráng đầu tiên học xong đại học bên Tàu, ông học ở đại học Bắc Kinh và Đại Học Hoàng Gia Nhật. 1957, ông xuất bản một cuốn sử về sắc tộc Tráng. Ông lập luận rằng trong ngàn năm đầu trước TC người Tráng thành lập vương quốc Tây Âu 西甌, danh hiệu nầy có ghi trong sử ký thời kỳ đầu của TH. Khi gọi tập hợp dân cư nầy là một vương quốc, Hoàng Hiện Phan đi ngược với lối giải thích chính thống về lịch sử Tàu theo Marxist, theo đó mọi xã hội phải qua giai đoạn nô lệ trước khi vào giai đoạn phong kiến, sau đó xã hội thiểu số mới ra đời. Đặc biệt Hoàng Hiện Phan nói rằng Tây Âu đã là một vương quốc, căn cứ vào sự kiện triều đình nhà Tần đã tấn công Tây Âu; Tây Âu thành một vương quốc có nghĩa đã đi vào giai đoạn phong kiến.

Giống như ĐDA bị hạ bệ thời Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng Hiện Phan bị phê bình ráo riết bị liệt vào thành phần hữu khuynh, cổ suý chủ nghĩa quốc gia địa phương. Như trường hợp ĐDA bị hạ bệ mà lý thuyết Lạc Việt là tổ tông người Việt được làm lý thuyết chính thức, Hoàng Hiện Phan bị phê bình kết án hữu khuynh, nhưng lý thuyết liên hệ kế tục giữa Tráng và Tây Âu được chính quyền công nhận.

 

Tiểu bang địa phương Tráng

Trong hơn 10 năm qua TH cố sức nối kết người Tráng với Lạc Việt. Hơn nữa học giả TH dùng lý thuyết khảo cổ để cho Lạc Việt tính chất quan yếu trong tiền sử của khu vực. Lý thuyết khảo cổ là con đẻ của học giả quá vãng Tô Bỉnh Kỳ 苏秉琦 (1909–1997), lý thuyết gia hàng đầu hậu bán thế kỷ 20. Trong tiền bán thế kỷ 20, học giả TH chủ trương rằng “văn minh TH” khởi xuất từ thung lũng Hoàng Hà rồi phân bủa ra ngoài. Nhưng trong thập niên 1970, những phát giác khảo cổ quanh vùng được gọi là trung tâm văn minh làm cho giới học thuật phải suy nghĩ lại về những phát triển vào thời kỳ đầu của các xã hội phức tạp trong khu vực. Tô Bỉnh Kỳ lãnh nhiệm vụ nầy. Năm 1981, ông đưa ra quan niệm hệ thống khu vực và mô hình văn hóa địa phương (khu hệ loại hình 區系類型) để giải thích những chứng cớ về sự phát triển xã hội gần kề hay trùng hợp (coterminous) của những khu vực tách lìa nhau nhưng tương tác trong thời gian và về sau tạo thành một đơn vị văn hóa rộng lớn hơn.

Quan niệm nầy được chấp nhận bởi các nhà khảo cổ, và phản ảnh quan điểm chính thức của Nhà Nước về sự cấu hợp sắc tộc của Trung Hoa, như một thực thể duy nhất gồm nhiều thành tố (đa nguyên nhất thể 多元一體). Khi quán xét sự phát triển từng vùng, Tô Bỉnh Kỳ mở rộng quan niệm cho rằng các khu vực trải qua các giai đoạn rõ rệt trong sự phát triển xã hội và chính trị từ cố quốc 古國 đến phương quốc 方國) rồi đến đế quốc 帝 國. Giai đoạn cuối là kết nạp chung vào đế quốc Tàu.

Dựa vào lý thuyết nầy, vài học giả cho rằng người Lạc Việt sống trong một quốc gia nhà nước, một thực thể chính trị phức tạp hơn quốc gia cũ, và một giai đoạn phát triển trong tiến trình lịch sử rộng lớn hơn, hầu bước qua khỏi thung lũng Hoàng Hà và thể nhập vào đế quốc Tàu. Đồng thời họ chủ xướng Lạc Việt là tổ tiên của người Tráng.

Những học giả ngày nay đi vào vết chân của Hoàng Hiện Phan, tuy Hoàng Hiện Phan đã thất sủng và bị kết án chủ trương quốc gia địa phương. Họ dùng biện chứng lịch sử mà nói rằng cộng đồng Tráng không tách rời đế quốc Tàu, và chứng minh cộng đồng Tráng phát triển theo qui luật Marxist. Đi từ xã hội nô lệ, qua phong kiến rồi nhập vào đế quốc Tàu, theo quan điểm chính thức của chính quyền và quan niệm khảo cổ của Tô Bỉnh Kỳ. Nhưng khảo cổ thực sự tại Quảng Tây không thể giúp ai xác nhận khu vực nầy là một quốc gia nô lệ trước khi giao tiếp với nhà Tần. Kết quả khai quật cho thấy khu vực không phải là một trung tâm tâp hợp dân chúng. Tuy vậy, quyết định tuyên bố những cổ vật khảo cổ và các địa điểm khai quật thuộc vào một quốc gia địa phương duy nhất và gọi đó một thực thể chính trị đơn thuần đem lại nhiều di lụy chính trị. Vương quốc Tây Âu mà Hoàng Hiện Phan kết nối vào sắc dân Tráng nay được xem là một tiểu bang địa phương, danh từ Lạc Việt / Luoyue được dùng để chỉ những cổ vật khảo cổ vùng Quảng Tây và nền văn hóa của thị hội Tráng.

Học giả Tàu thừa biết ĐDA đã kết nối Lạc Việt với chính người Việt đang sống ngày nay và họ đã chỉ trích nhiều nơi nhiều lần. Như vậy, học giả TH hẳn có dự mưu, dự tính khi xem Lạc Việt là một tiểu bang, một tiểu quốc theo vùng. Thật vậy, Liang Tingwang đã đưa ra lời đe dọa không rõ rệt trong lời tựa cuốn sách nhan đề: Nghiên Cứu về tiểu quốc cấp vùng Lạc Việt xuất bản 2017. Với những danh từ sử học liên quan các vùng rộng lớn là Hoa Nam, Bắc Việt, Nam Hải 南海 và Lĩnh Nam嶺南, Liang Tingwang xác quyết rằng: “căn cứ vào truyền thuyết dân gian, Nam Hải được phát triển bởi chính vua của họ là đệ nhất cá hoàng đế 第一個皇帝 và hoàng đế Tần đầu tiên đã chiếm Lĩnh Nam. Liang nói tiếp: Tuy nhiên sử liệu đã minh chứng rằng về chính trị ở Hoa Nam trong thời Thương Chu, tổ tiên những người nói tiếng Quảng Đông, theo lệnh của vương triều trung ương, đã thành lập hai tiểu quốc địa phương cấp vùng là Tây Âu và Lạc Việt, phát triển và cai quản Lĩnh Nam và Nam Hải và mở đường tơ lụa trên biển. Một quá khứ rực rỡ như vậy, ai cho phép, ai được phép, hủy diệt nó?

Những ghi nhận trên đây về sắc dân Tráng và Lạc Việt cung cấp cái nhìn sơ sài về những vấn đề đang thảo luận trên báo chí TH. Cần thêm nhiều nghiên cứu khác để độc giả có thể nhận định chính xác.

Hiện tại một số học giả TH - hy vọng - vẫn âm thầm nghiên cứu nhưng bên ngoài thì báo chí TH đang thương mãi hóa câu chuyện Lạc Việt trong mục đích kinh tế như du lịch, bán sản phẩm địa phương. Như vậy chuyện Lạc Việt không còn nằm trong lãnh vực sử; chưa kể những ý định chính trị của Bắc Kinh lẫn địa phương Quảng Tây chưa rõ. Cũng vậy, tác phẩm của ĐDA và những nghiên cứu khác của các đồng nghiệp đã được định hướng trong mục đích thời đại, tương đối rõ ràng thì không ai cấm dùng vấn để tổ tiên người Tráng vào các mục đích khác biệt.

Lạc Việt ở VN là vấn đề chung bao trùm cả một quốc gia. Trong lúc đó, câu chuyện người Tráng liên quan một phần nhỏ lãnh thổ Tàu và một trong nhiều sắc tộc. Nhưng vấn đề không thể xuất hiện một cách riêng rẻ. Lạc Việt không đơn thuần là chuyên nghiên cứu cổ sử, nó trở thành sôi động trong vùng chính địa Đông Á.

 

Đào Duy Anh (nguồn gốc dân tộc VN)

 

nguyên bản

 

Thursday, February 17, 2022

chính trị và quân sự


Mưa nắng còn dài

Tôn Thất Tuệ

Trong thời kỳ Bước Nhảy Vọt, một tỉnh nọ bên Tàu bị chim phá lúa và các hoa màu khác, Mao Trạch Đông đã ra lệnh vào giờ G, mọi người phải đánh thùng đánh mõ la hét, dùng mọi cách gây tiếng động không ngừng trong vài giờ. Chim không dám ngừng và mệt lã rơi xuống đất chết hết. Khác với loại bay xa trốn lạnh, diều hâu hay bói cá, chim ăn lúa chỉ có thể bay đến 20 giây phải đậu vào cành hay dưới đất. Sau cú ngoạn mục nầy, sâu bọ nhiều hơn vì không bị chim ăn.

Không kể lợi hại, quyết định nầy nói lên tinh thần chơi sạch diệt sạch của Mao mà truy nguyên có thể tìm thấy dưới những tác phẩm được khen là viết chính xác như triết gia, tươi sáng hoa lệ như Goethe. Chúng tôi muốn nói Clausewitz (1780-1831) và đặc biệt cuốn “De la Guerre”. Cuốn nầy, chúng tôi, 1962, có rờ tới tại trường hành chánh nhưng khó quá về tư tưởng và ngôn ngữ; chúng tôi tiếp tục đọc ở các chương nhỏ trong sách du kích và bình định trị an. Trong chiến tranh, nói chuyện chiến tranh là thường.

Cuốn nầy là sách đầu giường của Lénine. Tuy không thành một tác phẩm, Lénine đã nhiều lần trình bày ý nghĩ của Clausewitz văn chương hơn, rõ ràng hơn. Hoặc nội dung được tìm thấy trong các sách huấn luyện như “que faire”, làm gì?. Công thức sau đây của Lénine có thể thâu tóm cốt lõi tư tưởng của Clausewitz về sự liên hệ giữa quân sự và chính trị: một cuộc chiến mang tính chất chính trị bao nhiêu thì mang tính chất quân sự bấy nhiêu; và ngược lại, càng quân sự thì càng chính trị. Vài học giả khác cũng dựa vào sự hệ thống hóa của người Đức nầy mà viết thành sách như cuốn Guerre Totale của Lacheroy, một danh phẩm học thuật quân sự Pháp.

Chúng tôi nói đến Lénine vì từ Lénine mà tới đường mòn Trường Sơn theo đường chim bay thì rất gần. Kế tục Lénine là Staline và Mao; HCM đã công khai nói rằng ông không suy nghĩ mà Staline và Mao đã suy nghĩ giúp. Câu nói nầy đã thành khuôn vàng và ghi trong chánh sử Hà Nội. Nhờ người khác suy nghĩ cũng là một lối suy nghĩ vậy.

Chúng tôi vừa gặp một bài điểm một cuốn sách nói về Clausewitz cố gắng trình bày tư tưởng của ông trên nhiều khía cạnh không riêng gì quân sự. Chúng tôi giữ phần nầy bỏ đi vài râu ria để dịch ra tiếng Việt đính kèm. Tuy ngắn, phần nầy giúp chúng tôi hiểu thêm - một cách chủ quan – ảnh hưởng của nó đối với Lénine và những hệ quả chính trị thế kỷ 20 mà VN hứng lấy nhiều nhất.

Phần nầy dĩ nhiên nhấn mạnh quan niệm nòng cốt của Clausewitz là sự liên hệ mật thiết giữa chính trị và quân sự. Ngoài ra, nó mang thêm hai vấn đề rất quan trọng: đoàn ngũ hóa nhân dân và độc tài sáng suốt.

Clausewitz kêu gọi mọi người ủng hộ chính quyền bằng cách tham gia vào quân đội chính quy và các đoàn thể bán quân sự. Đây là ý niệm tiên khởi của đoàn ngũ hóa nhân dân. Ô to ma tích, bạn phải ở trong thiếu niên tiền phong, thanh niên xung phong, phụ nữ hậu cần, lão ông, lão bà. Quan niệm đương nhiên nầy đã manh nha từ thế kỷ 16 khi Nhật bắt buộc người dân phải ở trong một khuôn hội Phật Giáo bất cứ pháp môn nào, nó trở lại trong quan niệm của Thích Trí Quang: hội viên của giáo hội PGTN là những ai có đức tin PG. (nếu bạn niệm A Di Đà Phật, bạn là hội viên có quyền lợi và trách nhiệm của hội viên).

Clausewitz tin rằng cách mạng Pháp đã giúp cho quân Pháp thắng Phổ như voi đè bánh tráng năm 1806 nhưng ông không chủ trương cách mạng ở Phổ tuy chế độ khá hà khắc. Ông ủng hộ những biện pháp xã hội như cải tổ quyền sở hữu ruộng đất, bỏ những hàng rào xã hội, giúp thăng tiến người tài nhưng cốt để có nhiều tài nguyên nhân lực và vật lực cho chính quyền và nền kinh tế, mà kinh tế cũng là một khía cạnh của quân sự.

Ông thực tế, cần duy trì một Prussia, nước Phổ, có khả năng tiếp tục chống trào lưu cách mạng Âu Châu. Quan điểm của Clausewitz nói theo ngôn ngữ mới là duy trì một nền độc tài sáng suốt (dictature éclairée). Và chính Lénine hơn mười năm sau khi khởi nghĩa mới đưa ra quan niệm dictature du prolétariat, (độc tài vô sản) không có trong sách của Marx. Và không có nhà độc tài nào ở bất cứ chỗ nào, theo lý thuyết chính trị nào không cho mình sáng suốt.

Hy vọng đoạn về quân sự đính kèm sẽ có thêm chi tiết nhỏ để hiểu thêm cuộc chiến VN, một câu chuyện không rời bỏ hầu hết quý vị, dù có muốn quên.

Đoàn ngũ hóa của Staline chia dân chúng ra hai loại, một bên ủng hộ nhà nước và một bên kẻ thù nhà nước. Kẻ thù phải đi gulag, các khu ủy đều có quota đưa người đi. Đoàn ngũ hóa là một hệ thống duy trì an ninh và điều khiển suy tư.

Trở lại Lénine, từ luận thuyết của Clausewitz, Lénine đã lập ra vai trò chính ủy. Tuy nói chính trị và quân sự tương giao, ông cho chính trị thượng phong. Chính ủy từ cao nhất đến thấp nhất. Chủ tịch đảng là chính ủy của cả quân đội; tổ tam tam cán binh có một chính ủy. Trần Vũ đã viết trong tập Đồng Cỏ Miên cho biết quân VNCS đánh qua Miên gồm những tổ tam tam: hai lính trẻ mới tuyển ở miền nam do một lính BV làm chính ủy.

Theo phân tích của Clausewitz, BV đã áp dụng chiến tranh tuyệt đối từ khi vô Hà Nội 1954. Tính chất diệt sạch kiểu Mao xem như triết lý vật ngã (tackling philosophy) của football Mỹ.

Miền Nam thì khác. Quân đội là cha. Các anh hùng dân tộc đều vô Quang Trung nhập ngũ để thành những thánh tổ các quân chủng. Đào Duy Từ là thánh tổ của công binh. Ba ông thủy quân lục chiến chỉa súng vào tòa nhà quốc hội, tối kỵ về phong thủy. Ông Thiệu nói mấy ngày chót: đồng bào sẽ mất một tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhưng còn một trung tướng Nguyễn Văn Thiệu để bảo vệ đồng bào. Thực tế chẳng có cái tổng thống hay cái trung tướng nào bảo vệ dân lành.

Tỉnh trưởng và quận trưởng đều là quân sự. Trong tổ chức cũ, tỉnh trưởng dân sự điều khiển tiểu khu trưởng. Vì không thấy tương quan quân sự và chính trị, tỉnh trưởng dân sự mặc cảm không dám đóng vai trò chính ủy; không dám hành sử như Lưu Bang: binh pháp ta không bằng Hàn Tín, nội trị không bằng Tiêu Hà, mưu lược không bằng Trương Lương nhưng ta có thể dùng cả ba mà mưu cầu việc lớn. Tỉnh trưởng không thể chữa bệnh như trưởng ty y tế nhưng có thể điều động ty trong chiến dịch tuyên truyền như phát thuốc, quảng bá vệ sinh.

Tôi nghĩ Nguyễn Văn Bông thấy việc nầy. Ông muốn các tỉnh trưởng quận trưởng có nhận thức quân sự và giữ vai trò chỉ đạo, có khả năng quản trị khoa học biết phối hợp, đồng thời có mối quan hệ bán chính thức bên trong mà theo ông là một đảng đang hình thành tuy hơi quá “nam kỳ”. Nếu được sửa soạn kỹ, huấn luyện kỹ thì đấy có thể là một breakthrough, khúc quanh quyết định. Vì tiềm năng nầy mà ông bị ám sát.===

(cố gắng dân sự hóa với tỉnh trưởng Quảng Nam, ông Chi, và các quận trưởng dân sự Đô Thành không kết quả)



Clausewitz và chiến tranh

Which Side Was Clausewitz On?

C.B.A. Behrens

Lúc 26 tuổi Clausewitz tham dự chiến cuộc Pháp Phổ 1805-1806 với tư cách một sĩ quan Phổ; sư kiện nầy cho ông một kinh nghiệm đau thương thấy quân đội Phổ tháo chạy, đồn trại bỏ trống, đầu hàng không ai đánh đấm gì; tất cả đều nằm trong tay quân Pháp; tức là đoàn quân mà Phổ năm chục năm trước đã đuổi chạy thảm hại tại Rossbach như quân Phổ bây giờ. Theo ông, quân Pháp dưới quyền điều động của Napoleon thành công không phải vì các phát minh kỹ thuật mà nhờ ở Cách Mạng Pháp.

Biến cố lịch sử nầy đã giúp cho chính quyền Pháp có thể vận dụng huy động mọi nguồn tài nguyên, gây một tinh thần chiến đấu mới; thêm nữa một vị tướng tài đã có thể dùng các chiến lược xưa nay không ai làm được vì nhờ ông điều khiển một quân đội quốc gia chứ không phải lính đánh thuê. Cuộc cách mạng nầy tạo ra ở Pháp và Âu châu những điều kiện để hình thành những phương tiện mới những lực lượng mới từ xưa đến nay không ai có thể nghĩ đến.

Do đó, Clausewitz xem chiến tranh như một lăng kính chiếu đủ cả cuộc sống và từ đó ông tìm cách giải thích bản chất của chiến tranh như một hiện tượng lịch sử. Ông đã viết thành những công thức ghi trong cuốn “De la Guerre” chưa xuất bản, mà ông đang duyệt lại, chưa làm xong thì đã chết. (Vợ ông xuất bản về sau) Nhưng may, ông đã duyệt xong chương dẫn nhập ghi đủ những kết luận căn bản.

Điểm trọng yếu trong tác phẩm là tương quan mật thiết giữa chiến tranh, chính trị và xã hội. Ông viết: “Chiến tranh là một hành vi bạo lực ép buộc kẻ thù phải làm theo ý nguyện của chúng ta”. Do đó, du nhập những nguyên tắc điều hợp vào lý thuyết chiến tranh luôn đưa đến một điều phi lý rất hợp lý (absurdité logique). Những người có từ tâm cho rằng thế nào cũng có phương cách giải giới hay đánh hạ kẻ thù mà không cần phải đổ máu nhiều. Nhưng đó một sai lạc cần giải thích. Chiến tranh là một việc rất nguy hiểm nhưng từ tâm sẽ đưa đến những lỗi lầm tệ hai nhất… nếu một bên dùng vũ lực bừa bãi không sợ đổ máu mà bên kia không dám dùng; vậy ai ra tay trước sẽ thắng. Phe tiên thủ ép phe kia phải làm theo, cả hai bên sẽ đến thái quá, và hai bên chỉ khác nhau vì đối lực tự tại của chiến tranh mà thuyên giảm cường độ. Hầu như đối đải đã tự phát ra ngoài ý định của kẻ lâm sự.

Chiến tranh là một tác động theo chính sách, là một dụng cụ đích thực của chính trị, không phải là một biểu thị đầy đủ không bị kiềm thúc của quyền lực. Người bán khai bị điều khiển bởi đam mê; người văn minh bởi lý trí. Tuy nhiên cảm tính vẫn có thế nhảy vào. Clausewitz kết luận rằng: như một hiện tượng đầy đủ, một tổng thể, chiến tranh là một bộ ba gồm có: bạo lực tiên thủ, thù hận và đối nghich hostility- đối nghịch xem như một sức mạnh mù quán và tự nhiên trong đó tinh thần sáng tạo được tự do hành động, nhưng vẫn là một công cụ của một chính sách, nằm trong vòng lý trí. Toàn thể cộng đồng tham dự vào cuộc tương tranh nhiều chừng nào thì chiến tranh đến gần mức tuyệt đối chừng ấy. Khi dân chúng được quyền tham dự trên địa bàn chính trị thì khó mà đuổi họ ra. Tuy nhiên Napoleon làm được việc nầy, ông đuổi họ đi được và biến quân đội Pháp thành một quân đội nhà nghề không có tính chất dân chúng nữa.

Vào những ngày cuối đời, Clausewitz tin rằng chiến tranh có hai loại: chiến tranh có giới hạn và chiến tranh tuyệt đối. Giới hạn: như đã xẩy ra trong thế kỷ 18, với mục tiêu chiếm một vùng lãnh thổ rồi giữ lâu dài hay dùng làm giá mặc cả trong những cuộc nghị hòa về sau. Tuyệt đối là tiêu diệt, tận diệt kẻ thù hay bắt kẻ thù phải đầu hàng vô điều kiện. Chọn hình thái chiến tranh nào tùy theo mục tiêu của các chính phủ liên hệ.

Clausewitz thu tóm vào chính ông những điểm hay riêng rẻ ở nhiều người Đức. Nơi ông có có những xúc động đậm đà, có khả năng nhìn thực tế không xúc động, hướng về triết lý một cách rõ ràng, công thức hóa một cách trừu tượng những suy nghĩ nội tâm đi kèm với những nhận định về các diễn biến thực tế được thử thách bằng những kinh nghiệm lịch sử của các thời đại cổ kim.

Các nguồn tài liệu trích dẫn cho thấy Clausewitz tiêu biểu một người Đức có học thời ấy nhưng cũng là một người Phổ tiêu biểu. Phổ khác cái gì? Bộ trưởng von Schrotter của Frederic Đại Đế nói: Người Phổ khác với tất các dân tộc khác ở chỗ: xứ sở của họ không phải là một xứ sở có một quân đội, người Phổ có một quân đội trong một xứ sở, xứ sở nầy là đại bản doanh, là bộ tổng tham mưu.”

Clausewitz chống chủ trương quân phiệt (quân phiệt ở Đức hiểu là quân đội có quyền áp đặt các chính sách, quân đội trên hết). Nhưng trong ngôn ngữ khu vực tiếng Anh, danh từ quân phiệt được dùng để chỉ chính Clausewitz và học phái nầy. Nhiệt tình của họ không những chỉ nhắm tạo dựng một lực lượng chiến đấu giỏi hơn quân Pháp nhưng còn giáo dục toàn dân để có những đức tính luân lý và công dân bằng cách gia nhập quân đội chính quy hay các tổ chức bán quân sự.

Lý tưởng nầy đã viết thành những công thức sau cuộc thảm bại 1806. Cuộc vận động nầy mạnh mẽ hơn vận động của Pháp những năm hậu cách mạng là 1793 và 1794. Thống tướng Phổ Gneisenau nói: nhằm biến toàn dân thành những quân sĩ, chúng ta phải làm cho tinh thần quân sự thẩm nhập toàn quốc dù trong thời bình”. Chính sách nầy đã được thi hành từ 1815. Quân đội tiếp nhận người tài, phá bỏ những giới hạn xã hội hiện có; quân đội được tổ chức và huấn luyện trong khẩu hiệu “sẵn sàng bảo vệ quê cha”. Sự cải tổ quân đội nầy không đứng tách riêng mà hòa nhịp trong chương trình cải cách xã hội nói chung. Quân đội hưởng lợi, và đóng góp sinh lợi, từ cải cách hành chánh, cải cách qui chế sở hữu ruộng đất, cái cách kinh tế, điều hòa giao tiếp xã hội.

Clausewitz không tự giới hạn trong lãnh vực quân sự, điều nầy rất dễ hiểu vì ông quan niệm vấn đề trên mức độ toàn quốc. Nhưng hậu thế không có ý kiến đầy đủ về quan niệm của ông trong những vấn đề chính trị và xã hội khác như sự khai phóng nông dân. Ông ủng hộ việc hủy bỏ các ngăn cảng pháp lý giữa các lãnh địa, giữa các nhóm khác nhau trong xã hội, ngõ hầu cung cấp cho quân đội và doanh nghiệp những người tài giỏi. Clausewitz mong mỏi tận dụng tài nguyên nhân lực, vật lực giúp cho chính quyền đứng vững, một số lớn dân chúng còn ở trong tình trạng nông nô làm cho xã hội bất ổn.

Năm 1909, sử gia Đức Debruck đã viết rằng Clausewitz là một nhà tư tưởng về chiến tranh trọng yếu nhất; ông viết chính xác như một triết gia, hào phóng hoa lệ như Goethe, ông được xếp vào hạng “mẫu mực" trong ngành học thuật nầy. (which side was Clausewitz on?)

==============================================================



 

Monday, February 14, 2022

trung chính bình hòa


tranh Tây Tạng, Dược Sư Phật








Trung Chính Bình Hòa 

Vương Hữu Quần

Thời thượng cổ khi truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Nghiêu căn dặn bốn chữ "Duẫn chấp quyết trung", nghĩa là: "Giữ đạo trung chính", chiếu theo trung đạo trị quốc và điều hành triều chính. Thái quá cũng không được, chưa đủ mức độ cũng không được, phải dung hòa thích hợp, vừa vặn đến mức tốt đẹp. 

Tư tưởng "Trung chính bình hòa" của người xưa khởi nguồn từ đây. Sau này vua Thuấn lại truyền lại cho vua Vũ, vua Vũ truyền lại cho vua Thang, vua Thang truyền lại cho Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công, rồi tiếp đó Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công truyền lại cho Khổng Tử, Khổng Tử truyền lại cho Mạnh Tử,v.v... cứ như thế truyền thừa đến thời cận đại trong suốt mấy nghìn năm nay, đã sáng tạo nên nền văn hóa Á Đông rực rỡ.

Nhưng bên Tàu từ năm 1949 khi Đảng Cộng Sản (ĐCS) lật đổ Trung Hoa Dân Quốc thì truyền thống lịch sử "duẫn chấp quyết trung" đã bị tư tưởng cực đoan cực tả làm cho đứt đoạn. ĐCS lúc thì cực tả lúc thì cực hữu, nhưng nhiều nhất vẫn là cực tả. Lịch sử nhân loại đã bị tư tưởng cực tả đơn giản hóa thành "lịch sử của đấu tranh giai cấp". ĐCS: "Đấu với trời, đấu với đất, đấu với người, hạnh phúc vô cùng" (Mao Trạch Đông), đã 'đấu' 70 năm liền nhau. Quan niệm, lời nói, hành vi thích đấu đá đã ảnh hưởng mọi cá nhân. Có khi chỉ một lời nói bất hòa mà hai người đấu đá với nhau. Có người nóng nảy, động cái là nhảy dựng lên, đã gây ra bao thảm kịch thế gian.

Cuộc đại cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông khởi xướng đã phá hủy đi nền văn minh Tàu, phá vỡ trạng thái bình hòa vốn có của người thời cận đại, đẩy trạng thái cảm xúc của con người đi tới cực đoan, tranh đấu.

Trung chính bình hòa làm người

"Trung chính bình hòa" trong Nho gia thể hiện ở "đạo trung dung". Đạo trung dung là cảnh giới tối cao mà Nho gia truy cầu.

Phần Dung Dã trong Luận Ngữ có viết: "Trung dung chính là đức, là cảnh giới tối cao vậy" (nguyên văn: "Trung dung chi vi đức dã, kỳ chí hĩ hồ"). 

Chu Hy, đời Tống giải thích rằng: "Không thiên lệch là trung, không thay đổi là dung", và "trung là không thiên lệch, là tên gọi của không thái quá, không thiếu hụt. Dung là bình thường".

Đạo trung dung không phải là ba phải; không phải là bạn tốt, tôi tốt, mọi người đều tốt; không phải là vô nguyên tắc.

Không thiên lệch chính là trung đạo, chính đạo, chính là công bằng khách quan, là không có bất kỳ tư tâm nào. Sách Trung Dung viết: "Hỷ nộ ai lạc chưa phát tác gọi là trung, phát ra mà đều có thể tiết chế dung hòa gọi là hòa. Trung là cội nguồn của thiên hạ, hòa là đạt đạo của thiên hạ". 

Ý nghĩa là, nội tâm con người không phát ra hỷ nộ ai lạc, tâm tĩnh lặng như nước thì có thể nhìn rõ bản chất của sự vật, đưa ra phán đoán chính xác. Đó gọi là "trung chính". Khi hỷ nộ ai lạc phát tác mà có thể điều tiết tốt, không thái quá, cũng không thiếu mức độ, nhận thức và phán đoán đối với sự vật cũng sát gần với bản chất. Đó chính là "bình hòa".

Khi tâm ở trạng thái trung chính bình hòa thì đối nhân xử thế đều nắm chắc được mức độ, vừa vặn, thích hợp.

Khi hỷ nộ ai lạc phát tác mà có thể điều tiết tốt, không thái quá, cũng không thiếu mức độ, nhận thức và phán đoán đối với sự vật cũng sát gần với bản chất. Đó chính là "bình hòa".

Trái lại, khi con người ở trạng thái đại hỷ, đại bi, đại nộ, đại lạc thì không thể lý trí được. Tâm trạng con người càng cực đoan thì tư tưởng và hành vi cũng sẽ càng cực đoan hơn. 

Làm thế nào để tâm trạng tiết chế dung hòa, không chạy sang cực đoan? Kinh nghiệm của Khổng Tử là: "Suy xét về hai thái cực là hiểu rõ" ("Khấu kỳ lưỡng đoan nhi kiệt yên"). 

Khổng Tử lại nói: "Nắm bắt hai thái cực, áp dụng dung hòa ở giữa đối với người dân, đó có lẽ là điều đã tạo nên người vĩ đại như vua Thuấn". "Chấp kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung ư dân, kỳ tư dĩ vi Thuấn hồ?".

Về tác dụng của trung dung, sách Trung Dung đã dùng một chữ để biểu đạt, đó chính là "hòa". Khi tâm an hòa, bình hòa nảy sinh thì những tâm trạng không tốt đều tiêu tan vô hình vô bóng, tư tưởng con người có thể quy chính lại.

Trung tâm của đạo trung dung là giáo dục mọi người tự giác tự tu dưỡng, tự giám sát, tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân, bồi dưỡng bản thân thành người "trung chính bình hòa", hài hòa với chính mình, hài hòa với người khác, hài hòa với xã hội và hài hòa với trời đất, cuối cùng đạt đến cảnh giới lý tưởng chí thiện chí thánh. Chỉ có như thế mới có thể tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ được.

Trung chính bình hòa trong y học

Y học truyền thống lâu đời, hiện nay được gọi là đông y. Kinh điển y học sớm nhất là Hoàng Đế Nội Kinh, trong đó có viết: "Thầy thuốc bậc cao là trị sửa quốc gia, thầy thuốc bậc trung là trị sửa con người, thầy thuốc bậc thấp là trị chữa bệnh" (Thượng y trị quốc, trung y trị nhân, hạ y trị bệnh).

Tại sao nói "trung y trị nhân"? Bởi vì con người không tốt rồi mới sinh ra bệnh. Điều chỉnh con người tốt lên rồi thì sẽ tự nhiên không sinh bệnh. Do đó đông y nhắm vào con người chứ không nhắm vào bệnh. Chỉ có thầy thuốc bậc thấp mới trị bệnh. Đông y chính là y học của trung đạo, chính là nền y học thừa kế tư tưởng "trung chính bình hòa" trong văn hóa truyền thống mà sinh ra.

Hoàng Đế Nội Kinh định nghĩa khỏe mạnh như thế nào? Rất đơn giản: "Người bình thường không có bệnh". ( "bình nhân giả bất bệnh dã"). 

Người bình thường là gì? Vương Băng, y học gia đời Đường giải thích rằng, người không thái quá thì gọi là người bình thường, tức là người sống theo trung Đạo, chính đạo thì gọi là người bình thường. Nói cách khác, người trung chính bình hòa chính là 'người bình thường' - người khỏe mạnh.

Làm thế nào để đạt được trung chính bình hòa? Đại y học gia đời Đường là Tôn Tư Mạc viết trong sách Thiên Kim Yếu Phương rằng: "Đạo đức không đủ thì dẫu có uống thuốc tiên, kim đan ngọc dịch cũng không thể trường thọ. Đạo đức ngày một vẹn toàn thì dẫu không cầu thọ thì thọ cũng kéo dài, không cầu phúc thì phúc cũng tự đến. Đó chính là đạo dưỡng sinh vậy". Tôn đạo sùng đức, tích thiện tích đức thì mới có thể có thân tâm mạnh khỏe, phúc thọ song toàn.

Biểu hiện của bệnh là gì?  Đó là thái quá, hoặc chưa đủ mức. Bất kể là bệnh trên thân thể hay bệnh trong tâm, không bệnh nào không như vậy. 

Lão Tử nói: "Đạo Trời là tổn hao chỗ dư và bù đắp chỗ thiếu" (Thiên chi Đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc). Chỗ dư tức là thái quá, chỗ thiếu tức là chưa đủ mức. Chiểu theo Đạo Trời thì thái quá sẽ bị tổn hao, chưa đủ mức thì sẽ được bù đắp. Sự tổn hao và bù đắp này chính là thông qua các phương pháp để khôi phục đến một trạng thái tốt đẹp, tức là trạng thái trung chính bình hòa. Chữa trị của đông y chính là như thế này:

Thứ nhất là điều thân. Sách Hoàng Đế Nội Kinh viết, thực thì tả mà hư thì bổ, không hỏi đến bệnh, chỉ cần cân bằng.

Thứ hai là điều tâm. Tâm bình thì khí hòa, điềm đạm hư vô thì có thể khiến chân khí theo về, chính khí tồn chứa trong thân thể, tà không thể xâm phạm được. Tinh thần giữ ở bên trong thân thể thì bệnh sao có thể xâm nhập vào được? Khi một người mà ngũ tạng, thất tình, khí huyết, âm dương điều hòa thì bách bệnh không thể sinh ra được.

 

La Musique, Henri Matisse
Trung chính bình hòa trong âm nhạc

Cổ cầm là một nhạc cụ bộ dây sớm nhất, tương truyền do vua Phục Hy sáng tạo ra. Cổ cầm đứng đầu trong Tứ Nghệ "Cầm, Kỳ, Thư, Họa". Từ cổ xưa, chỗ ngồi của người quân tử thì bên trái luôn có đàn, bên phải ắt có sách. Cổ cầm có nội sung văn hóa phong phú và sâu sắc, là báu vật của những văn nhân nhã sĩ hàng trăm hàng ngàn năm nay. Tinh túy của cổ cầm cũng chính là ở 'trung chính bình hòa'.

Kê Khang, một trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Ngụy Tấn có nói: "Cổ cầm cảm ứng trời đất bởi đạt đến tận cùng của sự hài hòa". Người chơi cổ cầm an tọa tĩnh lặng, tâm không tạp niệm, thân không dính mắc ngoại vật, tâm không chứa thời gian. Khi đó chỉ có đàn, chỉ có người, chỉ có trời đất, chứa đựng tinh thần Thiên - Địa - Nhân hợp nhất. Thời cổ đại, bất kể là cầm hay trà thì đều ở trong tĩnh mà thấy được tự ngã, nuôi dưỡng tâm tính trung chính bình hòa.

Phần Nhạc Ký sách Lễ Ký có viết: "Nhạc là sự hài hòa của trời đất".

Sách Luận Ngữ viết: "Vui mà không phóng túng, buồn mà không bi thương". 

Quý Trát - đại phu nước Ngô thời Xuân Thu cho rằng, âm nhạc nên đạt đến "ngũ âm hài hòa, bát phong bình hòa, tiết tấu có mức độ, gìn giữ có trật tự". ("ngũ thanh hòa, bát phong bình, tiết hữu độ, thủ hữu tự").

Yến Anh, tể tướng nước Tề chủ trương nhạc khúc "trong đục, lớn nhỏ, dài ngắn, gấp chậm, vui buồn, cương nhu, cao thấp, xuất nhập, thưa dày đều phải phối hợp hài hòa lẫn nhau".

Kê Khang cho rằng mấu chốt của nhã nhạc và âm thanh phóng túng phân biệt ở chỗ trong nhã nhạc có tồn tại tinh thần bình hòa.

Các khúc nhạc cổ điển lưu truyền rộng rãi như Cao Sơn Lưu Thủy, Bình Sa Lạc Nhạn, U Lộ Vong Cơ... đều có đặc điểm bình hòa và điềm đạm.

Các nhạc khúc truyền thống cổ điển, đại bộ phận là bộ khúc đơn thanh, không phải sự phối hợp giữa phần giai điệu chính, giai điệu phụ và hòa thanh. Thường là giai điệu đơn nhất khai triển ra, có tuần hoàn và lặp lại. Về âm điệu và giai điệu thường không có sự đối lập và trái ngược quá lớn của cao thấp, nhanh chậm, yếu mạnh, nhạc khúc từ đầu đến cuối luôn giữ phong cách ngâm tụng bình hòa ổn định, hướng nội, hàm súc và tươi mới như khúc Bình Hồ Thu Nguyệt, Dương Quan Tam Điệp. 

Ở khía cạnh kết cấu âm luật là hệ thống ngũ âm (cung, thương, giốc, chủy, vũ) không có bán âm tổ hợp thành khúc điệu. Nghe các khúc nhạc cổ, cảm thụ cơ bản là yên tĩnh, an hòa, nhẹ nhàng, thoải mái, giàu tình thơ ý họa.

Văn hóa lễ nhạc Nho gia cho rằng, âm nhạc trung chính bình hòa, mềm mại đôn hậu có thể tu dưỡng, điều hòa tính tình con người, khiến khí huyết bình hòa, tinh thần giữ được trạng thái hài hòa vui vẻ, từ đó đạt được sự an hòa và ổn định của quan hệ gia đình và quan hệ giao tiếp xã hội. 

Thế nên Nho gia nói: "Nhạc thịnh hành thì chí thanh khiết, lễ tu sửa thì hành sự thành công, tai mắt thông minh, khí huyết bình hòa, thay đổi phong tục tốt đẹp, thiên hạ đều yên bình, đó là nhạc khiến mỹ và thiện hài hòa, cuối cùng đạt đến cảnh giới cao nhất là 'Thiên - Nhân hợp nhất'" (con người hòa hợp thành nhất thể với thiên nhiên, với Trời Đất). 

Văn hóa Nho gia lấy âm nhạc làm nơi nghỉ ngơi yên vui của tinh thần, coi nhạc là cảnh giới hoàn thành nhân cách, cũng chính là điều Khổng Tử nói: "Con người tu dưỡng thì bắt đầu ở học Kinh Thi, lập thân bởi học lễ, và hoàn thành, thành tựu bởi học nhạc". ("Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc").

vũ trụ luân hồi vân chuyển
Trung chính bình hòa trong trời đất

Lão Tử nói: "Trị sửa điều khiển quốc gia lớn như rán con cá nhỏ". ("Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên"). 

Mặt trăng quay quanh trái đất theo một quỹ đạo cố định. Trái đất quay quanh mặt trời theo quỹ đạo cố định. Mặt trời vận chuyển trong hệ Ngân Hà, cũng có một quỹ đạo cố định. Vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều vận hành trật tự theo quy luật khách quan. Con người cũng vậy, làm được trung chính bình hòa thì chính là đang vận hành trên quỹ đạo, chính là đi trên con đường lớn quang minh. Lệch, xa rời trung chính bình hòa thì có thể là lệch khỏi quỹ đạo, cuối cùng thân tâm đều bị hủy diệt, hình thần toàn diệt.

Trung chính bình hòa là giá trị ưu việt, hướng dẫn con người thuận ứng với lẽ Trời, lòng người. Đào Uyên Minh đời Đông Tấn từ quan về nhà, không những không ủ dột thối chí mà trái lại ông còn:

Giậu đông hái đóa cúc chơi, 

Nam Sơn núi biếc thảnh thơi ngắm nhìn...

Tại sao ông có thể làm được như vậy? Bởi vì ông đạt được tâm trung chính, khí bình hòa. 

Triều Bắc Tống có hai tể tướng là Vương An Thạch và Tư Mã Quang, chính kiến trái ngược nhau nhưng lại có thể làm được "người quân tử hài hòa hòa hợp với mọi người nhưng vẫn giữ quan điểm riêng" (quân tử hòa nhi bất đồng), bởi vì họ đều được hun đúc trong văn hóa truyền thống trung chính bình hòa.

Người có thể làm được trung chính bình hòa, nếu kinh doanh lập nghiệp có thể hòa khí cát tường, hòa khí sinh tài; nếu cai quản một địa phương thì có thể khiến lễ nhạc hài hòa, trật tự rành mạch; nếu cai quản quốc gia thì có thể đắc thiên thời, được địa lợi, tụ hợp nhân hòa; nếu bang giao quốc tế thì có thể bốn biển là nhà, vạn bang cùng vui vẻ, thiên hạ quy tâm.

Trở về với trung chính bình hòa là luôn giữ được tâm thái từ bi, an hòa, giống như nước "lợi ích cho vạn vật mà không tranh", cuối cùng thành tựu tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.  epochtimes,com

=======================================