add this

Wednesday, March 14, 2018

hai lần chết, Thế Lữ 1936


the_lu
Thế Lữ (1907 - 1989)
chuyn hai ln chết

Thế L

Tối hôm ấy, chúng tôi đi viếng một người bạn ở phố Hàng Bột mới từ trần. Lúc ra về đến giữa phố Sinh Từ thì trời đổ mưa, chúng tôi kéo cả lên nhà anh Tri. Tri bàn mọi người nên ngủ lại nhà mình để mai đi đưa ma cho tiện.
Anh em lâu không họp mặt, chuyện trò đến hơn mười hai giờ đêm.
Câu chuyện dồn cả vào sự nghiệp và đức tính Đàm Văn Tâm, người thiệt mệnh.
Tâm là một thanh niên đặc biệt thông minh, có khiếu riêng về khoa học và đối với bạn là một người khiêm tốn và chân thành. Anh ta không lấy vợ, cha mẹ mất sớm, bao nhiêu của cải của ông chú ruột để lại cho chi dùng vào công cuộc khảo cứu mà chúng tôi biết là có giá trị. Tâm cùng cộng tác với anh Đinh Văn Mão, một người bạn học cùng hướng với anh ta. Sự nghiệp về khoa học của Tâm đang chừng có vẻ rực rỡ, thì bỗng không bệnh mà chết. Họ hàng không có, nên Mão đứng lên lo việc tang ma.
Cái chết đột ngột của một người bạn còn trẻ gây cho chúng tôi một thứ cảm giác phảng phất, lo sợ, nhất là vì đêm ấy lại mưa gió sụt sùi. Tính vui đùa của anh Tính cũng không làm bớt được lạnh lẽo, nặng nề trong gian phòng sáng bởi một cây đèn dầu hỏa. Tính nói:
- Chết sớm, càng được nghỉ sớm chứ sao?
- Anh thì anh chỉ thích nghỉ thôi. Giá có chết cũng không thiệt cho ai. Còn anh Tâm...
Tính gật đầu:
- Phải. Quốc dân thiệt mất một nhân tài...
Rồi lại tiếp luôn:
- Nhưng sống khôn chết thiêng, hẳn ngài nhớ đến bọn ta, sẽ về phù hộ. Một người bạn mắng:
- Chỉ nói nhảm. Anh này việc gì cũng đem pha trò...
- Kìa! Pha trò đâu? Tôi nói thực đấy. Tâm chả nhiệt thành tin thuyết "Linh hồn hiển hiện" là gì? Phải không anh Ngôn?
Tôi đáp:
- Phải. Tâm hay bàn về vấn đề ấy lắm. Có lần anh hẹn tôi rằng khi nào chết sẽ về báo hiệu cho tôi biết. "Tôi chết, tôi sẽ về gãi chân anh".
- Y như trong sách của Camille Flammarion ấy nhỉ?
- Mà không phải là câu nói đùa đâu!
Tính nói nửa thực nửa bỡn:
- Nếu vậy, có lẽ anh Tâm sắp hiện lên giữa chúng ta...
Mọi người cùng cười thào lên một tiếng nhạt, rồi cùng ngồi im. Bên ngoài tiếng ướt át rì rào của mưa gió vẫn không ngơi. Tri ngẫm nghĩ thế nào chợt se sẽ nói:
- ừ, thế ngộ anh Tâm hiện hồn lên bây giờ thì sao?
Nhưng câu ấy không có ai trả lời, rơi vào trong vực yên lặng mất.
Bỗng nhà dưới có năm, sáu tiếng gõ cửa, tôi toan nói một câu, liền nín lại. Tiếng gõ cửa ra dáng gấp, và cứ mạnh thêm. 


See the source image

Đức nói thầm:
- Hay là anh... Tâm về...
Tôi:
- Có lẽ nào?
Nhưng chúng tôi đồng lo sợ. Tiếng gõ nhà dưới ra chiều thúc giục - Tiếng cửa mở rồi khép, rồi một lát thằng nhỏ đi lên, vừa ngái ngủ, vừa thưa vào:
- Thưa cậu, cậu Tâm lại chơi.
- Hử? Cậu Tâm nào?
- Thưa, cậu Tâm Hàng Bột.
Chúng tôi kinh ngạc nhìn nhau. Tri cau mày gắt:
- Mày nói láo! Còn cậu Tâm nào ở Hàng Bột nữa? Sao mày không hỏi xem ai?
- Bẩm, chính cậu Tâm... Cậu đang đi lên.
Chúng tôi như gặp luồng gió lạnh, nhìn ra thấy anh Tâm thực.
Tâm đứng ở khung cửa, đầu tóc bơ phờ, mặt mày ngơ ngác, mình mặc bộ quần áo trắng dài là bộ mặc cho anh ta lúc đặt nằm trong áo quan. Hơn một phút, chúng tôi không ai nói gì, ngồi đực ra như bị thôi miên. Sau, một người bạn đi đạo lấy tiếng dõng dạc hỏi:
- Nhân danh tình bằng hữu thiêng liêng của chúng ta, tôi xin hỏi vong hồn Đàm Văn Tâm có oan ức điều gì không?
Tâm, hay linh hồn hiển hiện của Tâm không đáp, cứ trân trân nhìn chúng tôi một lúc lâu. Tiếng dõng dạc lại hỏi lên lần thứ hai:
- Nhân danh tình bằng hữu thiêng liêng... tôi xin hỏi vong hồn...
Thì Tâm bỗng đưa tay gạt đi, dịu nét mặt lại rồi thong thả nói:
- Tôi không phải là vong hồn... vì tôi chưa chết.
Chúng tôi vẫn không hiểu. Tâm lại nói:
- Phải. Tôi còn sống thực, có xương, có thịt, có máu chạy trong mạch... chứ không phải là một vật hư vô...
Rồi Tâm yên lặng tiến lên, nhìn mọi người một cách xoi mói, dò xét, rồi lại kéo một chiếc ghế ngồi. Chúng tôi bất giác ngồi giãn cả ra, thì Tâm buồn rầu, mỉm cười, nói:
- Không. Tôi không chết đâu, tôi chưa chết. Tôi muốn... tôi hỏi các anh: Tôi có thể tin ở sự kín đáo của các anh được không? Tôi có thể tin ở tình bằng hữu thiêng liêng của chúng ta mà anh Đào vừa nói, được không?
Chúng tôi trả lời:
- Được. Nếu anh có oan uổng điều gì...
- Tôi đã bảo tôi còn sống mà! Sống như các anh, thực thể.
- ừ, chúng tôi muốn tin rằng thế, song anh Tâm đã chết thực, đã có giấy chứng nhận chôn, chúng tôi cũng đã đến viếng...
- Nhưng tôi chưa chết. Tôi ở trong săng dậy đây.
Yên lặng một phút. Sau tôi hỏi:
- Thế còn anh Mão ngồi coi bên săng? Anh ấy đâu?
Tâm bóp trán thở dài. Bỗng anh ngừng phắt lên, hai mắt lóng lánh, đột ngột nói:
- Mão chết rồi. Phải, chết rồi. Mà chính tôi, tôi, các anh nghe chưa? Tôi giết nó đấy...
- Sao lúc chập tối chúng tôi còn thấy anh Mão khóc, chúng tôi lại nhận rõ mặt anh trong săng?
- Nhưng tôi vừa giết Mão xong, giết vì bất bình, vì điên dại... Các anh hãy ngồi yên, tôi kể đầu đuôi cho nghe. Tôi thực là một người khổ sở hết sức!
Rồi Tâm ôm mặt se sẽ khóc trước năm bộ mặt kinh dị của chúng tôi. Một lúc lâu, anh ta mới lại nói:
- Tôi không ngờ đâu lại thấy những điều cay độc, mỉa mai đến như thế... Tôi tưởng phát điên lên mất,- không ngờ đâu lòng người mà lại đến thế. Các anh thử xét mà coi.

 
Thế Lữ (13 tuổi) mẹ và em

- Các anh vẫn biết Mão với tôi là hai người bạn thân hơn ruột thịt, vì tôi thương anh ấy nghèo và chăm chỉ, lại muốn cùng theo đuổi một công cuộc với tôi. Chúng tôi thề suốt đời không lấy vợ, để đem hết tâm trí hy sinh cho khoa học. Trong hai năm trời Mão càng ngày càng tỏ ra một người có chí và hết lòng với bạn, nên tôi càng ngày càng yêu thêm. Tôi muốn cho Mão vững tin ở lòng thành thực của tôi, nên viết một tờ "chúc thư" để gia tài của tôi với sự nghiệp của tôi lại cho Mão. Đó là một điều gàn dở, nhưng trong lúc nồng nàn hăng hái ấy thì tôi có trông thấy xa đâu? Tôi có ý tỏ cho Mão biết rằng của tôi cũng như của anh ta, mà nếu bất hạnh tôi chết trước, thì bổn phận anh ta là phải đi cho tới mục đích bước đường mà tôi bỏ dở. Từ lúc tôi ký tờ giấy kia đến nay đã được hai năm rồi, không có điều gì hết. Mão vẫn yêu tôi, vẫn hết lòng làm việc với tôi như trước. Mà nếu rủi tôi chết sớm thì chắc Mão là người thương tôi hơn cả. Có ngờ đâu người bạn thân thiết ấy lại là một giống sài lang!
Năm năm về trước, nguyên tôi vẫn mang một chứng bệnh thần kinh, thường khi đang yên bỗng ngã lăn ra bất tỉnh. Nhưng từ khi ông chú tôi mất, bệnh ấy như khỏi đứt, tôi không để ý đến nữa - rồi quên bẵng đi. Bệnh đó tới nay lại phát khởi lên xem chừng nặng hơn trước nhiều lắm. Mấy ngày trước tôi thấy những triệu chứng thứ nhất và bắt đầu lo. Song tôi vì bận viết một bài khảo biện rất dài cho một tạp chí chữ Pháp, nên không kịp nói chuyện với Mão. Ba giờ sáng hôm qua, lúc buông bút đi ngủ, bỗng tối sầm mặt lại, ngã gục xuống rồi từ đó lịm đi...
Lúc mở mắt ra thì thấy mình bị ép hai bên trong một xó tối và khó thở, tôi định tâm vừa nghĩ vừa sờ soạng mãi mới biết là mình nằm trong săng. Nhưng trông lên thấy mờ mờ có ánh lửa soi vào hai bên nắp săng và lắng tai còn nghe thấy quả lắc đồng hồ tích tắc đưa chuông điểm. Tôi đoán rằng tôi ngất đi đã lâu lắm - vì bụng thấy đói dữ - có lẽ mọi người tưởng chết thực và đã cho mình vào săng sắp sửa đem chôn. Tôi nâng nắp săng thì thấy còn mở, bèn yên lặng ngồi lên. Lúc ấy mới biết là hơn mười hai giờ đêm. Mão đang xem một tờ giấy bỗng quay ngoắt kêu lên một tiếng khẽ. Tôi cười để cho hắn khỏi sợ và nói: "Tôi không chết đâu... Sống đây mà!"
Mão vẫn trừng mắt nhìn tôi. Thấy tôi cười nói tự nhiên và chờ anh ta nâng hẳn nắp săng đỡ tôi dậy, thì như đã hơi định thần, hắn nhìn tờ giấy mà tôi nhận ra là tờ "di chúc" rồi lại nhìn tôi. Bỗng nhiên hắn rảo bước lại bên chiếc quan tài, mắt long lanh một cách lạ thường, rồi nhanh tay ấn mạnh tôi xuống đậy nắp săng lại.
Trước tôi còn ngờ hắn hoảng hốt vì sợ hãi quá, sau bỗng nghĩ ra một điều rất ghê gớm: Mão muốn giết tôi.
Phải rồi... tờ "chúc thư" mà hắn làm bộ không nói đến bao giờ... cái gia tài quan trọng của tôi... mà đối với mọi người thì tôi đã chết. Phải. Tôi chết là hắn được hưởng, mà tôi đã không chết thực thì hắn giúp tôi chết nhân thể, ai biết đấy là đâu?
Trong có một giây đồng hồ mà tôi cũng thoáng thấy được cái kế hiểm độc của bạn với cái tình thế nguy hiểm bấy giờ. Tôi căm giận không biết ngần nào, đấm nát tay lên cái nắp săng, nhưng cái nắp bật hé được lên lại bị ấn xuống. Chân tôi không bị buộc trói như thói thường trong lúc khâm liệm, nhưng không thể cử động được dễ. Bên ngoài, tôi nghe thấy tiếng chân vội vàng chạy xa dần. Tôi đoán chắc hắn đi tìm cái gì để đè lên mặt săng cho nặng thêm. Nhân cơ hội tôi thét lên một tiếng rất dữ, đạp một cái hết sức mạnh, nắp săng bật ra một chỗ, tôi ngồi dậy thì hắn đã tiến đến, cái ống tiêm thuốc độc cầm ở một tay. Tôi vùng đứng lên, vừa sợ vừa giận. Hắn bước tới, tôi liền níu lấy tóc, nghiến răng ấn đầu hắn xuống rồi nhảy xổ lại đè lên mình hắn: cái ống tiêm rơi xuống, vỡ tan ra. Hắn bị tôi cưỡi lên ngực, hai cánh tay bị dập dưới đầu gối tôi, và cổ bị hai bàn tay tôi thắt vào đến hai mươi phút. Tôi càng nhìn cái mặt thú vật của nó, cái bộ mặt mà mới hôm trước đây, tôi còn yêu quý, thì cơn giận cứ bốc lên mãi, tôi bóp ghì lấy cổ nó mà vẫn không rõ là mình làm gì. Lúc nó đã tắt thở rồi, tôi mới buông tay ra. Bấy giờ đúng mười hai rưỡi.
Tôi không sợ hãi, không hối hận, không vội vàng, vì không cho sự giết thằng khốn nạn ấy là một tội ác. Tôi xốc nó lên, bỏ vào săng đậy nắp lại tử tế, thu xếp ít tiền bạc, giấy má, định gieo thành một mối bí mật, rồi đi.
Nhưng tôi nghĩ lại ngay, nên thuê xe đến gọi anh Tri kể cho anh nghe để cùng với anh khu xử việc này... Lúc tôi vào bước lên đây, trông thấy các anh, tôi thú thực rằng hơi có ý nghi ngờ các anh... đồng lòng với Mão. Bởi vì... các anh xét hộ, tôi bị một kẻ tâm giao độc nhất xử với tôi một cách ghê gớm như thế... làm cho tôi tưởng phát điên lên mất, tôi tưởng rằng ở đời này thế cả... họ thấy lợi là họ quên cả tình nghĩa... Các anh tha thứ sự nghi ngờ ấy cho tôi.
Tâm nói đoạn thở dài một tiếng rất cay đắng, gục đầu xuống sụt sùi. Chúng tôi ngồi lặng nhìn nhau...
Đêm hôm ấy, chúng tôi không ngủ, sau bàn nên để anh Tâm ở yên một chỗ, dựa theo cái ý kiến mà Tâm đã nghĩ tới, xoay việc án mạng kia thành một thiên bí mật để không ai dò được manh mối ra sao.
Chúng tôi làm như người ngạc nhiên trước nhất về chuyện này, đi trình các nhà chuyên trách đến khám xét chỗ ở của Tâm và thản nhiên, trả lời rất khéo những câu hỏi mà chúng tôi đã đoán biết từ trước.
Bỗng nhiên, ngay sáng hôm ấy, đang khi tra vấn kỹ lưỡng thì anh Tâm lại lù lù hiện ra, nói rằng mình đi vơ vẩn suốt đêm, rồi đem kể hết đầu đuôi việc xẩy ra đêm trước.
"Tôi đã giết người, các ông dẫn ngay tôi vào ngục".
Đó là câu nói sau cùng của anh ta.
Cuộc thẩm vấn, chúng tôi cố chạy cho mau chóng và rất công minh, nên một tháng sau, lúc ra tòa, Đàm Văn Tâm được trắng án. Chúng tôi cũng không được vui mừng lắm, vì Tâm vẫn giữ vẻ nhẫn nhục, rầu rĩ như hôm mới bước chân vào đề lao.
Anh cám ơn công săn sóc của chúng tôi, rồi tự giam mình trong gian nhà phố Hàng Bột, nhất định không tiếp ai cả: sống ở đấy một cách yên lặng, kín đáo, bảo là một cách thầm vụng cũng được, như muốn cho người ta quên mình đi.
Một hôm, người đầy tớ già của Tâm đến nhà anh Tri nói rằng chủ mình đã hai hôm nay ở tịt trong phòng. Chúng tôi đến, phá cửa vào xem thì thấy anh ta gục đầu lên bàn trên một tờ chúc thư để của cải cho các viện tế bần, người lạnh ngắt và cứng đờ.
Lần này thì anh Tâm chết thật.

Trích từ tập truyện ngắn
Bên đường thiên lôi, 1936


nhc La Hi, li Thế L
Tam Ca Áo Trng trình bày



Sunday, March 11, 2018

hồng thủy Tiên Đài 2011


A statue of Hotei Buddha sits in the debris in the tsunami-destroyed town of Sendai, Miyagi Prefecture, northern Japan. Twenty-five thousand soldiers, 120 helicopters, and 65 ships will search for bodies through Sunday.
động đất Tiên Đài Nhật, Di lạc còn nguyên trừ ngón chân cái

vạn hồn ma mới đất Phù Tang
tôn thất tuệ

Động đất, núi lửa, thiên tai, ... không làm con người bỏ nơi mình sinh ra. Họ trở lại, xây dựng trở lại. Người miền Trung VN lúc nào cũng chuẩn bị làm nhà tranh tre, vì năm nào nước lụt cũng cuốn mất hết. Ngay sau khi tách khỏi Pakistan, Đông Hồi thành Bangladesh, thì bão đã quét sạch vịnh Bengal như Katrina ở Mỹ. Người Bengali trở về xây dựng và bây giờ Liên Hiệp Quốc lập một hệ thống báo động. Người Nhật sẽ trở lại Tiên Đài xây dựng trên vết cũ. Chẳng phải vì thiếu đất nhưng trở về như một tương quan thần bí giữa con người và sinh cảnh. Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí (kinh Hoa Nghiêm).

Hơn hai vạn người Nhật chết. Buồn ghê. Nhưng hãy bình tĩnh xem, số lượng chết ấy không tạo nên một kinh hãi rùng rợn của cảnh một người còn sống bị chôn còn để lộ cái đầu và bao người khác hò la sung sướng cho trâu kéo bừa chạy qua, ; hay cảnh một kẻ bị bỏ vào lửa vì bị xem là phù thủy, những cảnh tra tấn thời Dị Giáo, cảnh xác ba người Thệ Phản trong ba lồng sắt phơi nắng mưa 50 năm trên nóc tháp chuông, xương cốt lấy ra nhưng 500 năm ba lồng sắt ấy vẫn còn treo giờ phút nầy như xưa ở Munster Germany.

Mọi người tự lắng thinh trước linh hồn của vạn sinh linh. Mọi người có những giải thích siêu hình riêng như luật của vũ trụ, luật của cọng nghiệp, hay cơn thịnh nộ của đấng tạo hóa, hay theo vật lý: sự khác biệt về tốc độ xoay của các lớp địa chất làm cho mặt đất trợt tự do, hậu quả của môi sinh thay đổi ......Nhưng tất cả, dù khác nhau trong cách nhìn, đều đồng ý rằng sự việc diễn ra ngoài khả năng kiểm soát của con người.

Nhưng con người có đủ sức quyết định không hủy hoại môi sinh làm mồi cho thiên tai. Con người đủ sức quyết định không dùng trâu cày nát đầu người, không đốt kẻ có đức tin và triết lý khác biệt. Sự việc nầy còn tệ hơn chuyện vua La Mã cho người đấu với sư tử; vì tuy tỷ số rất thấp, nạn nhân còn có cơ hội thắng hoặc an phận chết vì sức thua loài thú dữ. Con người là lang sói với con người trong những hiện trạng nói trên.

Thi sĩ Trụ Vũ viết bài thơ với ý cuối: Khi nhật nguyệt linh đài đổ vỡ, vẫn còn một ánh đèn nơi cửa sổ phòng anh, để soi sáng hồn thơ và ý đạo; soi sáng hồn thơ trong anh và ý đạo trong lòng em.

11 tháng 3, 2011, Tiên Đài (Sendai) đã sụp đổ nhưng vẫn còn ý đạo trong mỗi chúng ta, cầu nguyện cho những linh hồn trong tay của sóng nước. Cầu mong tiếng sóng nầy sẽ là Hải Triều Âm đưa người qua khỏi mộng biển dâu.-

See the source image
Munster, Germany
trên cõi người
tôn thất tuệ

Các cuộc xử tử vẫn tiếp diễn trên thế giới nhưng cách thức thì thay đổi rất nhiều. Từ việc chém bêu đầu để răn đe, trống đánh kèn thổi, tuyên ngôn tuyên cáo rồi đến hành quyết trong phòng nhỏ. Từ khi tuyên xử cho đến khi thi hành bản án khác nhau. Như bên Tàu thì thi hành ngay, vì pháp trường và pháp đình một chỗ. Thân nhân phải trả tiền mấy viên đạn như mẹ phải trả tiền đạn họ dùng bắn con mình. Theo một cáo buộc, phủ nhận bởi Trung Cộng, bác sĩ đã mổ lấy nội tạng và da khi nạn nhân chưa chết hoàn toàn vì TC tiếc viên đạn, coup de grace, để gia đình khỏi tốn thêm. TC tỏ ra văn minh hơn một chút khi vào năm 2014 ra lệnh cấm lấy các bộ phận thân thể của kẻ vừa bị hành quyết.
Văn minh nhất bây giờ tại nước Mỹ là chích một ống thuốc độc, thế là xong.
Nhưng theo luật và theo lương tâm nghề nghiệp (ethic), ống chích,  kim chích phải sát trùng và phải thoa cồn chỗ chích.
Đúng rồi, chích thuốc là chích thuốc dù chích cho chết hay cho lành bệnh. Còn không thì treo bằng bác sĩ.

Án tử hình là sai vì các xứ dân chủ chủ trương thà tha ngàn người có tội hơn giết một kẻ vô tội; trong lúc ấy các nước CS thì thà giết lầm hơn bỏ sót.
Hôm nay (giữa tháng 2-2011) người ta vừa tha một tử tù (tên Graves) vì xử oan sau 14 năm ngồi tù tại Texas. George Bush junior, khi làm thống đốc Texas, đạt chức vô địch ra lệnh thi hành án tử hình. Cũng tại tiểu bang nầy, tại tòa thượng thẩm, luật sư của một bị cáo xin hủy bản án vì luật sư biện hộ ở tòa dưới ngủ  (making a nap) trong phiên xử. Tòa không chấp nhận bằng cách nói ông ta có ngủ, nhưng ngủ trong lúc không quan trọng. Một em bé tiểu học cũng biết không có một phần tỷ nào của một phút là không quan trọng khi phiên tòa liên hệ đến sống chết. Cũng tại Texas nầy, một luật sư được tòa cho rất nhiều mối cải; ông ta làm chủ rất nhiều tiệm rượu và nhà hàng; ông luôn thù tiếp các ông tòa và nhân viên tòa án. (Theo Bob Herbert, The New York Times).

Cách đây hơn một trăm năm, trong một lớp hình luật tại Mỹ; một sinh viên phát biểu một điều gì; một sinh viên khác lên đánh; giáo sư can và ra lệnh cả lớp viết bài tường trình. Hơn nửa số bài viết có những chi tiết sai (về diễn biến hay ý kiến của hai người). Sự đôi co nầy do ông giáo tổ chức để biết người ta làm chứng như thế nào. Một sự việc rất đơn giản, xẩy ra trước mắt gần kề, người tường trình là kẻ có học mà kết quả rất đáng nghi ngờ. Rất khó nhận dạng người khác chủng tộc. Tòa không chịu chấp cung nhận dạng của trẻ con dưới mười tuổi.

Nếu OJ Simpson không có tiền, không ai biết tiếng thì cũng như hàng trăm người da đen khác sẽ có luật sư "chùa"; loại luật sư chuyên môn dụ bị can nhận tội nói là để nhẹ án nhưng thực để khỏi mất thì giờ của họ, kiếm tiền nhanh.

Nhưng trước khi chết bị can được thuyết trình rằng cho đến khi chết bị can vẫn là người còn sống và bình đẳng trong mọi khía cạnh, được bảo vệ như nhau trong đó có việc khử trùng ống chích, cây kim chích và chỗ đưa thuốc độc vào người.
Đó là chân lý La Palice, ghi trên mộ bia:
Ci git Monsieur de La Palice. Si il n'était pas mort, il serait encore en vie. (Nơi đây đức ngài La Palice an nghỉ; nếu ngài không chết thì ngài còn sống)
Trên cõi người có những chuyện như ri và có chuyện trong lịch sử là vua Asoka Ấn Độ bãi bỏ án tử hình hai ngàn năm trước.-

Friday, March 2, 2018

ngày mai ta có bao giờ nguyên vẹn


Image result for hue during the tet offensive
50 năm mu thân
Nguyễn Đức Bạtngàn

mùa xuân 1968
t
ết Mu Thân
VC ph
n bi tha ước ngưng bn tm thi
công kích vào h
u hết thành th ca min Nam VN
gây ch
ết chóc tai ương ln lao cho nhân dân
đi
n hình là Huế.

 đây
tôi s
không khơi gi kh đau mt thi
ai ph
i ai trái
b
i vì lch s trng đen đã rõ.

tôi ch
nói ti bn cht ca mt thành phn trí thc
đ
ược VNCH nuôi dưỡng đào to
nh
ưng phn phúc
(ăn c
ơm quc gia
th
ma cng sn).

ph
i nói h (trong chng mc) là k
đã v
ch trn li lm ca chính quyn min Nam
và đòi làm cách m
ng đ thay đi.

sau bi
ến c Pht Giáo min Trung (1966)
cũng nh
ư sau tng tn công Mu Thân (1968) tht bi
ph
n đông đã chy theo VC
(s
li vn tiếp tc quy phá)
và âm h
ưởng t hành đng ca h
đã v
ương vn đâu đó trong tâm tư dân chúng
đã khen ngi h là nhng trí thc khí phách
can đ
m đng lên
không s
bo quyn
tranh đ
u vì dân tc vì quê hương.

sau 30 th
áng tư 1975
mi
n Nam tht th
tr
ước nhng bt công áp bc ca bè lũ VC
qu
n chúng nhân dân thp c bé ming
đã ngóng ch
cách ng x đy hào khí ca ca h trước đây
trông mong h
lên tiếng phn đi đc tài phi nhân tính ca chính quyn mi
nh
ưng h đã ngm câm

thì ra v
i "thành phn trí thc" này
"khí phách" ch
biu l khi có điu kin.

th
i VNCH
v
i tam quyn phân lp
(l
p pháp, hành pháp, tư pháp)
t
do dân ch
quy
n sng
quy
n làm người được hiến pháp tôn trng.

h
biết dù bo lon như thế nào thì sinh mng cũng s được bo đm
nên đã l
i dng cơ chế này ti đa
t
chc xung đường biu tình
hô hào ph
n đng
sáng tác ph
biến văn thơ nhc "chng M cu nước"
dè bĩu tinh th
n chng cng bo v t do ca quân dân min Nam;

nh
ưng vi chuyên chính VC thì khác
ch
ban cho bn h mt chn la
theo là s
ng
ch
ng là chết

và khi sinh m
ng trc tiếp b uy hiếp
thì "khí phách" l
làng bay mt
và có không ít k
lin nhanh chóng
bi
ến thành bi bút tay sai.


tĩnh biệt
Nguyễn Đức Bạtngàn

thm lá đng theo trin sương đm ướt
v
ườn khuya xanh tng du mng thm thì
l
n hp mt cũng là ln t dit
em qua đ
i trng vn n hng nghi

ta xa em nh
ư truy tm tông tích
ta xa ng
ười như bung ngc trăm năm
gi
a hơi th quá quan còn đóng bi
ph
n son người là du tích căm căm

hãy nhìn th
ng như thi xa ánh sáng
nh
ư tâm thn tiếc r thu xa hương
l
n chm mng theo đà trôi sóng nng
em tàn tro theo m
y bn phai hường

em cho ta như mt ln đim sc
em cho ng
ười th phách đã lăn quay
là l
p lp núi sông hn phiêu dt
v
n lng t nên chng có ai hay

ngày mai ta có bao gi
nguyên vn
ngày mai em và c
x hao mòn
thân xác đó c
m bng như mt hng
ph
ân đi là chết gia tơ non. xuất xứ



Nguyễn Đức Bạtngàn's Profile Photo, Image may contain: 1 person
Nguyễn Đức Bạtngàn, gốc Bạc Liêu

Monday, February 19, 2018

Mỹ, thế chiến thứ nhất


See the source imageSee the source image
poppy đỏ, tượng trưng thế chiến thứ nhất
Mỹ tham gia thế chiến thứ nhất
Edith Wharton, ttt dịch

Dẫn nhập: Khi thế chiến 1 còn 9 tháng na mi chm dt, Edith Wharton đã thuyết trình ngày 18-2-1918 bng tiếng Pháp trước mt c ta gn 400 người gii thích vì sao nước M tham chiến. Theo n sĩ ny, hành vi y có tính cht lý tưởng, căn c vào lch s lp quc, tuy gn cui bà nêu tính cht v li là chn nguy cơ trong tương lai. Vi nhng thc tế chiến tranh va qua, chúng tôi không ly gì nhit tình cho lm vi bài ny. Nhưng c đưa qua tiếng Vit vì s dẫn gii ca Edith Wharton giúp người đọc hiu thêm rt nhiu v nước M, có ghi nhng điu mi l như mc sư có c giá g treo c người phm tôi lượm ci ngày ch nht hay phê bình chút ít người Chúa chn. Tác gi khá thng thng, và theo báo TLS bà hiu biết sâu sc lch s HK. Edith Wharton (1862-1937) viết rt nhiu th loi, sáng tác, phê bình, nghiên cu…quen biết hu hết các nhân vt hu danh hai bên Đại Tây Dương, k c tng thng Theodore Roosevelt. Chúng tôi theo bài America At War ca Virginia Ricard đăng trên TLS (Time Literary Supplement) London, Feb14-2018; chưa tìm ra bn tiếng Pháp.

Ngôn ngữ đã tạo nên sự khác biệt căn bản sâu đậm giữa người Pháp và người Mỹ; khác biệt nầy còn sâu sắc hơn sự khác biệt giữa các dân tộc cùng nguồn gốc La Tinh có những tiếng nói cùng một nguồn chung. Khi một người Ý hay Tây Ban Nha cần diễn dịch ý tưởng qua tiếng quý vị, họ tìm được những chữ tương đồng dễ dàng hơn chúng tôi, người Mỹ. Đối với một người thuần túy gốc Anglo Saxon, ngoài sự khó khăn phát âm, còn có thêm khó khăn trong việc tìm những tiếng Pháp tương đồng mà diễn tả ý nghĩ Mỹ. Tôi lưu ý trở ngại nầy thì không phải vì cầu xin sự dung thứ của quý vị; nhưng vì tôi được mời nói về xứ sở của tôi; và một trong những vấn đề tế nhị nhất liên quan đến mối quan hệ giữ hai dân tộc lại chính là vấn đề tạo nên bởi sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Nếu Hoa Kỳ và Pháp là hai lân quốc thì trở ngại nầy có thể giảm thiểu; nhưng chúng ta phải đối thoại qua trung gian của báo chí hay các lời tuyên bố chính thức. Mỗi khi thấy báo Pháp dịch bài diễn văn hay lời tuyên bố của Mỹ, tôi ngại thế nào cũng có hiểu lầm.

Xin phép đưa ra một ví dụ. Khi đến Paris, ông House (đại sứ?) đọc trước báo chí một bài diễn văn đơn giản, khiêm tốn và trang trọng, nếu hiểu đúng tiếng Anh. Ông bắt đầu như thế nầy “America is already mobilizing her millions in the factories, the fields and the trenches”. Rút ngắn, rút gọn là đặc tính trội yếu của tiếng Anh. Chúng tôi gạt ra nhiều chữ, có khi cả một thành ngữ dài được hiểu một cách bao hàm; chuyện nầy không xẩy ra trong tiếng Pháp. Ông House không nói “millions of men” (hàng triệu người) bởi lẽ chữ men đã bao hàm trong toàn câu. Những ai sành tiếng Anh thì không thể hiểu nhầm. Nhưng nhiều báo Pháp đã viết: “L’Amérique a déjà mobilisé ses millions dans les usines”, etc., (Mỹ đã huy động hàng triệu trong các xưởng), có nghĩa trong tiếng Pháp là ”hàng triệu Mỹ kim”. Như vậy, ông House đáng thương được hình dung như “chú khách Mỹ” túi đầy dollars khi bước vô thềm nhà của quý vị. Ví dụ nhỏ nhưng tiêu biểu nầy cho thấy thật vô cùng khó khăn mà diễn dịch tiếng Anh, như trong trường hợp nầy, dịch giả khư khư từng chữ trong nguyên bản.

Quý vị có thể vặn lại mà nói rằng trong tinh thần chung, những hiểu lầm như thế rồi ra sẽ được làm sáng tỏ. Nhưng tôi đặt ra như vậy vì sự bất đồng ngôn từ thường là đầu mối bất đồng tâm tưởng. Cho dù xuất phát từ nguồn gốc chung, ngôn tự đã trải qua các sự thay đổi bí mật khi chúng được đưa vào một ngôn ngữ khác; những thay đổi ấy ảnh hưởng tâm tư và bóp méo sự suy nghĩ.

Ngôn ngữ của chúng tôi ngắn gọn và nhiều khi cách thức diễn tả cũng như thế. Chúng tôi thích đi tắt, đi băng; trong lúc quý vị đi theo những con lộ đã được vạch ra bởi một truyền thống rực rỡ lâu đời. Hơn cả ngàn năm nay, quý vị dùng những con đường rộng mà đế quốc La Mã kiến tạo khắp nước Pháp; trong lúc cha ông chúng tôi phải chặt cây, kéo nhánh để khai thông một lối đi trong rừng già.

Song hành nầy có thế giúp hình dung bối cảnh tinh thần của tiền nhân chúng tôi. Đa số các cụ, hay ít nhất lớp người ảnh hưởng sâu đậm tính chất Mỹ, đã chán ghét những lối đã đi mòn, những định chế cũ và nhất là những sự lợi dụng ức hiếp xưa nay. Họ rời bỏ Âu Châu để cho các ý tưởng được thả lỏng (tuy những ý tưởng nầy tại thân chẳng có gì hay; vì các cụ vẫn ở trong vòng những tranh luận thần học). Nói toạt ra, lớp người nầy cuồng tín, gây phiền phức, không cam chịu đựng; đó là lớp người mà thiên nhiên thỉnh thoảng tạo ra trong mục đích khởi động một phong trào quần chúng rộng lớn, hay dọn dẹp khai hoang cả lục địa; bởi lẽ số người dễ thương, hiểu biết không chịu thay đổi điều gì trong trật tự hiện tại.

Pilgrims đi nhà thờ

Những dòng nầy đã đặt tôi đúng trong đề tài muốn trình bày: những nguồn gốc của xứ sở chúng tôi, nào đâu là những rễ ăn sâu trong quá khứ. Hôm nay tôi được yêu cầu nói về: nước Mỹ lâm chiến, lý do chúng tôi nhảy vào cuộc chiến. Những lý do nầy không nằm trong nhu cầu bảo vệ biên giới đang bị hăm dọa hay trong sự bảo vệ nền kinh tế hay hệ thống quốc phòng. Nhưng chúng nằm trong quá khứ. Từ khi quốc gia chúng tôi lâm chiến, tôi mới nhận định rằng rất nhiều người Pháp không biết rõ cái quá khứ nầy.
Tôi không muốn bất công với quý vị mà nói rằng quý vị luôn xem người đồng hương của tôi là “chú khách Mỹ”, những chủ đồn điền béo mập, tay vung vàng khắp nơi, chuyên giải quyết những tranh chấp và ngộ nhận bằng tiền. Tôi xin hỏi phải chăng quý vị vẫn còn tin rằng cha ông chúng tôi đến Mỹ chính yếu để kiếm tiền cho con cháu tiêu xài thỏa thích ở các khách sạn hàng đầu Âu châu. Nhưng chỉ một số rất ít trong quý vị mới chú ý rằng chúng tôi tiêu số dollar ấy trong các tiệm đồ cổ, những phòng tranh, thấy chúng tôi đưa lên xe những bức hoành Fragonard, thảm Boucher và tượng đồng Rodin. Rồi có vị châm biếm nói: bọn mọi rợ lượm chiến lợi phẩm. Dần dà quý vị tạo nơi chúng tôi vài thị hiếu, chúng tôi đã biết nơi nào mua, mua thứ gì đem về trang hoàng nhà cửa triệu phú. Lòng nôn nóng của chúng tôi đối với hàng hóa thanh lịch rất rộng lớn và rất ấu trỉ; quý vị đã thấy ngàn lần, lắm khi cười đùa diễu cợt. Nhưng đó là hậu quả của quá khứ, một quá khứ khắc khe, cay nghiệt và không có gì vui.

Bắc Mỹ đã được thuộc địa hóa bởi nhiều giống người, trong những thời điểm khác nhau. Việc nầy còn tiếp diễn đến ngày nay, và qua 150 năm rồi (từ 1918), chúng tôi trở thành mãnh đất thử thách, thí nghiệm dân chủ. Tuy nhiên, nét hằn trên linh hồn chúng tôi do người Anh in sâu. Cả hai, Thánh Kinh Anh và Thường Luật Anh đã nhào nắn linh hồn Mỹ. Thánh kinh Anh đã nặn hình hài chúng tôi.

Và công việc đầu tiên của tôi hôm nay là giúp quý vị hiểu thêm tâm thức đã điều dẫn những người du hành trên tàu Mayflower (Mayflower Pilgrims). Tôi muốn nói những kẻ du hành rời nước Anh xưa năm 1620 để thành lập New England. Như đã nói trên, đấy là những kẻ cuồng tín, cứng cỏi, độc ác, ganh tỵ, hăng hái tìm cách thoát khỏi sự thanh trừng của giáo hội quốc gia Anh, rồi đến lược mình thanh trừng kẻ khác. Bị thanh trừng hôm qua thì hôm nay thanh trừng kẻ khác. Nói đến đấy thì không nên quên rằng những kẻ Thanh giáo Tân Thế Giới sống còn, tự tồn trên những nguyên động lực hoàn toàn vô vụ lợi. Việc thuộc địa hóa những tiểu bang Đại Tây Dương không phải là một cuộc vận hành kinh tế. Người Thanh giáo không đến đó để kiếm tiền hay danh vọng, và ngay cả không để che dấu một quá khứ tồi tệ khôn lường. Họ có đầu óc hẹp hòi nhưng có danh dự, khả kính, hầu hết có tiền tài nhưng hy sinh tất cả - gia tài, danh vọng, bạn hữu và cả sự an lạc cá nhân để đi thành lập một thuộc địa, trong khí hậu thời tiết thiếu thuận lợi, trên vùng đất có thổ dân không thân thiện; nơi cõi mới nầy mọi người được tự do thờ phụng Thượng Đế theo những tín điều của phái mình và tự do tố cáo láng giềng không hành đạo đúng cách. Để đạt mục đích nầy, họ gạt bỏ các lạc thú của một xã hội có tổ chức, bỏ những lối sống thân yêu xưa ở Anh  quanh các lâu đài và nhà thờ.

Trong khi nền thần quyền nầy được kiến tạo trên những lớp đá cứng Massachusett, những thương gia Hòa Lan – gồm toàn những con buôn giàu có, những doanh nhân sành sõi trong nghề - xây một vựa lông thú ở cửa sông Hudson, mậu dịch với người bản xứ ở Ngũ Hồ và phía Bắc. Những người Hòa Lan bền chí nầy chả nghĩ gì đến việc lập một thần quyền; họ đến Mỹ để tìm một khai lộ, một chi nhánh cho nền thương mãi Hòa Lan, nói cách khác họ đến vì tiền. Sau vài năm cố gắng trần ải và thất vọng; họ sắp xếp dựng một nền hành chánh vững và gia tăng lợi lộc. Thuộc địa của họ được cai trị bởi những người danh tiếng; khi Anh quốc chiếm, con cháu các thống đốc xưa vẫn ở lại New Amsterdam. Thị trấn nầy đổi tên thành New York với định mệnh trở thành thương trường chính của Tân Thế Giới.

Mary Dyer bị đưa đi treo cổ bởi thần quyền Thanh Giáo Puritan' Boston 1660
1661 vua Anh cấm xứ tử phái Quaker, 1684 hủy bỏ hiến chương Massachusett.

Vậy ngay từ đầu thế kỷ 17, sống cạnh kề nhau, một bên là Massachusett tối tăm cuồng tín, thành hình năm 1620 để kiến lập sự cai quản của tinh thần và bên kia là tiểu bang New York xuất hiện bảy năm sớm hơn để thành vương lãnh của dollar. Một bên là bình đẳng dân chủ, rủ bỏ sự giàu có vật chất, chống đối mọi lưu dấu của tước vị, của đặc quyền lối Âu xưa; bên kia một xã hội vừa thương mại vừa trọng quý tộc, hậu duệ của nhóm quyền thế đầu não của The Dutch West India Company. Xem đó, hiện diện chung vách là hai nhóm người đại diện hai nguyên động lực chính yếu của thế sự đời người: ý nguyện hy sinh mọi thứ vì một tin tưởng luân lý, trí thức và ước muốn giàu sang cùng hưởng thụ cuộc sống trần gian.

Tôi là một hậu sinh của những thương gia Hòa Lan và của người Anh kế tiếp, tôi phải xin thú nhận rằng tôi vui sướng đã không được nuôi dưỡng dưới bóng đen của nền thần quyền Massachusett. Tuy vậy, tôi vẫn phải công nhận rằng những kẻ hy sinh tất cả vì lý tưởng là những người đã tạo nên hình dạng linh hồn xứ sở của tôi rõ nét nhất, hơn cả bởi những người đi kiếm lợi lộc vật chất, tuy cả hai đều gặp nguy hiểm như nhau.

New York – cùng những trào lưu dính liền với New York: thích lợi lộc, kính nể đẳng cấp và tài sản, thèm những món ăn sang, mong cầu êm ấm của chăn bông – là một khí cụ hữu dụng để chỉnh sửa bù đắp ý thức hệ đen tối Thanh giáo bằng cách đóng góp vào khuôn mặt quốc gia sự hưởng thụ lành mạnh những của quý trên đời. Cần ghi nhận thêm rằng những ý tưởng nay còn sống sót đã được nẩy sinh từ sự hy sinh vô vụ lợi; và rằng nhóm quá khích mà tàu Mayflower đã thẩy lên bờ Plymouth Rock luôn luôn nhắc nhở chúng tôi tinh thần quốc gia mỗi khi gặp khủng hoảng trong lịch sử đất nước.
Những người nầy khi chưa đến đất liền đã vạch ra kế hoạch hành chánh hàng tỉnh; đó cũng là hiến chương (hiến pháp) thành văn đầu tiên được biết bởi những dân tộc nói tiếng Anh.

Xã hội mà họ xây dựng thuộc loại nào? Tuy mang những ý tưởng về chính quyền có từ thời xa xưa, những người lập cư đưa ra nhiều cải biến trong tổ chức tỉnh thị và giúp cho các tư tưởng dân chủ bị chính quyền mẫu quốc bóp nghẹt được khai phóng nhanh chóng ở Tân Thế Giới. Trong tình trạng thiên nhiên hoang dã, nơi mỗi nhóm di dân thiết lập một trung tâm riêng rẻ, cách biệt với vùng lần cận bởi lớp rừng dày, đơn vị chính trị duy nhất có thể quan niệm là thị xã (township), gồm nhiều ấp, gần giống như “commune” của Pháp. Theo hiến chương, bất cứ cá nhân nào được công nhận là thành viên đều có quyền tham gia vào chính sự. Kế hoạch nầy dẫn đến hậu quả là các buổi họp toàn thị xã, những hội nghị cộng đồng nầy là gốc của các tự do thị thành Massachusett. Như một sự kiện, ý nghĩ thành lập các chính quyền địa phương Mỹ đã có trong hiến chương nầy, ngoại trừ tự do tôn giáo mà New England có được sau một cuộc thư hùng khiếp đảm với quyền lực của một giáo hội khép kín không tương nhượng.

Trên Tân Thế Giới, dân chúng trong các thôn ấp u ám ấy có cuộc sống ra sao? Chèn giữa nhũng rừng già mênh mông, xây trên bờ biển bão táp, những ngôi nhà khiêm tốn bằng gỗ của họ bị tuyết phủ sáu tháng một năm. Dân làng không bao giờ ra khỏi nhà trừ khi phải đi qua tuyết đến nghe bài giảng của mục sư cai quản giáo khu. Không ai được phép vắng mặt các buổi học giáo lý. Trong những nhà thờ bằng gỗ, mong manh gió lọt, không có một lò lửa sưởi ấm, mọi người ngồi nghe mục sư huyên thuyên giờ nầy qua giờ nọ. Ông dạy rằng theo chủ thuyết Westminster Confession, trẻ con chết trước khi được rửa tội sẽ bị đốt vĩnh viễn dưới địa ngục, rằng quan tòa và các mục sư có nhiệm vụ xem chừng làm sao cho những người đến dự lễ vẫn giữ nguyên vẹn sự tin tưởng vào chủ thuyết; rằng kẻ nào đi kiếm củi ngày chủ nhật sẽ bị treo cổ; những ai đụng chạm người Chúa chọn cũng sẽ chịu án nầy.

Mục sư có thể truyền giảng hai hay ba giờ liền. Sự lạm dụng đã đến mức trầm trọng; các thẩm phản phải can thiệp, nại rằng nhịp độ của thánh lễ liền liền mỗi ngày buộc người lập cư phải ngưng làm việc, phụ nữ bỏ bê việc nhà. Các buổi lễ dài quá, giáo dân không thể đêm khuya về nhà xuyên các khu rừng nguy hiểm. Mục sư đáp rằng ngày và đêm không đủ giờ để nêu rõ các nguy cơ của dị giáo, không đủ giờ để lên án công khai tội trọng của tín đồ. Các ông tòa phải nhường bước và các buổi lễ tiếp tục như xưa.

Phía tín đồ, họ có nhiều lối phản ứng trước lời hùng biện tôn giáo không ngưng nầy. Nhật ký của ông X cho thấy ông đã dự một buổi lễ dài sáu giờ trong một nhà thờ không có lò sưởi vào lúc thời tiết lạnh cóng lưng nhưng ông không thấy lạnh vì thần lực của lời giảng, và ông vinh danh Thượng Đế. Một nơi khác, một người đàn bà đáng thương tên Ursula Cole đã xưng tội đã nói với người hàng xóm bà nghe tiếng mèo kêu khi mục sư bắt đầu mở miệng; bà bị kết tội phỉ bán, phạt 750 franc hay bị đòn. Có lẽ bà chọn bị đòn. Mục sư nào cũng có roi, gậy, gông cùng, xiềng xích và giá treo cổ. Quý vị đã biết những kẻ bị gọi là phù thủy bị tra tấn như thế nào; mà hoàn cảnh lại sinh ra một lớp chỉ điểm bày chuyện hại người trả thù riêng. Nếu một chế độ theo kiểu nầy còn sống dai, HK không thể thành một cường quốc ngày nay.

Tôi đã quá chú tâm đến bức tranh thảm não nầy, bởi lẽ, những người ấy - đàn ông lẫn đàn bà sắt đá như nhau, khắc khổ như nhau, tự kỷ như nhau – đã tạo nên những hạt giống nẩy mầm thành nền văn minh của chúng tôi. Ngay lúc bắt đầu, trong số nầy, có vài người có ý chí như nhau nhưng đầu óc rộng rãi hơn đã xây trường học, các đại học và khai phóng tư tưởng. Một trăm năm sau (tính đến 1918), người Mỹ biết chơi bài, đi xem hát, lo may sắm, hát hò nháy múa, các mục sư làm lễ ngắn hơn ít hơn. Nhưng những mùa đông dài New England, chuổi kinh hoàng kết bởi những cái chết bạo động, những sự trừng phạt liên miên vì lý do tôn giáo đã để lại một bóng đen trên linh hồn Mỹ. Người Mỹ nhảy múa ca hát nhưng nhảy múa ca hát trên miệng núi lửa, núi lửa nơi địa ngục của các giáo trưởng, giáo lãnh.

Trong lúc New England phát triển khó khăn, những người đến sớm hơn vài năm đã làm chủ vùng đất ngày nay kéo dài từ New Mexico đến Pennsylvania. Từ năm 1620, thuộc địa Virginia trực tiếp dính liền với vương triều Anh; được chia thành những lãnh địa lớn giao cho các quý tộc muốn thử thời vận ở Tân Thế Giới. Khí hậu ôn hòa, đất phì nhiêu nên thuộc địa bung nở về kinh tế. Nhờ sự canh quản nhân đạo của Giáo hội Anh Quốc, một xã hội văn minh đã được phát triển; nếu đem so với chỗ nầy thì New England quả là man ri như thời đồ đá.

Nhưng, than ôi, một ngày nào đó, một chiếc thuyền buôn Hòa Lan cập bến dỡ hàng và dỡ xuống đất vài người da đen để được bán chung với những thứ tàu chở đến.

Ngày ấy, chế độ nô lệ bắt đầu ở HK. Ngày ấy còn đánh dấu sự khơi mào hủy diệt về chính trị và thương mại của các tiểu bang phía nam. Những người Phi châu lạc lõng ấy, như những hung thần, đã mang đến những độc tố làm tan rả và chết. Ấy vậy, chúng tôi không chết không tan rả nhưng liên bang rộng lớn nầy đã phải chịu đựng nhiều giai đoạn hiểm nghèo; bởi lẽ nô lệ đóng vai trò của một trong những yếu tố tác thành điều gọi là chủ trương duy tiểu bang (statism), chỉ nghĩ đến vài quyền lợi riêng của tiểu bang, chẳng nghĩ đến cả quốc gia. Tương tranh nầy đã đến cực độ 150 năm sau với Cuộc Nội Chiến. Cuộc chiến nầy có nguyên nhân xa mang tính chất tư tưởng và nguyên nhân gần mang tính chất thực tế. Xa là sự mong muốn chấm dứt nô lệ; gần là để diệt trừ khuynh hướng ly khai của một số tiểu bang muốn dùng quyền rút khỏi Liên Hiệp nếu quyền lợi riêng tương phản với quyền lợi quốc gia.

Ngay từ đầu, các thuộc địa Mỹ - được tạo lập vì các lý do khác nhau, bởi những chủng tộc khác nhau, với những ý tưởng khác nhau – dĩ nhiên đã nghi ngờ lẫn nhau. Cách Mạng đã làm họ đoàn kết một lúc chống kẻ thù chung nhưng không thể diệt trừ mối tương tranh tất yếu.

Vì vậy, mỗi lần quốc gia khủng hoảng thì có hai phe: một phe bảo vệ quyền lợi địa phương, quyền tự do lựa chọn của mỗi tiểu bang; phe kia luôn bảo vệ lập trường cho rằng liên bang không thể sống còn và phát triển nếu không đặt quyền lợi của xứ sở trên quyền lợi địa phương. Rất dễ thấy rằng quan niệm quyền lợi địa phương được cưu mang bởi những tiểu bang phía nam nằm sâu trong phúc lợi trong một hệ thống lâu đời không nên xáo trộn. Dân lập cư ở các tiểu bang phía bắc – Pennsylvania, New York and New England – những kẻ đã mua tự do và đời sống với giá rất đắc nên dễ dàng hiểu rằng cần có sự hòa hợp quốc gia.

Nhưng vì sao những điền chủ trịnh trọng quan cách miền Nam được gọi là Democrats trong thời Nội Chiến? tại sao miền Bắc - dân dã hơn – lại chọn cái tên đáng lẽ dành cho đối phương. Trong nhãn quan thế kỷ 18, liên bang bắt nguồn từ xa xưa với nền quân chủ, những đặc quyền phong kiến, quyền lực của Giáo Hội quốc gia. Miền Nam có phần nào hữu lý khi tuyên bố: “Ấy, các bạn miền bắc, các bạn đại diện Công Hòa.Tuy nhiên chúng tôi là dân chủ thứ thiệt, vì chúng tôi bảo vệ quyền các tiểu bang, và quyền cá nhân chống lại sự đe dọa của quyền lực tập trung”. Nhóm chủ trương liên bang sẽ đáp lại bằng sự kiện: “Trái lại, chúng tôi đại diện Cộng Hòa, bảo vệ quyền lợi chung chống lại lòng vị kỷ của nhóm ly khai chỉ lo quyền lợi riêng tư khỏi bị thua thiệt”. Nói năng qua lại không kể, hai danh từ Dân Chủ và Cộng Hòa nói lên hai quan niệm, đúng hơn là hai ảnh hưởng đối nghịch. Ảnh hưởng ly tâm nhằm phá vỡ liên hiệp dưới sức nặng của các quyền lợi tương phản của tiểu bang và ảnh hưởng hướng tâm tiếp tục đặt những quyền lợi dưới hấp lực thống nhất quốc gia. Lập trường chính trị của hai phe còn đối nghịch nhau trên nhiều điểm khác.

May thay, mỗi thời xáo trộn, có điều gì vượt lên trên: lòng ái quốc Mỹ. Quý vị có thể tìm thấy bằng chứng hôm nay. Đại diện cho Dân chủ, TT Wilson lo âu về các liên minh Âu Châu và các sự can thiệp quân sự hải ngoại, dĩ nhiên ông bị ảnh hưởng bởi bối cảnh ly tâm. Ông lưỡng lự về việc tham chiến; nhưng một khi ông đã quyết định như vậy, ông biết cố gắng của ông sẽ bị bóp nghẹt bởi một nhóm, một đảng chỉ ước mong xứ sở rộng lớn theo đuổi sự phát triển an lành không có nguy hại nào từ việc can thiệp quốc tế. Quý vị biết rõ tình hình thời sự ra sao. Tổng động viên được thông qua trong hai ngày, không có tiếng xì xào. Quân sự hóa hỏa xa, ấn định khẩu phần lương thực và nguyên liệu, thỏa thuận với nghiệp đoàn không đình công trong thời chiến.

Wilson, thống đốc New Jersey

một liên bang lỏng lẻo gồm nhiều chủng tộc có những quyền lợi tương phản, thì đây hẳn là một kết quả đầy ngạc nhiên, quý vị còn ngạc nhiên hơn chúng tôi. Những thời nguy biến nhất đã dạy chúng tôi lòng ái quốc mạnh mẽ nồng nàn đến mức nào. Hai biến cố lịch sử còn để lại dấu tích. Sau khi thoát ách của một chính quyền vụng về (nhưng không tàn ác như sách vở đã nghĩ), chúng tôi có thể phát triển và trở nên một quốc gia. Ngõ hầu bảo vệ sự toàn vẹn của quốc gia nầy, chúng tôi đã phải đổ máu đánh lại chính người anh em. Ký ức nầy không thể mờ phai. Không những thế, nó còn nhắc nhở sự cần thiết phải bảo vệ nền độc lập của chính mình hay của các nước khác khi nó bị đe dọa. Chúng tôi biết rõ nhiệm vụ bảo vệ tự do của Đồng Minh vì chúng tôi phải mua tự do với giá quá cao.

Đối với quý vị thật khó tin một xứ xa xôi cách biệt với địa bàn chiến tranh như HK dám tham chiến vì lý tưởng. Phải nhận rằng danh từ “lý tưởng” có đôi chút bất ổn. Nhưng khi xem xét những nguyên động lực của người đời, thật khó tìm ra sự khác biệt giữa các nguyên động lực: lý tưởng – thực tế; vụ lợi – vô vụ lợi. Chúng tôi vụ lợi đấy chứ, vụ lợi nhiều lắm, nhưng không phải để chiếm kỹ nghệ của quý vị, cũng không phải để lấy những hải cảng Địa Trung Hải, như người Đức nói, mà trừ nợ viện trợ.

Lý do chính đáng sẽ được tìm thấy trong lời nói sau đây của một sĩ quan Mỹ khi ông nhận định cách thức người Pháp tiếp đón quân Mỹ: Hãy nói cho dân chúng Pháp biết rằng chúng tôi không cần được cảm ơn vì đã tham gia chiến sự. Chiến đấu vì nước Pháp cũng là chiến đấu cho chính chúng tôi”. Đó là sự thật chỉ những người sáng suốt mới nhận thấy.

Giờ đây quý vị đã biết vì sao tôi đã mô tả nguồn gốc xứ Mỹ; và làm cho quý vị hiểu vì sao chúng tôi khác với quý vị về quan điểm, phương thức và tập quán hành động. Sao lại khác biệt như vậy? Trong khi quý vị xây điện Versailles, chúng tôi hạ cây trong rừng già. Trong khi Descartes viết Discours de la Méthode chúng tôi viết sách về ma quỷ. Trong khi vua chúa Pháp xem kịch Molière, giáo dân của mục sư Shepard bị roi vọt vì chỉ trích lời giảng; tại Connecticut, chồng hôn vợ ngày chủ nhật sẽ bị phạt nhiều tiền. Còn nữa, trong lúc tiền nhân của quý vị chải chuốt làm đẹp phòng ngủ của Madame de Rambouillet và phòng tranh của Madame de Sévigné, tiền nhân chúng tôi ở trong các lều bẩy thú, cố sức trở thành nhà nông, bạn hàng, thợ rèn, buôn lông thú, luật sư, thư ký. Không chỗ nào chung cho hai quá khứ, bên nầy trực khởi ứng biến, bên kia đặt trên một truyền thống văn hóa lâu đời. Tuy vậy, phát tiết từ khác biệt lịch sử, lòng yêu nước và lòng yêu tự do đã một lần đem hai xứ sở gần nhau và nay một lần nữa ghép gần.

Những đợt di dân nhập cư bất tận từ sau Nội Chiến không đánh mất những cảm nghĩ nầy. Xin đừng quên huệ quang của Lincoln khi ông nói vào lúc đầu cuộc chiến: “Không lấy gì mà tin chắc rằng một nền dân chủ có thể hướng dẫn một cuộc chiến tranh lớn đến nơi chung cuộc tốt đẹp”. Nhưng dân chủ có thể hướng dẫn cuộc chiến, nếu người lập ra Hiện Pháp can đảm tuyên bố rằng chừng nào quốc gia lâm nguy, mọi uy quyền phải nằm trong tay quốc trưởng và nếu sự giáo dục công dân đủ sức làm cho dân chúng chấp nhận tập quyền tạm thời mà không sợ một chế độ độc tài vĩnh viễn. Hoàn cảnh của chúng tôi là như thế và nó giải thích vì sao chúng tôi hậu thuẩn quý vị ngày nay.