add this

Thursday, May 9, 2019

người đàn bà tuổi Mùi



tuoimui


Con đò ghé vào cầu tàu Thủ Thiêm bên kia sông. Chàng không nhìn đồng hồ tay, chỉ ước lượng cuộc sang sông mất chừng 15 phút đồng hồ. Cặp tình nhân nhảy lên cầu trước mọi người. Chàng nghĩ họ là một cặp vợ chồng trẻ, họ nóng ruột muốn được về gần nhau trong một căn phòng kín, trên một chiếc giường. Chàng nghĩ đến Tình Yêu. Với chàng Tình Yêu lúc nào cũng viết Hoa, hoa hai chữ T và Y. Chàng thấy Tình Yêu thật là đáng quý, chỉ có Tình Yêu là chân thật và đáng để cho con người hy sinh. Giữa những ngày chiến tranh ác liệt này, sau những mùa bi thảm tang tóc kéo dài – và còn đe dọa kéo dài hơn nữa – Vào nhà thờ, vào nhà chùa, một nửa đàn đến lễ chít khăn tang trắng. Tình trạng nhiều khăn tang trắng ấy diễn ra ở ngay những đô thị. Trong cảnh chiến tranh tang tóc ấy Tình Yêu lại càng đáng quý.
Nhưng thứ Tình Yêu mà chàng thường viết chỉ là thứ Tình Yêu nam nữ, trong đó có những chiếc hôn nồng cháy lửa tình. Đứng trên mũi đò, nhìn theo đôi người trẻ tuổi đi bên nhau, bước những bước dài, vội, tham lam, thèm muốn, hy vọng và đẹp, chàng nghĩ đến chuyện một ngày nào đó, khi cuộc khủng hoảng đang làm tim chàng tan nát, làm tâm trí chàng rã rơi, làm chàng đôi lúc như mê loạn, dịu đi, khi chàng trở lại mức làm việc như cũ – nghĩa là mỗi buổi chiều, buổi tối, ngồi vào bàn viết một mạch lên giấy một truyện ngắn, và khi buông bút xuống bàn, chui vào mùng ngủ là xong Truyện. Là Quên. Sáng hôm sau không cần đọc lại, chỉ có việc đem truyện đến tòa soạn, đưa bài, lấy tiền, và quên.

Chàng sẽ viết một truyện dài về Tình Yêu, trong truyện chỉ có hai nhân vật nam và nữ – chàng và nàng – vào truyện chàng và nàng là thanh niên, thiếu nữ, giữa truyện họ là đàn ông, đàn bà. Truyện dài ấy sẽ chỉ viết về những nỗi yêu đương sung sướng và khổ sở của hai người yêu nhau. Truyện sẽ có những đoạn tả thật dài, thật đẹp về những cuốc yêu đương, tả với một kỹ thuật tân kỳ, che dấu bởi những ngôn từ hoa lá muôn mầu, mơ hồ và đẹp, gợi cho người đọc tưởng tượng. Một tác phẩm để đời.

Chàng đi lên cầu tàu. Chàng là người cuối cùng ra khỏi đó. Cầu sắt chìm trong bóng tối. Gió bên sông này thổi lộng hơn gió bên thành phố.
Chợ Thủ Thiêm lấp loáng ánh đèn. Chàng nghĩ đến danh từ “để đời, tác phẩm để đời.” Mười năm trước đây, khi chàng mới nổi tên tuổi, mới viết và mới xuất bản tác phẩm Vũ Nữ Sài Gòn.
Vũ Nữ Sài Gòn được chàng trang trọng đem đến tặng một văn sĩ đàn anh; chàng được ông ban cho hai câu:
“Tôi đọc Vũ Nữ Sài Gòn, tôi nghĩ: Ông tác giả này cứ đem nước hoa rắc vào chuồng xí.”
Và:
“Văn anh có sức sống. anh có tính đến việc viết tác phẩm để đời chưa?”
Chàng nhớ rõ những lời ông đàn anh văn nghệ nói năm xưa. Ông đàn anh văn nghệ nổi tiếng và có tiếng – đôi khi mang tiếng – là một nhà phù thủy văn nghệ, một người bị coi là muốn làm lãnh tụ văn nghệ và thường lèo lái những anh làm văn non tay, kém bản lãnh, viết theo ý ông, như những ông phù thủy sai khiến âm binh đi tác hại. Vì vậy, khi nghe ông đàn anh hỏi đến chuyện “viết để đời” chàng nghĩ: “Ông muốn sai tôi viết gì đây?” Chàng mỉm cười, đáp:
“Tôi chưa nghĩ đến chuyện viết để đời.”
Chàng muốn nói thêm:
“Tôi chưa cần nghĩ đến chuyện đó.”
Và:
“Tôi thích viết nên tôi viết. Tôi không có ảo vọng những gì tôi viết sẽ sống lâu ở đời.”
Xong chàng không nói. Chàng thấy ngay ông đàn anh văn nghệ hiểu thái độ bất phục tùng ông của chàng, ông ta nói sang chuyện khác. Chàng biết nếu chàng là một anh viết văn yếu kém, ngu non, khi nghe đàn anh hỏi như thế sẽ nói:
“Em cũng muốn viết để đời nhưng chưa biết phải viết ra sao.”
Ông đàn anh sẽ nói:
“Chú nên viết như vầy… như vầy …”
Ông sẽ dậy bảo đàn em như Khổng Minh bầy kế.

Nhưng đến bây giờ thì chàng thấy chàng cần viết “một cài gì để đời.” Đi trên cầu sắt, chàng ngước mặt nhìn lên trời đêm có sao lấp lánh, tưởng tượng ra khuôn mặt yêu đương, kiều diễm mà chàng thương yêu:
“Anh yêu em. Anh nhớ em.” – Chàng nói trong tim, tiếng nói không âm thanh như bay lên trời cao, như vang vang bên tai chàng – “Anh cần có em. Anh chỉ cần có em thôi. Có em sống bên anh, yêu anh, anh làm được tất cả mọi việc. Không có em bên anh, anh không làm được việc gì hết. Không có em, anh sẽ sa ngã, anh sẽ chết, con chúng ta sẽ khổ.”
Nhiều lần chàng cảm thấy trong những ngón tay bàn tay phải của chàng có sức sống, một nguồn tình ý dồi dào chờ được tuôn ra thành chữ. Chàng thấy chắc chắn bàn tay chàng sẽ viết được nhiều, sẽ viết hay. Vào lúc đó bàn tay chàng chưa viết, song có một ngày nào đó bàn tay chàng sẽ viết hết.
Chàng nghĩ: “Anh chỉ cần có Em.”
Chàng đi qua trước chợ Thủ Thiêm. Tám, chín giờ tối, trước chợ, tiệm mì, hủ tíu còn sáng đèn. Phố chợ còn tủ thuốc điếu, sạp khô bò, vịt lộn. Đôi tình nhân đứng mua bánh mì ở xe bánh mì trước chợ. Dưới ánh đèn xe bánh mì, chàng thấy người thiếu nữ cầm bó hoa nylon mầu. Chàng nhớ anh Văn Thuật. Thời anh còn sống, anh viết bài “Hoa Giấy Vô Duyên,” nay nếu anh Văn Thuật còn sống, có thể anh viết bài “Hoa Nylon bền.”
o O o
Con đường đi vào Xóm Đình tối om. Bên con đường nhỏ có nhiều vũng nước. Trời mới mưa hồi chiều. Đã quen với con đường này, chàng vẫn đi nhanh được vào xóm mặc dù bóng tối.
Căn nhà chàng đến có ánh đèn le lói. Chàng bước từ mảnh sân xi-măng lên thềm, cất tiếng hỏi vào nhà:
“Có ai còn thức không?”
Trong nhà có tiếng người đàn bà hỏi ra:
“Ai đó?”
“Tôi muốn gặp bà Sáu Phùng.”
Qua hàng song cửa, chàng thấy người đàn bà nằm trên giường ngồi dậy, chàng nghe tiếng guốc:
“Tôi đây. Mời thầy vô.”
Người đàn bà mở cánh cửa gỗ.
“Tôi đang chờ thầy. Tôi về nghe nói thầy qua tìm tôi. Tội quá.”
“Tôi qua hai lần rồi. Tôi có chuyện cần hỏi bà.”
“Mời thầy vô.”

Chàng bước vào căn nhà nhỏ. Bà Sáu đi vào nhà trong, bưng ra cây đèn dầu tây cỡ lớn. Sau nhiều phút đi trong bóng tôi, chàng thấy anh đèn dầu tỏa sáng khắp phòng. Chàng nhìn rõ bà Sáu Phùng, bà thầy bói mà chàng đã nghe Doãn Bình nói đến. Bà ta trạc 50 tuổi, tóc búi, mặt tròn, không có vẻ sắc sảo. Bà bận áo bà ba trắng, quần thâm.
Cây đèn dầu được đặt lên chiếc bàn giữa nhà, giữa bàn có chai nước lọc, mấy cái ly.
“Nhà hết nước trà. Thầy uống nước lọc vậy.”
Chàng lấy thuốc lá ra châm lửa hút.
“Bà để mặc tôi. Tôi không khát.”

Bà Sáu trở vào nhà trong lần nữa. Bà lấy ra bàn mấy quyển sách, một cỗ bài Tây. Đeo cặp kính lão lên, bà bắt đầu xem tướng tay cho ông khách trẻ.
Giọng bà rõ ràng, đầy thẩm quyền, như giọng thầy giáo giảng bài. Bà nói chàng như con ngựa hay nhưng chưa gặp thời, chỉ được người ta dùng, xong việc là ngừng: “Thầy như con ngựa có công cứu nhà vua, nhưng bị người ta tranh mất công.”
Bà nói từ hai năm trở lại đây công việc làm ăn của chàng càng ngày càng xuống, và cũng chỉ mới từ hai năm nay chàng mới tin có quỷ thần, mới tin chuyện cúng kiến, bói toán.
“Trước đây thầy không tin gì hết. Nghe ai nói chuyện quỷ thần, thầy không nhạo báng, nhưng thầy chỉ cười, bỏ qua. Hai năm nay thầy mới tin.”
Chàng gật đầu: “Bà nói đúng.”
Chàng nói tiếp: “Bà xem giùm tôi gia đình tôi có chuyện gì xáo trộn không?”
Bà Sáu khựng lại: “Thầy để tôi coi từ từ. Tôi sẽ nói hết. Có nhiều chuyện nhưng thầy hỏi làm tôi quên.”
Chàng vội nói: “Tôi xin lỗi. Vì tôi sốt ruột nên mới hỏi. Tôi không hỏi nữa đâu, xin bà cứ từ từ mà nói.”

Từ Sài Gòn sang Thủ Thiêm, năm 1960. Thiếu nữ ngồi giữa  đò che dù.
Từ Sài Gòn sang Thủ Thiêm, năm 1960. Thiếu nữ ngồi giữa đò che dù
Ảnh và ghi chú của HHT

Chàng nghĩ thầm: “Tôi không cần biết về chuyện làm ăn. Việc làm của tôi rất vững. Tôi chỉ làm công thôi nhưng tôi được chủ trọng nể. Tôi bị thất nghiệp nhưng mỗi tháng tôi vẫn kiếm được tiền bằng tiền lương người khác. Tôi chỉ làm thêm, làm chơi cũng bằng tiền lương cả tháng của người khác.” Chàng dẹp sự nóng nẩy muốn biết chuyện sắp tới để ngồi nghe.
Những lời tiên đoán vô thưởng vô phạt của bà Sáu không làm chàng chú ý:
“Từ tháng bẩy, tháng tám tới đây, công việc của thầy khá lắm. Thầy có trốn ở đâu người ta cũng tìm đến mời thầy.”
Chàng chờ mãi cho đến lúc bà Sáu đặt bộ bài Tây lên bàn. Chàng biết qua về việc bói bài Tây. Đại khái: bài Tây rất linh, bói bài Tây có thể cho người ta biết được những chuyện xẩy ra trong thời gian gần, lâu nhất là trong một tháng; bài Tây không cho biết những việc xa.
Chàng nhìn vào những cây bài được bà Thầy xếp lên bàn thành bốn hàng. Chàng thấy trên quẻ bài, cây bài tượng trưng cho chàng và cây bài là người đàn bà chàng yêu thương đứng xa nhau.
Bà Sáu nhìn, ngắm, điểm nhẹ ngón tay lên mấy cây bài, bà nói như nói một mình:
“Chà… Cái bà tuổi Mùi này bả phá thầy dữ quá. Không còn việc nào mà bà tuổi Mùi này không làm để cho thầy phải khổ.”
Chàng thấy lạnh nơi xương sống khi nghe nói đến “người đàn bà tuổi Mùi.” Chàng sợ chàng bị nghe nói;
“Bà tuổi Mùi này đi luôn rồi. Bả không trở về với thầy nữa đâu.”
Chàng nói:
“Bà cho tôi kể để bà coi cho tôi rõ hơn.”
“Dạ.”
“Người đàn bà tuổi Mùi là vợ tôi. Vợ chồng tôi giận nhau, vợ tôi bỏ đi. Đã một tháng nay. Vợ chồng tôi thương nhau. Tôi chắc vợ tôi chỉ buồn mà bỏ đi ít lâu. Bà coi giùm tôi bao giờ thì vợ tôi trở về với tôi?
Bà Sáu kiểm lại mấy quân bài:
“Có lẽ cô ấy đi xa rồi .”
Bà ngập ngừng rồi nói tiếp:
“Kiếp này thầy và cố ấy không chung sống với nhau nữa đâu.”
Bà thu hết cổ bài lại, xóc bài rồi đặt lại lên bàn:
“Thầy cân đôi.”
Chàng chia cỗ bài làm hai.
Bà Sáu đẩy ra mười cây bài lập úp.
“Thầy lấy tay mặt một cây, tay trái một cây.”
Chàng làm theo lời bà.
Bà Sáu lật từng cây bài lên. Rồi bà xếp bài theo một kiểu khác. Sau một khoảng thời gian với chàng dài như thế kỷ, chàng nghe nói:
“Thầy yên tâm. Cô ấy không đi luôn đâu, hai người có duyên nợ vợ chồng với nhau mà. Làm sao bỏ nhau được.”

Những tiếng nói dịu ngọt như làn nước trong, mát, chẩy vào, thấm vào mảnh đất tâm hồn khô nóng, chờ đợi của chàng. Chàng được biết là vợ chàng vẫn yêu thương chàng và nàng vẫn sống ở Sài Gòn, ở ngay môt nơi nào đó gần chàng, nàng vẫn biết tin chàng và các con, rất có thể nàng có về thăm nhà mà chàng không biết.
“Đến ngày 11 tháng này, thể nào cô ấy cũng về. Tôi nói ngày 11 là trung bình, có thể cô ấy về sớm hơn, có thể về muộn hơn, nhưng không quá ngày rằm tháng này. Thầy tin tôi đi. Nếu quá rằm cô ấy không về tôi không làm thầy nữa.”
Tim chàng đập mạnh. Chàng xúc động đến quên hỏi: “Sao bà vừa nói vợ tôi sẽ không về với tôi.” Đến khi ngồi trên con thuyền trở về Sài Gòn, chàng mới nhớ chàng đã không hỏi câu đó, Chàng chỉ nhớ bà thầy nói vợ chàng sắp trở về với chàng.

Đò ra giữa sông. Đêm, sông rộng mông mênh. Đêm về khuya, gió trên sông thổi mạnh. Sóng từng đợt liên tiếp đánh vào mạn đò. Những tòa nhà cao sáng ánh đèn: Majestic, Caravelle, IMEX. Chàng nhìn lên, nhận ra từng tòa nhà. Sài Gòn trôi dài trước mắt chàng như trên màn ảnh đại vĩ tuyến .
Lời nói của người đàn bà Thủ Thiêm văng vẳng bên tai chàng:
“Thầy chỉ cần cầm một nén hương nửa đêm ra đứng giữa trời khấn vái. Thầy chưa cầu xin thần linh bao giờ, nay thầy xin, chắc chắn sẽ linh lắm”.
Chàng nhìn lại Thủ Thiêm. Trời đêm trên Thủ Thiêm những ngôi sao sáng hơn, chàng nhìn lên trời, khấn thầm:
“Xin cho tôi được găp lại nàng. Xin cho vợ tôi về với tôi.”
Lời cầu nguyện được chàng gửi tới tất cả những vị có quyền phép trong thế giới hữu hình và vô hình trong đó có nàng và chàng.
Hết Truyện Ngắn Người Đàn Bà Tuổi Mùi.

=====================================================

Hoàng Hải Thủy:  Ngày 8 tháng 10, 2016, tôi ra Trung Tâm EDEN hớt tóc. Ông Hoàng Thơ đã qua đời, Trung Tâm Eden, Falls Church, Fairfax, vẫn còn hai tiệm Barber Hoàng Thơ. Hai tiệm nay do các con của ông Hoàng Thơ thay ông làm chủ. Ông chủ tiệm Hoàng Thơ hiện nay cho tôi mấy số báo từ California gửi sang. Trong số có tờ Thế Giới Nghệ Sĩ.
Tôi xúc động khi thấy trong báo có bài “Người Đàn Bà Tuổi Mùi,” một truyện ngắn của tôi, Hoàng Hải Thủy.
Dòng chữ cuối bài ghi: “Trích báo Tâm Tình Số 6, phát hành ngày 9 tháng 7 năm 1966.”
Xin viết thêm: “… Tâm Tình ra ngày 9 tháng 7 năm 1966 ở Sài Gòn” là thừa. Chuyện nên viết ở đây là Người Đàn Bà Tuổi Mùi đã được viết trước hôm nay 50 năm.
50 năm – hoa mỹ  là “Nửa Thế Kỷ..” – năm ấy cuộc đời chưa có Công Tử Hà Đông, chưa có Viết ở Rừng Phong.
Năm ấy cuộc đời chỉ có Người Đàn Bà Tuổi Mùi và người mới viết văn là Hoàng Hải Thủy.
Tôi – HHT – không cần viết ra, quí vị độc giả của tôi, những vị thường đọc những bài tôi viết, khi đọc Người Đàn Bà Tuổi Mùi  chắc thấy trong đó toàn là chuyện thật.
Tôi đã sống với người Đàn Bà Tuổi Mùi của tôi 40 năm ở Sài Gòn, 20 năm ở Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.
Chiều vào Thu, Rừng Phong nắng thu vàng..
Mùa thu mây trắng xây thành
Tình Em mầu ấy có xanh da trời.
Hoa Lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?
See the source image

See the source image
See the source image
Saigon năm xưa


Friday, May 3, 2019

áo ấm, áo lạnh



    nữ sinh trung học đệ nhất cấp Huế, 196...

áo ấm, áo lạnh
Tôn Thất Tuệ

Nếu không nhầm, thời của tui, tiểu học thì học số học, lên trung học thì học đại số; tròm trèm tiếng nước người mới phân biệt arithmetic và algebra. Không nhớ ở giai đoạn nào thì có những danh từ như số nguyên, số lẻ, số chẳn, lại có số nguyên tố. Cái nhà anh “số lẻ” gây hiểu nhầm vì nó có hai nghĩa: vừa là số không nguyên như 3,75 hoặc là số không chia chẳn cho hai ví như số nhà bên ni bên kia đường. Số chẳn cũng lộn xộn, vừa có nghĩa số tròn số nguyên như 1 và có thể chia với kết quả số tròn như 10, 11... Có câu hát đánh thẻ của con gái: một đôi hai đắn ba thìn chín chăn chẳn chục. Lại nữa, số nguyên khác với số nguyên tố. Số nguyên tố chỉ có thể chia chẳn bởi chính nó hay số 1 ví dụ 3, 5, 7, 11, 13, 17, 19…

Rối ren như vậy, mà còn có câu hỏi ‘số không’ (zero) chẳn hay lẻ; hiểu theo số nhà hai bên đường; even numbers: 2, 4, 1000, 70782…; odd – uneven - numbers: 1, 3, 1001, 70783….Muốn biết nó là odd hay even (pair / impair) thì đem chia cho hai. Nếu kết quả là số nguyên thì nó là even: ví dụ 14:2=7; 16:2=8. Nếu kết quả kèm theo bầu đoàn thê tử, nồi niêu thúng mủng thì là odd, ví dụ: 15.2=7,5; 261:2= 130,50.

Vậy lấy số không (zero) chia cho hai ta có 0 nguyên tròn không râu ria nên có quyền kết luận zero là số chẳn tròn, even, pair.
Lắm người cho rằng việc chia nầy không thành vì zero không phải là con số; đấy mới ngụy biện vì bạn nghĩ sao khi thấy 0,45 dollar; 0,74 tỷ? trong hàm số hyperbole có chỗ x:0 = vô cực lớn. Trong hàm số y=2x; muốn vẽ biểu đồ nầy thì lấy điểm có hoành là 4 và tung 8 tức là A(4,8), vẽ đường thẳng từ đó qua giao điểm O của hai trục tung hoành. Vậy điểm O vẫn có hoành độ và tung độ O(o,o).

Nói theo triết học, O vẫn hiện diện không hình tướng, nhưng bảo đảm cho sự hiện diện của hai trục tung hoành.

Điều nầy làm độc giả suy nghĩ về lời sau đây của Gandhi nói với Tibor Mende: Je me réduis à zéro; tôi giản lược chính tôi đến tận không. I reduce myself up to zero.
Tibor Mende là ký giả Pháp viết rất nhiều sách, phần lớn về các nước đang phát triển, kể cả Ấn và Tàu. Câu nói trên Tibor Mende nhắc lại trong cuốn Thảo Luận với Nehru (Conversation avec Nehru) cuốn sách tôi mua 1962 và đọc như tụng chú Đại Bi, nghĩa là đọc mù, chữ được ít hơn chữ mất.

See the source image

Dùng ý niệm hoành độ không và tung độ không O(o,o) sẽ thấy chính nhờ việc rút mình lại là số zero mà Gandhi không mất đi theo thể xác, vất hết để được hết, để lại nhiều điều: từ việc lớn: phương tiện và cứu cánh phải tốt đẹp như nhau, không thể lấy cứu cánh biện minh phương tiện; việc nhỏ vất chiếc dép còn trong chân xuống sân tàu để chung đôi với chiếc đã mất, tiện cho người lượm. Việc làm nầy là một hành động ý thức chứ không phải áp lực từ bên ngoài biến mình thành số không.

 Zero của Gandhi khác với Zero của Arthur Koestler. Dịch giả Pháp đã dùng Le zéro et l'infini làm đầu đề cho Darkness at Noon, tuy nó tên một phụ đính. Nhà nước là cực đại, con người là số không, danh xưng ‘người’ chỉ là một ảo tưởng văn phạm. Bán hết gia sản làm việc lành khác với bị bóc lột hết gia sản, ra ngủ vĩa hè.

đường Gia Long, 1969
Tôi đang viết cấy chi các bạn hè? Hôm ấy tui búng mấy hàng bên trên đến vài ông bạn già. Thầy Võ Văn Dật, tức Võ Hương An nhớ đến cách đếm đánh thẻ: một đôi hai đắn ba thìn chín chăn chẳn chục. Tuy là một thằng cu, thầy đánh thẻ với mấy đứa con cấy. Thầy nhớ cái con nớ hai tay dẻo kẹo như những nữ vũ công, người như bún, nó rẻ quạt cái xẹt như tay chia bài điêu luyện Las Vegas. Thầy quên nói lúc nớ làm chi có trái banh cao su, cả lũ lượm trái bưởi non rụng, hay trái mù u.

Tôi đang viết giữa buổi giao mùa, vào lúc hai chữ “áo ấm” và “áo lạnh” có hai nghĩa khác nhau, không giống nhau. Thấy con lạnh lên phố mua cái áo lạnh cho con; con mặc vô thấy ấm, khoe với bạn bè “áo ấm mạ tau cho”.

Dạ, tôi còn nhớ những lần đi qua Ngả Giữa nhìn vô cửa kính Mỹ Thắng, tiệm của anh Ngọ đi xe Vespa, tiệm Tân Hợp Mỹ v.v... mà thèm cái áo len. Lúc ấy tôi đang nghĩ đến cái áo ấm; dì tôi, thay mẹ tôi nuôi tôi, đang gom góp từng đồng, đang nghĩ tới cái áo lạnh nơi đường Gia Long. Cái áo lạnh không hồn vô chủ sẽ thành cái áo ấm, thành một phần thân thể của tôi, cũng có thân nhiệt như tôi.

Tôi đang nghĩ đến những giờ bơ vơ, phất phơ trên Phố Huế với những ước mong nhỏ nhoi mà không vời đến được, ngoại trừ ước mơ mặc cái áo len. Có ít còn hơn không. Huế có chi nhiều mà cho.! (Sáng 30.04.2019)


=========================================================
bến cũ
Anh Việt, Sĩ Phú




Tuesday, April 30, 2019

chuyện tháng tư







nhớ chuyện tháng tư 
(nhớ bạn Dũng hải quân)
 Đỗ Duy Ngọc
Sấm chớp vang rền mưa chưa tới
Bom r
ơi sáng loé phía phi trường
Nh
ững lớp người đi về phía biển
Ta bu
ồn sấp mặt giữa tang thương.
Loạng quạng hoàng hôn đầy tiếng nổ
Ta ng
ồi run rẩy đợi chuyến bay
B
ầu trời phành phạch cành cây đổ
Ch
ấp cả hai tay cầu rủi may.

Ph
ố xá đùn lên dân hôi của
Máy móc th
ức ăn úa vỉa hè
Nh
ững chiếc xe lướt qua vội vã
N
ửa đêm chờ đợi nằm nghiêng nghe
Có tiếng ai la trong bóng tối
Thiên h
ạ nhao nhao thoát ra ngoài
Ta b
ị đẩy ra rìa cánh cửa
Thi
ếu nước không cơm bỗng mệt nhoài.

Người chia hai hướng đi hai ngã
Ta chán cu
ộc chơi bỏ trở về
Ph
ố phường lác đác vài tiếng nổ
C
ảm thấy lạc loài trong cơn mê.
@
Bạn lái chở ta ra Ba Son
Đêm qua ng
ười đợi đã mỏi mòn
Th
ời gian nguy cấp tàu đi sớm
Tuy
ệt vọng thoái lui đường chẳng còn.
Qua cầu một đám mang băng đỏ
Gi
ương súng giơ tay giọng lạnh lùng
Hai th
ằng lặng lẽ luồn qua ngõ
Không dám nhìn quanh b
ước đường cùng.

Trưa nắng tháng tư cháy vỉa hè
Xe tăng r
ầm rập với còi xe
Lính c
ởi quân trang tràn ngập phố
Th
ất thểu băng qua mấy xác đè.
Cờ màu xanh đỏ chen cây lá
Áo tr
ận súng gờm pháo chĩa ngang.
Ng
ười đưa tay vẫy người cúi mặt
Nh
ững xác không hồn miệng nín khe.

Từ đấy ta làm người ở lại
Sáng sáng lang thang đ
ứng góc đường
Xem ng
ười lính mới cười ngơ ngác
L
àm kẻ man di giữa phố phường.

Bạn ta lưu lạc về đâu mất
Năm tháng qua đi ch
ẳng thấy về
R
ồi mười năm nữa qua như mộng
Tin b
ạn lang thang nơi miền quê.
Rồi nghe bạn chết vì quá đói
Khi g
ắng chuyến thồ rau cuối năm
G
ục giữa phố đông mồm thổ huyết
Không ch
ốn thân quen chẳng chỗ nằm.

Ta đi tìm mộ bạn nơi quê
Kh
ông có ai biết chỗ bạn về
Ta đ
ứng sông Hoài mà nhớ bạn
Th
ắp nén nhang trầm mắt đỏ hoe.

5.4.2018


 

Friday, April 26, 2019

đem con bỏ chợ

Tibet resistance fighters.jpg
kháng quân Kamba ở biến giới, thập niến 1950
Mỹ bỏ rơi Tây Tạng
Tibet: The CIA’s Cancelled War
Jonathan Mirsky, ttt dịch

Hơn một thế kỷ nay, bang giao của Mỹ với Tây Tạng (TT) được đánh dấu bởi hai đặc điểm là HK cúi lạy Bắc Kinh và HK gởi đến Đạt Lai Lạc Ma (ĐLLM) những lời chúc tụng rỗng tếch. Năm 1908, nhà ngoại giao Mỹ tên William Rockhill đã khuyến cáo ĐLLM thứ 13 rằng: liên lạc mật thiết và thân thiện với Tàu là điều tuyệt đối cần thiết, bởi lẽ Tây Tạng – vì lợi ích riêng của chính mình - hiện là, và phải tiếp tục như vậy, một phần của đế quốc Đại Thanh (Mãn Châu).  Hơn trăm năm sau với vị ĐLLM thứ 14, cũng ngần ấy không sai chạy. Năm 2011, sau cuộc gặp mặt với Obama ở White House, ĐLLM được dẫn ra cửa sau ngang qua các thùng rác để ra về. Điều nầy xẩy ra nhằm tránh lời kết án của Bắc Kinh, vì với Tàu một lời chỉ trích qua loa về Tàu và TT là can thiệp nội bộ.

Tuy nhiên, trong suốt 20 năm từ khi Tàu thôn tính TT, CIA đã thực hiện một hoạt vụ ngầm để huấn luyện người Tây Tạng chống đối và thu lượm tin tức về Tàu, đồng thời ngăn chận sự bành trướng của CS trên thế giới. Dù không được biết nhiều, chương trình nầy tối thiểu đã tạo được một “cú tình báo” ngoạn mục cũng như gây hậu thuẩn cho ĐLLM. Nhưng chiều hôm trước ngày Nixon gặp Mao năm 1972, chương trình đột nhiên bị hủy bỏ và HK trở lại chính sách xa cách truyền thống đối với Tây Tạng. Tuy nhiên quyết định nầy không chấm dứt mối nghi kỵ truyền kiếp nằm lòng trong bang giao Tàu Mỹ. Không những biết, Tàu còn công bố bạch thư về chương trình nầy của CIA. Tuy kê rõ các nguồn tin Tây phương đáng tin cậy về các hoạt động kín kia, ấn phẩm nầy chỉ lên án phản loạn là do “bè đảng ĐLLM” danh hiệu ngày nay Tàu vẫn tiếp tục dùng.

 
Đạt Lai Lạc Ma 14


Cuộc nổi dậy bắt đầu sau khi Hồng Quân Tàu đánh bại phe quốc gia, chiếm đóng TT và sau khi Bắc Kinh ép chính phủ ĐLLM công nhận nền hành chánh cai trị của Tàu khắp xứ. Năm 1955, một nhóm lãnh tụ TT địa phương đã bí mật chuẩn bị cuộc nổi dậy có vũ trang và một năm sau thì hành động, bao vây trụ sở chính quyền địa phương, giết hằng trăm nhân viên và người Hán. Tháng 5, 1957, một tổ chức phản loạn và một lực lượng tấn công được hình thành, giết nhiều CS, gián đoạn lưu thông, đánh các cơ sở dân sự và quân sự của Tàu đồn trú tại chỗ.

Vào lúc nầy, phe phản loạn được HK ủng hộ. Đầu thập niên 1950, CIA đã tìm cách giúp người TT, trong đường lối chung là bao vây CS Tàu; những năm cuối thập niên, “dự án xiệc” (Project Circus) đã chính thức được xúc tiến, kháng chiến quân TT được không vận ra ngoại quốc huấn luyện, vũ khí và đạn được thả xuống các vị trí chiến lược bên trong TT. Năm 1959, CIA đã mở trại huấn luyện bí mật dành cho người TT mới được tuyển, gần Leadville, Colorado (lý do chọn nơi nầy, một phần vì nó có độ cao 10 ngàn feets tương đương độ cao Hy Mã Lạp Sơn của TT). Theo một nguồn tin, 170 “du kích quân Kamba” đã học hết chương trình huấn luyện nầy.

Các cố gắng của CIA không tạo được cuộc nổi dậy của quần chúng đuổi quân Tàu chiếm đóng. Nhưng CIA đã đạt một trong những thành quả tình báo lớn nhất trong Chiến Tranh Lạnh. Kháng quân TT đã thu thập với khối lượng khổng lồ các tài liệu của bộ binh Tàu và chuyển cho CIA năm 1961. Nhờ vậy Mỹ biết rằng lính Tàu mất tinh thần sau khi hay tin nạn đói trầm trọng hoành hành toàn quốc trong chiến dịch Bước Tiến Nhảy Vọt. Tuy nhiên thập niên kế, giới chức HK không đồng ý với nhau về các hoạt động của CIA ở TT. Từ 1971, khi Kissinger sắp xếp cho Nixon gặp Mao, chương trình thu nhỏ lại.

“Mặc dầu TT không được đưa lên bàn thảo luận ở Bắc Kinh, thời kỳ Mỹ ủng hộ chính nghĩa TT đã qua rồi”; đó là ý kiến trong hồi ký của John Kenneth Knaus, 40 năm trong nghề tình báo; ông nói tiếp: Không có một vai trò nào dành cho TT trong phương trình của Kissinger. Năm 1975, TT Ford trịnh trọng nói với Đặng Tiểu Bình: Tôi xin bảo đảm với Phó Thủ Tướng rằng chúng tôi phản đối và không ủng hộ bất cứ hành động nào của chính phủ HK liên quan đến TT”.

Nhiều người bạn của TT và người ngưỡng mộ ĐLLM (kẻ chủ trương bất bạo động) tin rằng ĐLLM không biết gì về chương trình nầy của CIA. Nhưng Gyalo Thondup, một trong những người em trai của ĐLLM dính líu chặt chẻ với hoạt vụ nầy. Knaus, cũng hoạt động trong cùng chương trình, đã viết rõ: Gyalo Thondup đã tường trình ĐLLM những đường nét tổng quát về hậu thuẩn của CIA. Cũng theo Knaus cơ quan nầy đã trợ cấp ĐLLM mỗi tháng 15 ngàn MK từ cuối thập niên 1950 và chấm dứt năm 1974.

Năm 1999, tôi hỏi ĐLLM phải chăng hoạt động của CIA có hại cho TT. “Có chứ, đúng như thế”, ông trả lời. Ông cho rằng sự can thiệp nầy rất có hại, vì nó chỉ nhằm phục vụ quyền lợi của HK hơn là giúp người TT trong trường hạn. Ông nói: Một khi chính sách về Tàu của HK thay đổi, họ ngưng giúp đỡ. Nếu không thì chúng tôi có thể tiếp tục. Nhiều người TT kỳ vọng CIA sẽ thả dù tiếp viện, nhưng Tàu đến và họ bị tiêu diệt. Mỹ có chương trình riêng khác với TT”.

Arrested Histories: Tibet, the CIA, and Memories of a Forgotten War (McGranahan)

Đúng vậy, sự khác biệt về mục đích cứu cánh nêu trên đã được Carole McGranahan khai thác tìm hiểu để viết cuốn Arrested Histories: Tibet, the CIA, and Memories of a Forgotten War (2010). Mặc dù dùng nhiều thuật ngữ nhân chủng học khó hiểu, tác giả nói tiếng TT nầy đã cày sâu sự khác biệt giữa kháng quân TT và người hợp tác tình báo ngoại quốc. Bà nêu một ví dụ độc đáo là vụ phục kích một sĩ quan cao cấp Tàu lấy tài liệu. Chiến công nầy được diễn tả trong một bức tranh rùng rợn, khổ lớn, hiện chưng bày tại viện bào tàng của CIA ở Washington. Khối tài liệu nầy cho biết tinh thần lính Tàu suy giảm, đồng thời nói lên mức độ bạo động trầm trọng lính Tàu gây ra ở TT. Chính nhờ chuyện nầy mà chính phủ lưu vong TT mới có bằng chứng cụ thể về sự độc ác của Tàu.

McGranahan, tuy vậy, vô cùng ngạc nhiên trong các lần phỏng vấn cựu kháng binh không đề cập đến vụ trên. Bà tự hỏi: Tại sao một thành đạt hiếm hoi mà HK và chính phủ TT công nhận có giá trị quan trọng không để lại dấu vết nào trong ký ức của họ”.
Một lý do là họ không được cho biết tầm quan trọng và giá trị của các tài liệu nầy, mà họ cũng không được đọc tới. Một người giải thích như sau: quân chúng tôi tấn công đoàn xe vận tải và lấy nhiều tài liệu của Tàu. Sau đó được tăng lương. Không ai biết nội dung mà cũng không ai hỏi đến. Vả lại, hỏi nhiều sinh nghi. Người chỉ huy phục kích nói rằng ông được CIA thưởng chiếc đồng hồ Omega có ngày tháng và ngoài ra không biết gì hơn.
Trong khi không đề cập đến chiến công nầy, kháng binh chỉ cho thấy lòng ngưỡng mộ ĐLLM và muốn ông trở về đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo tối cao của một nước TT độc lập.

Sau khi CIA chấm dứt sứ mệnh nầy, TT đã bị đẩy ra khỏi rìa của chính sách Mỹ đối với Tây Tạng. Tác giả Knaus tiếp tục trình bày sự lạnh nhạt nầy trong cuốn sách thứ hai khác. Thực trạng bây giờ Mỹ đã xem Tàu là một cường quốc. Theo Knaus, lời tuyên bố sau đây của phụ tá bộ trưởng ngoại giao Mỹ phụ trách Á Châu Marshall Green có thể tóm lược các lời biện minh lui lui tới tới về việc Mỹ bỏ rơi TT. “Chúng tôi không thể làm gì hơn để giúp TT, ngoài cách cải thiện bang giao với CS Tàu để thuyết phục họ nhẹ tay với người TT. Đây rõ là một sự hợp lý hóa”.

Bill Clinton đã nói với Giang Trạch Dân lúc ấy chủ tịch CS Tàu trong cuộc gặp gỡ 1998: “tôi đồng ý rằng TT là một phần của Tàu, một vùng tự trị của Tàu; và tôi hiểu vì sao quý quốc xem đó là điều kiện tiên quyết để đối thoại với ĐLLM”. Bill nói tiếp: Tôi đã nhiều lần thảo luận với ĐLLM; tôi tin ông ấy là một người ngay thẳng, tôi cũng tin tưởng rằng nếu ông có dịp gặp Giang chủ tịch thì nhị vị sẽ quý mến nhau”. Giang Trạch Dân ngửa người cười rộ. Lời nói của Bill đã bị gạch bỏ khỏi bản chuyển ngữ chính thức của Tàu. (Tibet: The CIA’s Cancelled War)

======================================================================================================================


cờ  cũ TT, người lưu vong hiện dùng