hù dọa thiên hạ
| Mousqueton 1892 |
(tôn thất tuệ, 1939 bến ngự huế, tiểu học nam giao, biết đọc biết viết, georgia usa 30747)
hù dọa thiên hạ
| Mousqueton 1892 |
Bụi Sài Gòn * Kim Chi
Bạn
ở Cali về thăm nhà. Tôi chở bạn bằng chiếc xe hai bánh đi một vòng phố xá. Dặn dò
bạn thật kỹ: "Có vô quán hay mua sắm gì, mày làm ơn im lặng nhé, đừng để lộ
mày là Việt kiều". Bạn hỏi: "Sao vậy?" "Còn sao nữa? Nghe
Việt kiều là nó 'cứa cổ' chứ sao. Nó nói thách, bán mắc tao không theo kịp".
Bạn cười, thì ra vậy, bộ Việt kiều là giàu lắm sao mà nói thách, bán mắc? Tôi
khoát tay, không biết giàu nghèo gì, nhưng tốt nhất mày im lặng giùm tao. Bởi
có một số anh chàng Việt kiều về đây phá giá. Bạn hỏi: mua gì mà phá giá? Tôi
trả lời: đủ thứ, kể cả mua tình. Bạn đập nhẹ vào vai tôi: sợ mày luôn, cái gì
cũng nói được.
Tôi
chở bạn qua những con đường mà ngày xưa khi còn là học trò, tôi và bạn đã từng
lang thang. Đường phố nhiều đổi thay. Có đường còn tên cũ. Có đường đã thay
tên. Khi đi ngang qua đường Nguyễn Du, bạn nói mấy cây me bên đường dường như
đã già đi nhiều lắm. Tôi cười: tao với mày còn già nói gì đến cây me. Mấy chục
năm rồi còn gì? Dưới những gốc me đường Nguyễn Du thấp thoáng vài tà áo dài. Bạn
nói đã chiều tối rồi mà mấy cô học trò còn loanh quanh ở đây? Tôi cười: học trò
gì? 'Bướm đêm' đó. Mặc mini jupe khách nhìn hoài cũng chán. Áo dài trắng cho lạ
mắt, ra vẻ nữ sinh con nhà lành hơn. Chiêu PR mới của các nàng Kiều đó mà. Bạn
không hài lòng: tao phản đối. Nó làm vấy bẩn tà áo trắng học trò. Nghe bạn nói,
tôi chợt buồn, đời con gái còn xuống giá, sá gì manh áo? Tôi nói với bạn, tại
mày không biết đó thôi bây giờ đàn ông Hàn Quốc, Trung Quốc qua Việt Nam kén vợ
như đi mua cá mua rau. Họ săm soi phía trước, phía sau, vòng trên, vòng dưới.
Giá tiền để mua một cô vợ tuổi mười tám, đôi mươi chỉ vài triệu Việt Nam đồng.
Quá rẻ phải không?
Xưa
mình đi học, không được mặc áo lụa mỏng, không được may áo eo cao, hở chút xíu
thịt da bên hông là có ngọn roi mây của cô giám thị chỉ vào. Sáng nào quý vị
giám thị chẳng "chờ đón" tụi mình trước cổng trường? Quý vị muốn tụi
mình vừa "học lực giỏi" vừa "hạnh kiểm tốt". Bạn nói: bởi vậy
tụi mình lúc đó khá ngoan, học lớp 12 rồi mà chưa biết hôn, chưa dám hôn. Tôi
và bạn cùng cười phá lên, giờ tiếc hả? Ừ, tiếc quá chừng một nụ hôn cho tình đầu.
Tôi
chợt nghe mắt mình cay cay, như có bụi bay vào. Bạn cũng im lặng. Nỗi nhớ trào
dâng làm tôi muốn khóc. Tôi đang chở bạn về với tuổi thơ. Nhưng cả ngôi trường
lẫn con đường đều đã thay tên. Cả chiếc áo dài trắng cũng không còn là độc quyền
của học trò. Nó đã bay xuống đời, vướng lại ở gốc cây, vỉa hè đầy bụi bặm. Nó
đã trở thành một thứ bụi trong vô số các loại bụi Sài Gòn.
Tôi
đi qua phố chiều nay. Tôi chỉ cho bạn góc phố ở ngã sáu Phù Đổng, nơi mà cách
đây 40 năm tôi và bạn cùng ngồi ăn bột chiên, cùng gặp anh chàng Trung Uý Hải
Quân đi tàu HQ505. Mày còn nhớ anh chàng đó không? Bạn lắc đầu: lâu quá rồi,
tao không nhớ nổi. Tôi nghĩ thầm bạn quên cũng phải. Anh chàng Hải Quân đó có
theo bạn về nhà đâu? Định mệnh buồn ấy đã buộc vào tôi.
Không
còn chút dấu vết nào của quán bột chiên để bạn nhớ về. Một toà nhà cao tầng hiện
đại mọc lên nơi đó đã che khuất kỷ niệm của tôi, làm nhạt nhoà một phần đời thơ
mộng của chúng tôi.
Tôi
dừng xe lại trước một quán kem. Chọn bàn ở sát lề đường ngồi ăn kem. Bạn kêu
lên ngồi ở ngoài bụi lắm. Tôi nói: mày hãy tập sống bụi vài ngày cho quen, để
khi trở lại Cali mày mới có dịp so sánh bụi Bolsa và bụi Sài Gòn, bụi nào làm
cay mắt mày hơn. Riêng tao, bụi ở góc trời này dù có che mờ nhân ảnh, dù có làm
tao nhiều lần chảy nước mắt, tao vẫn cứ muốn ngồi đây, nhìn về phía góc phố
xưa, tìm trong làn bụi mỏng thời gian hình bóng một thời.
Chaque année quand fleurissait le
pêcher On revoyait le vieux lettré Qui étalait l'encre de Chine et
papier pourpre
Chaque année quand fleurissait le pêcher On revoyait le vieu
Fantaisie Gérard de Nerdal (1808 – 1855)
Il est un
air pour qui je donnerais
Tout Rossini, tout Mozart et tout Weber,
Un air très vieux, languissant et funèbre ,
Qui pour moi seul a des charmes secrets.
Or,
chaque fois que je viens à l'entendre,
De deux cents ans mon âme rajeunit ...
C'est sous Louis treize; et je crois voir s'étendre
Un coteau vert, que le couchant jaunit.
Puis un château de brique à coins de pierres,
Aux vitraux teints de rougeâtres couleurs,
Ceint de grands parcs, avec une rivière
Baignant ses pieds, qui coule entre des fleurs;
Puis une dame à sa haute fenêtre,
Blonde aux yeux noirs, en ses habits anciens,
Que dans une autre existence peut-être,
J'ai déjà vue ... et dont je me souviens!
The lady I have seen already in one other existence and I still keep a vivid memory of.
người xưa Gérard de Nerdal (1808-1855)
Kìa một giai điệu xa xưa, xanh xao như dáng em gầy
u
sầu như đưa ma nhưng tôi đổi cả rừng âm nhạc mà lấy,
từ
Rossini, từ Mozart cho đến Weber,
vì những duyên thầm bí mật mình tôi thấy.
Mỗi
lần nghe là mỗi lần xóa bớt hai trăm năm khỏi sổ đời
mà
hồi sinh mà hồi xuân, ung dung thời Louis Mười Ba
ngắm
một ngọn đồi trải rộng mút mắt màu xanh lục
ngoan
ngoản dưới ánh chiều vàng.
Rồi
một lâu đài bằng gạch cẩn đá quý,
lắm
cửa kính màu hồng ngọc;
có
những hoa viên bao quanh,
một
con sông xinh đến gần chân tường mà tưới lũ hoa yêu.
Rồi
một người đẹp hiển hiện nơi cửa sổ tầng cao,
tóc
vàng óng mượt, đôi mắt đen,
trang
phục thời huyền sử,
người
đẹp tôi đã từng thấy từng gặp ngàn kiếp trước,
ở
những cảnh giới nào khác, tôi còn nhớ rõ không phai.
The lady I have seen already in one other existence and I still keep a vivid memory of.
Fantasia Gérard de Nerval translated by TTT
And
there’s an air, a very old one,
Languishing
and funereal for which
I
would swap the whole haven of music
From
Rossini, Mozart to Weber ....
for the why of its hidden mystical charms.
Each
time I hear it again shows up a time
when
two hundred years were crossed out
from
my age log for a firm rejuvenation.
Back
under the reign of Louis XIII
I'm
able to watch a hill spreading
its
green to the endlessness
goldened
by the setting sideral.
Then
there’s a castle, brick walls inlaid with gemstones,
Reddish
stained-glasses, surrounded by large gardens
Endowed
with a river that flows to water its feet
Among
flowers in myriad.
Then
is bursting into view at her high window,
Blond,
black eyes, vintage fashioned cloak
The
lady I have seen already in one other existence
and I still keep a vivid memory of.
The lady I have seen already in one other existence and I still keep a vivid memory of.The lady I have seen already in one oth
mâm cơm chiều ba mươi
tết
Ngô Văn Thu
Khi tôi cùng người bạn đến quán cơm của “Mẹ Huế”, thì bàn trong, bàn ngoài của quán đã đông khách, đành phải chờ.
Quán cơm của “Mẹ Huế” được đông khách như vậy, vì quán không phải dựng lên để bán cho khách thập phương lỡ bước ghé vào, mà quán, gần như riêng biệt bán cho quân nhân và các viên chức chính phủ, làm việc trong toà hành chánh tỉnh ra ăn mà thôi, nên không có bóng dáng thường dân vào quán.
Tôi không thuộc quân số của tiểu khu Quảng Tín, mà thuộc quân số của trung đoàn bộ binh, trung đoàn của tôi lại đồn trú trên lãnh thổ tỉnh Quảng Tín, cách thị xã Tam kỳ 13km, nhưng vì có mấy trạm tuyển mộ tân binh và trạm kiểm soát quân sự do tôi phụ trách, nên tôi thường có mặt ở Tam kỳ.
Quán của “Mẹ Huế” nằm trong một khu bình dân của thị xã Tam-kỳ, cách toà hành chánh tỉnh Quảng Tín vài cây số, tiện lợi cho quân nhân và viên chức từ toà tỉnh chạy xe ra ăn.
Không ai biết quán (cũng là nhà của “Mẹ Huế”) cất lên tự lúc nào trên khoảnh đất thoáng rộng, đủ chỗ cho hàng loạt xe honda đậu khi vào quán dùng cơm, lại có bụi tre phủ bóng mát trước nhà nữa.
Khi tôi biết được quán của “Mẹ Huế” và thường xuyên đến ăn thì quán đã đông thân chủ. Tôi nhập cuộc vào chốn cơm hàng cháo chợ nầy, vì đời lính xa nhà. Lần hồi, cơ duyên đưa đẩy, tôi như chỗ người nhà của quán cơm “Mẹ Huế” luôn.
Tôi không biết tên của “Mẹ Huế”, chỉ nghe người ta kêu vậy tôi cũng đành theo khuôn phép đó. “Mẹ Huế” ước chừng năm mươi lăm, sáu mươi tuổi gì đó, thân hình “Mẹ Huế” trông mảnh khảnh, nhanh nhẹn so với tuổi đời của mẹ. “Mẹ Huế” lớn tuổi hơn đám khách chúng tôi khoảng mười lăm tuổi. Không thấy “Ba Huế” có mặt bên “Mẹ Huế”. Có lần không nén được nỗi buồn của mình vì tình duyên đứt đoạn giữa đường, ”Mẹ Huế” hé lộ đôi lời tâm sự. Mẹ kể: thời còn con gái, Mẹ có quán cơm bán lưu động trên tàu lửa xuyên Việt. Cuộc đời Mẹ đong đưa ngược xuôi trên con tàu, nay đây mai đó, ”sáng Huế, xế Quảng”. Và đã từng nhỏ giọt buồn cho từng ga, khi phải chứng kiến những cảnh đưa tiễn người thân đi xa. Nhất là thời chiến tranh bùng nổ mạnh trên đất nước.
Đã có hàng chục va-gon tàu, chở quân đội ra tiền tuyến, và cũng có hàng chục va-gon khác, chở thanh niên các miền vào quân trường huấn luyện. Rồi buồn thay! Có những lần tàu trở về, một vài va-gon đó, lại mang theo quan tài của người xấu số trong họ, đã ra đi ngày nào. Bài hát "Biệt Ly" của Doãn Mẩn thật thấm thía trong hoàn cảnh nầy. (Biệt ly tiếc thương từ đây….Ôi, còi tàu như xé tâm lòng!…)
Biết vậy, nhưng trái tim Mẹ vẫn bị thổn thức bởi một chàng trai hào hiệp, đã cứu mẹ thoát một tai nạn, khi tàu bị mìn lật trên đoạn đường Lăng Cô - Huế. Người đó không ai khác hơn là chàng sĩ quan tùng thiết trên tàu lửa, người có nhiệm vụ bảo vệ tàu. Người ấy săn sóc cho Mẹ thật tận tình, không có ơn nghĩa nào đền đáp được. Thế rồi từ đó, hai người dành cho nhau nhiều cảm tình “đặc biệt”. Với hai đứa con, một trai 17 tuổi và một gái 15 tuổi ra đời, là kết quả cuộc tình đó.
Nói đến đây, ”Mẹ Huế” bỗng dừng lại, không kể tiếp phần cuối những ly kỳ, bí hiểm hơn, tại sao “Mẹ Huế” lại có mặt tại Tam Kỳ nầy và, người hùng của “Mẹ Huế” sau đó đã bị mất tích trên chiến trường tết Mậu Thân Huế như thế nào (vì hết thời gian biệt phái qua đường sắt, nên phải trở về đơn vị tác chiến cũ). Hai đứa con của “Mẹ Huế”, chúng biết thân phận mồ côi cha, nên lo toan giúp mẹ mọi bề trong quán cơm nầy.
| Tam Kỳ 1960s |
Tuy “Mẹ Huế” là người Huế, ước chừng Mẹ không phải gốc chính Huế, nên nhiều khi “Mẹ Huế” nói chuyện, phát âm nhiều chữ hơi nặng không như Huế đại nội. Nhưng dù ở miền nào của Huế, món ăn của ”Mẹ Huế”cũng có thứ đặc biệt như mắm ruốc đầy chất Huế.
Ban đầu ăn, tụi nầy thấy mùi hơi khó chịu vì chưa quen, nhưng “Mẹ Huế” cứ “cưng” hoài món hàng nầy vào các món ăn của Mẹ nên ăn riết đâm ghiền, không còn phàn nàn nữa. Quả là “Mẹ Huế” có tài “lãnh đạo và chỉ huy”.
Thực đơn, bữa ăn của “Mẹ Huế” dành cho thực khách, đám thanh niên xa nhà như chúng tôi vẫn thường là: cá kho mặn, canh bầu hoặc dưa gan, hột vịt dầm nước mắm ớt và một dĩa thịt heo ba chỉ cuộn với rau sống chấm mắm nêm lõng. Bọn ”hạm” chúng tôi tuổi ngoài đôi mươi, thấy món gì “Mẹ Huế” cống hiến trong bữa ăn cũng hài lòng khen ngon cả, vì sức trai, nhai đá cũng giòn kia mà!
Cứ thế “Mẹ Huế”, nay món nầy mai món khác, “vỗ béo” đàn con của Mẹ vì nghiệp nước phải xa nhà, không nơi nương tựa bữa ăn ấm cúng của gia đình. Đặc biệt có những bữa ăn không trùng ngày lễ lạc giỗ kỵ gì cả, thế mà bỗng dưng thịnh soạn hơn thường lệ. Có thịt heo quay, có cua biển luộc với dĩa muối tiêu chanh hấp dẫn, còn có tô cháo lươn da vàng ngậy trên bàn nữa. Ai nấy cũng lấy làm lạ tò mò hỏi nhau: Cái gì đây? Sinh nhật của Mẹ? hay tình yêu của Mẹ lên ngôi lần nữa? Sai bét hết, không có gì cả: Chỉ là, “Mẹ Huế”vừa gặp mặt ông Huyện Đề. Ông Huyện Đề đẹp trai của “Mẹ Huế” vừa cho Mẹ gặp mặt nên Mẹ vui, Mẹ hỷ xả “cúng dường” cho chúng sanh là chúng tôi một bữa ăn thật đặc biệt để góp phần vào hạnh phúc riêng của Mẹ. (Hàng tuần “Mẹ Huế” đều vui chơi với ông Huyện Đề).
Chúng tôi thường bảo nhau: cầu cho “Mẹ Huế” gặp ông Đề hoài hoài để tụi mình sướng. Song tiếc thay, đôi khi trông mặt “Mẹ Huế” cũng eo xèo buồn, vì lý do: ông Đề bận đi nghỉ phép xa, không cho “Mẹ Huế” gặp mặt như những lần trước nữa.Trông “Mẹ Huế” buồn mà chúng tôi cũng buồn lây, vì thiếu “hàng xịn” trên mâm cơm.
”Mẹ Huế” tính tình hào phóng, có đồng nào ngoài khoảng tiền căn bản mồ hôi nước mắt của mình làm ra là Mẹ “xả láng” với tụi tôi ngay. Vì Mẹ nghĩ : “Tiền làm ra để trên gác, tiền cô bác để ngoài hiên”.
“Mẹ Huế” có thói quen: dù phải bận rộn với công việc, nhưng trên môi của “Mẹ Huế” lúc nào cũng gắn chặt điếu thuốc lá cẩm lệ của Quảng Nam. Mẹ luôn nheo nheo đôi mắt để tránh làn khói mỏng tỏa ra từ điếu thuốc và miệng thì vẫn bập bập điếu thuốc để tìm cảm thú riêng cho mình. Chính gia đình tôi đã góp phần thú vị nầy vào đời sống của “Mẹ Huế”. Trước khi bị gọi vào quân trường sĩ quan bộ binh Thủ Đức, tôi là người quản lý của gia đình, phân phối thuốc lá Cẩm Lệ-Quảng Nam-Đà-Nẵng đi khắp miền Trung. Nay không ngờ,” Mẹ Huế” lại là khách hàng của tôi và tôi lại là khách hàng của “Mẹ Huế” qua mâm cơm nầy. Chuyện đời có lắm điều thú vị bất ngờ khó nói được!
Tôi không biết có lần nào trong mâm cơm chúng tôi ăn, có “độn” tàn thuốc lá của “Mẹ Huế” vào không, vì môi “Mẹ Huế” luôn gắn chặt điếu thuốc, nhưng nếu chẳng may, có bị “độn” đi nữa thì cũng chẳng ai bị ngộ độc, vì thuốc lá được bào chế với hương liệu không có hoá chất độc hại như ngày nay, mà toàn là thảo mộc quý, tinh chiết ra để ướp thuốc cho thơm ngon mà thôi. Nên, dẫu cho tàn thuốc đó có “độn” vào mâm cơm đi nữa thì, cũng xem như là “bột ngọt” của “Mẹ Huế” nêm vào cho ngon cơm, ngon canh chứ không có vấn đề gì.
Bữa cơm ngon là vậy, còn nước uống thì sao. ”Mẹ Huế” rất cẩn thận lo chuyện nầy. Mẹ thường cho thực khách uống nước chè lá tươi, mà phải là chè lá của núi rừng quận Tiên Phước, Quảng Nam nổi tiếng Mẹ mới vừa lòng. Mẹ nói: uống chè xanh dễ tiêu thực. Do đó, một khạp nước chè tươi được kê sát với bụi tre đổ bóng mát trước cửa. Không biết Mẹ có nghiên cứu điạ hình, địa vật trước không, chứ đặt khạp nước nơi đây quả là đúng “chiến thuật, chiến lược”. Vì ăn xong, người người đều đổ mồ hôi, ra đây vừa nhâm nhi ly chè tươi, vừa hưởng được làn gió mát từ bụi tre tạt vào thì hỏi còn gì thỏa lòng cho bằng.
Quán “Mẹ Huế” gần như có thực đơn bốn mùa. Tinh mắt sẽ thấy: Mùa xuân khi nhà vườn có cải con còn non, ”Mẹ Huế” cho ăn thịt heo luộc cuốn với cải, khế lát, chuối chát, bắp chuối xắt mỏng, rồi chấm với mắm nêm nguyên chất đang còn con mắm cơm đỏ ửng. Tất cả được cuộn tròn vào bánh tráng mỏng, rồi được đưa vào miệng, cắn một miếng, lật thế nhai, nghe giòn tan cọng cải đang trộn với mùi gia vị tỏa ra thấm vào lưỡi, nồng nồng cay cay, khiến mọi cảm giác của tứ chi lâng lâng tê dại. Ôi! còn món cao lương nào cỡ triều đình sánh kịp.
Mùa hè “Mẹ Huế” lại cho ăn đổi bữa các loại cá: nào cá thu, cá ngừ, cá chuồn, cá hố. Nào kho, nào chiên, nào hấp, món nào cũng “đắm đuối” khẩu vị thực khách cả. Ngoại trừ cá sấu. Có lần tôi hỏi đùa “Mẹ Huế”. Chừng nào Mẹ cho ăn cá sấu đây? nghe xong Mẹ rùng mình nói: - ăn cá sấu, chết không đầu thai lại kiếp người được, vì cá sấu ăn thịt người, chẳng lẽ chúng ta ăn chúng ta sao mà đòi ăn thứ dại đó. Ghê qúa!
| tiệc cưới Quảng Tín 1970s |
Đầu mùa thu, khi các loại bí, bầu, su, mướp còn sum sê lủng lẳng trên giàn thì “Mẹ Huế” lại cho ăn các thổ sản đó.
Đông về, “Mẹ Huế” lại thay món, cho ăn các loại mắm: mắm dưa, mắm cải, mắm cá chuồn và đặc biệt là mắm cá sặc ở Miền Nam.
Tóm lại, “Mẹ Huế” đem tất cả sở trường của người đầu bếp có kinh nghiệm lâu năm trong nghề ra phô diễn tài nghệ, thử hỏi làm sao quán của “Mẹ Huế” không đông khách cho được.
Đám khách trẻ chúng tôi nhờ có quán cơm của “Mẹ Huế” mà được an ủi phần nào thân phận kẻ xa nhà. Một năm chỉ được vài ngày phép eo hẹp, hiếm hoi với gia đình. Thời gian còn lại chỉ trông cậy vào quán cơm của “Mẹ Huế”, ăn để khôn lớn với đời và chiến đấu với nghịch cảnh của chiến tranh.
Ngoài chúng tôi ra, quán cơm của “Mẹ Huế”, đôi khi cũng có những ngoại lệ khác như đón vài khách đặc biệt nữa.
Khách đây là vài gia đình tử sĩ, từ xa về toà hành chánh tỉnh làm hồ sơ nhận xác chồng hay hồ sơ lảnh tiền tử tuất, nhưng gặp phải giờ cơm, nhân viên xã hội đưa họ đến quán “Mẹ Huế” để họ ăn tạm rồi trở vào làm tiếp.
Đối với loại khách đặc biệt nầy, “Mẹ Huế” không những tiếp đãi ân cần mà còn không nhận tiền cơm nữa. Vô hình chung, quán của ”Mẹ Huế” đã biến thành cơ sở xã hội thiện chí của gia đình quân nhân toà hành chánh hồi nào không hay. Tiếng lành đồn xa, ai nghe được cũng dành cho “mẹ Huế” lòng qúy trọng đáng kính.
Tết năm nào không bận công tác đi xa, vì quá lạc lõng, tôi tìm đến quán “Mẹ Huế” để hưởng ké tình xuân. Tuy quán đóng cửa, tôi vẫn được cho vào. ”Mẹ Huế” tử tế cho ăn các món đặc biệt xuân của Huế do tự tay Mẹ nấu nướng, cúng kiếng trong ba ngày tết cổ truyền.
Rồi mùa xuân năm 1970, chiều ba mươi tết, sau công tác trở về từ quận miền núi Tiên Phước, tôi ghé quán ”Mẹ Huế” để biếu Mẹ chút quà lấy thảo: nào hồ tiêu, cau trầu tươi, chè lá xanh, mấy trái mít mật, mấy bẹ vỏ quế rừng thơm có tiếng. (“Mẹ Huế” thường hay pha chút đỉnh quế vào tô nước chấm, vừa ngon vừa trừ được bệnh tháo dạ) cùng vài lít mật ong, thổ sản của rừng núi quận Tiên Phước .
Bước vào quán, tôi thấy trước cửa được bày biện một chiếc bàn tròn đầy đủ lễ vật, hoa quả cùng với mâm cơm thịnh soạn trông trang nghiêm, thành kính đang cúng. Hương, đèn cháy lung linh. “Mẹ Huế” trong chiếc áo dài lam, hai bàn tay chụm lại thành búp sen trước ngực, trong tư thế chánh niệm râm râm khấn vái, tưởng nhớ tới thằng Hiền, thằng Mân, thằng Ngoạn và thằng Tưởng cùng với mấy đứa nữa mà “Mẹ Huế” không nhớ hết tên, đã đến quán ăn của Mẹ, nhưng nay thì ”chúng” đã ra đi vĩnh viễn không về nữa, thật tội nghiệp quá, Mẹ nhớ chúng quá.
Tôi nép mình bên “Mẹ Huế” yên lặng xúc động, vì cứ ngỡ rằng: mâm cơm chiều ba mươi tết của Mẹ, cốt yếu để cúng tổ tiên theo thông lệ rước ông bà của Mẹ mà thôi, nào ngờ mâm cơm nầy, Mẹ chỉ cúng để tưởng nhớ mấy “đứa con” lính, tứ xứ của Mẹ ngày nào.
Tôi cầm tay Mẹ, cử chỉ như đại diện cho những anh linh bạn bè đã khuất, bày tỏ lòng biết ơn đến Mẹ. Vì trong thời gian và không gian lắng đọng của ngày cuối năm nầy, khắp mọi nhà, mọi miền, ai ai cũng bận tâm nghĩ đến tổ tiên ông bà mình, còn mấy ai nghĩ đến người khác. Duy chỉ có ”Mẹ Huế” ngoài việc cúng bái cho gia đình mình, lại còn nhớ đến anh em đồng đội của tôi nữa. Họ đang vùi thân trong lòng đất lạnh, nơi bìa rừng, bên hốc đá nào đó, vĩnh viễn xa lìa mùa xuân, dù mùa xuân của họ còn rất dài…
Thử hỏi, nếu không có mâm cơm của “Mẹ Huế” trong chiều ba mươi tết như thế nầy, thì những vong linh nằm đâu đó sẽ lạnh buốt tê tái đến thế nào! Mâm cơm của ”Mẹ Huế” cúng, còn có ý nghĩa như ánh lửa hồng từ trái tim Mẹ tỏa ra làm ấm áp phần nào bao vong hồn đang lạc lõng ở cỏi mù xa.
Qua đó, tôi cảm nghiệm được rằng: “Mẹ Huế” tuy có đời sống bình dị, không điạ vị gì cao sang trong xã hội cả, Mẹ chỉ làm công việc bình thường mà không một ai khi đã học qua vỡ lòng “quốc văn giáo khoa thư” thuở thiếu thời mà không rõ : “Thấy người hoạn nạn thì thương, thấy người đói rét lại càng thương hơn”. Do đó “Mẹ Huế” đã trải trái tim Bồ-Tát của mình ra để bù đắp những mất mát to lớn mà các bà mẹ, bà vợ của lính phải miệt mài gồng mình gánh chịu trong suốt cuộc chiến.
Thế rồi biến cố ba mươi tháng tư xảy ra, mỗi người tan tác mỗi ngã.
Năm 2006, sau khi từ Mỹ về thọ tang mẹ ruột xong, tôi đón tàu lửa vào thị xã Tam Kỳ lân la tìm lại quán cũ của ”Mẹ Huế”, để nhớ lại những ngày xưa, những ngày mà “Mẹ Huế” luôn luôn bân rộn lo từng bữa ăn cho chúng tôi.
Buồn thay, tất cả nơi đây nay đều xa lạ và ngỡ ngàng. Chỉ còn một nhân chứng sót lại cho biết: Sau một chín bảy lăm, ”Mẹ Huế” đã bị việt cộng bắt đi tù sáu tháng về tội giúp đỡ và có liên hệ chặt chẻ với chế độ ngụỵ.
Ra tù, ”Mẹ bị cưỡng bức đi vùng kinh tế mới ở Kontum. Do đã già yếu và buồn phiền, không chịu nổi với sương lâm chướng khí, nên Mẹ đã chết trên vùng đất đau thương đó. Qua đi một đời người rộng lượng, cao cả đáng kính.
Thế mà, Mẹ đã bị những kẻ vô minh, nuôi lòng thù hận nhỏ nhen giết chết đời Mẹ.
Nay sống trên đất Mỹ, hàng năm, tết nào tôi cũng có mâm cơm chiều ba mươi tết, để rước ông bà và rước luôn “Mẹ Huế” về vui xuân với gia đình, tôi coi “Mẹ Huế” cũng là ông bà của mình, để có dịp trả ơn ” Mẹ Huế”. Xin “Mẹ Huế” chứng giám lòng thành của con.
========================================================
| hoa Tết đường Nguyễn Huệ Saigon xưa |
Tôn Thất
Tuệ
Gần tết mấy ông bạn già trở chứng email ì xéo qua lại, nhắc toàn chuyện cũ
quanh những người bạn thời xưa trong 12 năm ngồi mòn quần ghế nhà trường. Chúng
tôi nhận email của Nguyễn Thiệp tức là nhà văn Tràm Cà Mau, khởi từ thư tôi nhắc
đến một người bạn ở Bến Ngự, cháu người đẹp Thu Thảo. Thu Thảo, một hình tượng
giúp người ta thấy các cô gái Huế sầu tư thế nào. Thu Thảo hay đứng ở lan can
nhìn qua bên kia sông nhỏ. Bên kia không có ánh mặt trời như nhạc sĩ Nguyễn Đức
Quang đã hát, mà những ngôi nhà cháy từ 1945 chưa xây lại kể cả nhà in Viễn Đệ
trước khi thành trường Mỹ Thuật và trường Hán Tự. Bên kia sông chỉ có hồn thu
thảo cho một Thu Thảo bên ni.
Thư của tôi gồm nhiều đề mục tả pí lù nhưng cũng gây cho Tràm Cà Mau đôi chút cảm
khái. Bên dưới tôi xin copy thư của ông và lời phúc đáp của tôi.
Nguyễn
Thiệp
**** Bác Tuệ có trí nhớ tuyệt vời. Chuyện chi cũng nhớ từng chi tiết nho nhỏ,
nhất là chuyện mấy o. N.Nh.B hồi ấy học Nhất B2 với tôi, tóc bồng bềnh có cái bốp,
đã biết hoang, học chăm, giỏi, ăn to nói lớn. Nghe nói ông bố tập kết ra Bắc,
không phải ai tập kết ra bắc là CS cả. Một số lớn do hoàn cảnh đưa đẩy. Ra bắc
chịu đói khổ mất tự do, xất bất xang bang 20 năm. Nhưng con cái họ ở miền Nam vẫn
được cho đi du học, hưởng học bổng. Đó là cái hay của miền Nam chúng ta. Trong
các bạn bè tôi, có ít nhất 8 bạn có bố đi ra Bắc, nhận được học bỗng đi Mỹ,
Canada, Úc v v không ai thắc mắc gì cả. Có bạn, bố làm đến thứ trưởng ngoài Bắc,
mà con ở miền Nam vẫn được cho học bổng đi Mỹ học master. Sau 75 được đi ‘tham quan’
Hà Nội một chuyến, anh bạn tui hoảng vía, về Saigon đi vượt biên ngay. Phạm văn
Đồng an ủi ông bố : “đừng buồn bác ạ, thế mà tốt cho tương lai nó”. (Hai ông nầy
là bạn bè thân thiết). Tôi có hai người bà con vì ‘yêu nước’ đã tự động tập kết
ra Bắc, hai ông bị ‘nhân dân‘ khám phá ra là thuộc gia đình địa chủ ở miền Nam.
Hai ông bị chúng lôi ra đấu tố kiểm thảo, suýt đi tù. Sau 75 về Nam còn sợ không
dám ăn nói, lấm lét, và dặn con cháu “Đừng lấy Nguỵ mà ba đời không ngóc đầu lên
nổi”
Cám ơn các bác nhắc nhở lại bạn bè một thời xa xưa, đọc mà bùi ngùi. Bây giờ còn
viểt email được là đã quá phước hạnh của trời cho. Chúc các bác an bình khoẻ mạnh.
T.
Những điều cho là nghịch thường nếu đặt trên một bình diện lớn sẽ mất những góc
cạnh nhọn bén mà dung hòa.
Có lần như đã thưa, tôi so sánh chiến lược của miền nam với soccer chủ về trường
độ từ phút đầu cho đến cuối vẫn phải giữ sự luân chuyển dẻo dai; chiến lược miền
bắc như American football, chủ về cường độ, không phải chiến thuật bốn chậm một
nhanh; chủ về sức mạnh bôn tập và sử dụng trong thời gian ngắn nhất. Về hành quân,
mỗi một play của football đều có sự chỉ dẫn của coach, coach có quyền ra lệnh
time out. Coach như chính ủy, mà chính ủy đến cấp tam tam chế như Trần Vũ đã viết
trong Cánh Đồng Miên tổ tam tam có hai lính mới miền Nam và một lính Bắc làm chính
ủy, trong kỳ đánh Miên. Tôi không rành soccer, nhưng hình như coach đứng ở biên
chỉ có việc cho ai ra sân, ai vào nghỉ, hay hay không hay do coach huấn luyên
trước, ra sân thì tùy nghi ứng đối. Vì chủ trương dài, sinh viên sĩ quan Đà Lạt
phải học văn hóa ngang quân sự. Chủ trương đường dài cần thời gian thấy kết quả.
Và kết quả đường dài mà ông Dật làm chứng nay đổ vào VN để dân chúng thưởng thức
nhạc vàng và tranh nhau mua các sách cũ tái bản.
Sau khi nói đến trường độ và cường độ, tôi trở nên hypocrite và visceral mà nói
trường độ không bằng (cũng thua) bán độ, bán độ tệ hại hơn việc ấn định tiền đồn
mới và nới cũ. Chúng bán độ dễ dàng, làm cho "fan" tủi nhục lủi thủi
về nhà như chúng ta chui rúc bến xe mà nghĩ chuyện đời.
Những điều bác Thiệp viết trong thư về phía miền Nam do những nguyên tắc sau:
- về luật, nhất là hình luật, ai làm nấy chịu; không dùng triết lý cộng nghiệp để
giải trừ hay kết tội.
- thà tha ngàn người có tội hơn là kết tội một kẻ vô tội, trái với cạo gió thà
giết lầm không thà bỏ sót như xưa người ta ghép cho Tào Tháo thà phụ người hơn để
người phụ.
- luật pháp giải thích theo nghĩa hẹp nhất. Nguyễn Văn Trung đưa ra trường hợp être
et avoir. Ở cấp thượng thừa như Phật Chúa, sở hữu (avoir) chính là thể tính (être);
Phật chính là từ bi chứ không phải có cái từ bi. Chúa là bác ái chứ không phải
có cái bác ái. Nhưng trong thế tục, être hoàn toàn khác với avoir. NgNhB, giả
thiết đúng, avoir một ông cha tập kết, nhưng không être một người tập kết. Theo
nghĩa hẹp, không thể dự phóng ông cha sẽ biến ông con thành CS, không thể kết tội
cắp quả trứng là cắp đàn gà sắp nở, bầy heo sẽ mua từ tiền bán gà .... so on
and so on.
Thôi viết riết thành ra lèm bèm.
Chấp tay lạy người cho xin nụ cười (Phạm Thiên Thư)
**************************************************************************************************
Tôn Thất Tuệ