add this

Sunday, April 14, 2024

 


bánh vẽ

Chế Lan Viên

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Th
ế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
C
ầm lên nhấm nháp.
Ch
ả là nếu anh từ chối
Chúng s
ẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
B
ảo anh không còn có khả năng nhai
Và đ
ưa anh từ nay ra khỏi tiệc...


Th
ế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
R
ốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Nh
ư không có gì xảy ra hết
Và nh
ững người khác thấy anh ngồi,
H
ọ cũng ngồi thôi
Nhai ng
ồm ngoàm... (8-1991)


Fictive Cake

By Chế Lan Viên

Translated by TTT

 

Even before taking it up to taste,

he did know it was a fictive cake

but he still sat down to the table among comrades

then picked it up to savour.

The main reason has it that: if he declined to join,

they would condemn him for spoiling the enjoying evening,

they would falsely claim he had lost the capacity of chewing

to eject him from the feast;

this expulsion would deprive him

of any eventual chance of eating real ones.

At the very end, he kept taking firmly the seat at the table

as if nothing happened around.

Other folks, following his acting, settled down,

muttering indecently, full mouths. ---

 

Gâteau fictif

par Chế Lan Viên

traduit par TTT

Avant même de le prendre pour gouter

il a connu bien c’était un gâteau fictif.

Pourtant, il s’attabla parmi les camarades,

puis il le saisit pour savourer.

(La raison en est que) s’il refusait de participer

ils le taxeraient de saboter la soirée de jouissance et,

citant faussement l’incapacité de sa part de mâcher,

l’éjecteraient du festin.

Cette élimination allait lui couter désormais

toute chance d’en manger de vrais.

Enfin, il se noua fermement à son assise tabulaire

comme si rien ne survint aux alentours.

Et les autres, en le voyant bien siégé, s’installaient

mâchant indécemment, bouche pleine.


Monday, April 8, 2024

Tại sao phải chết?



Chợ chuối, tranh xưa Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định

Tại sao phải chết?
Pourquoi faut-il mourir?
JePense.org Aug 2020

Vì sao phải chết? Vì sao cái sống đi đến cái chết? Có chăng một thế giới vắng bóng cái chết?
Marcel Aym nói: cuộc sống chấm dứt một cách xấu xa.
Khi nói tới cái sống, người ta phải nói ngay đến cái chết. Sống không lìa chết. Đó là hai ý niệm bổ túc cho nhau.
Sống có nghĩa là sẽ chết lúc nầy hay lúc kia. Ý niệm nầy tạo nên buồn nãn, sợ hãi, khổ đau. Là một ý niệm tiêu cực xấu xa, như một sự xé nát, mất biệt bi đát, hủy diệt.

Sống là một hiện tượng trong đó thể nhân chuyển dụng năng lực và vật lực lấy từ môi sinh. Sự sống được duy trì nuôi dưỡng bởi những chất liệu bất hoạt (inerte) nay được làm sinh động và khả dụng.

Thế kỷ 18, Bichat viết rằng sự sống được định nghĩa là tổng hợp các chức năng chống lại cái chết. Nhưng những sự phân tích đầy đủ cho thấy sự sống trên hết đặt trên nền móng là chính cái chết của nó.

Thật vậy, luật tiến hóa - có nghĩa là thích ứng và tự tồn - đòi hỏi các cá nhân biến mất, ngõ hầu nhường chỗ cho các cá nhân có nhiều khả năng hơn trong việc thực thi hai điều vừa nêu. Vã lại, các tế bào cơ thể có khả năng chương hóa (programmer) cái chết tự thân, sự tự tử tế bào, cụ thể hơn là sự lão hóa.
Như vậy, cái sống biết dùng cái chết mà tiến tới. Sự thường tồn của thế giới được duy trì bởi quân bình sống chết, giữa sự tự hủy và sự tự tân tạo.
Henri Atlan cho sự sống một định nghĩa khoa học hơn: ''tổng hợp những chức năng biết sử dụng cái chết".

Trên bình diện siêu hình, khó lòng quan niệm một sự sống không có sự chết kèm theo. Vì sao? vì dựa vào thực trạng vũ trụ thay đổi, vô thường và tương lập. Vật chất biến hóa; đá mòn núi sập, xuất hiện các mối xúc tác mới, những vì sao nầy vỡ tung sẽ được thế chỗ bởi những vì sao mới, những mặt trời mới. Thời gian sẽ sắp xếp, và tra hỏi sự hiện diện của từng chi tiết một.
Trong một thế giới mà mọi sự móc nối vào nhau và cùng chuyển hóa thì làm sao có một cá nhân nào có thể sống còn vĩnh viễn và duy trì các tính chất riêng biệt của mình? Một cá nhân sống mãi mà không chết sẽ tạo ra một vấn đề khác: người ấy sẽ là toàn năng, bất tử và tuyệt đối như God như Dieu.!!!! Thế giới chỉ có những God, những Dieu, tự lực tự chủ, tranh nhau đánh nhau suốt đời.

Nhận xét trên đưa đến câu hỏi về hiện hữu. Sự kiện hiện diện là một thực trạng hay một ảo giác? Chưa biết trả lời sao nhưng cầm chắc sự thể như thế nầy. Chúng ta không thể hiện hữu một cách tuyệt đối, tự chủ và vĩnh viễn. Thân xác chúng ta chứng kiến sự thay đổi liên hồi: tất cả tế bào cơ thể đều tự đổi mới vài tháng hay vài năm. Trí óc và lương tâm của chúng ta cũng thay đổi theo thời gian. 15 tuổi suy nghĩ khác; 50 tuổi suy nghĩ khác.
Thực tế, con người giờ trước khác với giờ sau. Sự bền vững đứng yên là một ảo giác. Nhưng áo giác ấy, ảo tưởng ấy giúp chúng ta hiện diện, tạo ra một cái ngã để phân biệt với các ngã khác. Như vậy trong thế giới hiện tượng tương đối, ảo tưởng ấy có chỗ dùng, ít nhất vào lúc nầy, for the time being, pour le moment. Sẽ tính sau.

Vũ trụ được đánh dấu bởi sự thay đổi liên hồi, và cá nhân trong vũ trụ cũng không khác chi, mang theo sự chuyển hóa liên miên. Mỗi phút sống là một sự tiễn biệt phút trước. Do đó sự sống, cuộc đời là một sinh thành.
Cái chết có khắp nơi. Tuy nhiên cái chết giúp cho cái sống hiện tồn và tiến tới.
Cái chết là sự ngưng đọng của các chức năng sống. Nhưng sự can thiệp của cái chết không bao hàm hủy diệt. Những thành phần thể xác sẽ chuyển thành những thành tố mới dưới hình thức khác. Những ý nghĩ hành động vẫn còn trong sự liên tục nhân duyên của vũ trụ (continuum causal). 
Do đó thay vì một sự hủy diệt (néant), cái chết có nghĩa là sự trở lại của "tất cả" tái phối trí vật chất và tinh thần, báo hiệu sự hồi sinh.
Cái chết không nên được đề cập một cách bi thảm; vì nó không phải là sự hủy diệt chung cuộc, mà trái lại là cơ hội cho cái sống tốt đẹp hơn.
Chấp nhận cái chết là công nhận sự cần thiết phải nhường chỗ, trong ý thức thiết tha sự trở lui toàn diện, như những vùng đất mới, vận hội mới tươi vui hơn.

Chiêm nghiệm tạm ghi của người dịch
Cả gia đình bà ta chỉ có một việc là canh chừng và tìm mọi cách không cho ai mua đám đất có con suối nhỏ mà ai uống nước sẽ thành bất tử, sống mãi. Lúc đang nói câu chuyện nầy, cả nhà đã ba trăm tuổi hơn. Con chó cũng già đến thế ấy, để lại con mèo đã chết 300 năm trước vì mèo không uống nước suối nầy.
Mở đầu một truyện trẻ em là thế, làm người đọc nghĩ rằng gia đình nầy ích kỷ nhưng là một ý hướng vị tha. Họ không muốn kẻ khác sống mãi để thấy những đoạn trường của cuộc đời. Đoạn trường chưa hẵn đã là chiến tranh, đói khổ, chỉ thấy những gì quá mới, kỳ dị, trái với những gì đã hấp thụ ở tuổi mười mươi, trong vòng 100 năm. Chừng đó đã đủ chết rồi. Ví như cái váy bây giờ lên thấu háng, trong lúc bà mẹ thì kéo lê cái váy tận đất như các diệu thủ độc tấu âm nhạc. Giọng nói bây giờ khô, lời nói đốp chát nghe mà kinh, thế nhưng không thể chết đi cho xong. Thôi thôi, đừng để ai uống nước suối nầy mà bất tử trường sanh.
Thấy có lý chứ. Như ông già tôi sinh sau khi thế kỷ 20 bắt đầu 1900s mà còn sống cho đến 1980 thì không chịu cảnh "live in lover'' sống chung như vợ chồng một cách công khai. Cô dâu mang cái bụng thề lê từ từ đi vào nhà thờ nhận phép hôn phối, masculin woman (dàn bà dóng vai chồng), feminin man (đàn ông đong vai vợ).

Tác giả chủ nhà JePense.org nói có khác: trường sinh bất tử tạo ra những con người tuyệt đối và toàn năng; thế giới sẽ gồm những ông thần, những "dieu" (les dieux) đánh nhau như các ông thần trong thần thoại Hy Lạp. Tác giả nhìn theo thuyết tiến hóa, lớp trước chết nhường chỗ cho lớp sau tiến bộ hơn.
Rất dễ đồng tình về sự sống chết trên quan điểm xã hội học hay nhân chủng học. Nhưng không ai có kinh nghiệm chết hai lần; hôn mê dài hạn chưa phải là một lần chết. Vì vậy những gì nói về sau cái chết chỉ là những suy diễn, định đề tôn giáo.
Tác giả rất lạc quan, cái chết chính nó là một cơ hội trở nên tốt đẹp hơn, một sự trở về như áo gấm về làng. Cũng là thái độ của Trang Tử gõ chuông ca hát khi vợ chết. Trong lúc ấy PG thì dè dặt hơn, nhìn cuộc đời nầy sẽ thấy cuộc đời sau, thiện ác đáo đầu chung hữu báo.
Tính theo những gì con người biết được từ tiền sử, PG đầu tiên nói về cái chết trong một hệ thống ăn khớp nhau gồm vô thường, tương duyên nhân quả. Phật Thích Ca nói ngài chỉ làm như tam thế chư Phật đã làm, như vậy chuyện chết và sống đã đặt ra từ lâu.
Kiếp sau đã được đề cập trong mọi tôn giáo hay tín ngưỡng bình dân. Có thể là một trực giác, có thể là một an ủi mong đền bù với thực trạng tranh đấu sống còn.
Sự giải quyết kiếp sau là nguồn khác biệt giữa các tôn giáo. Muslim khuyến khích ôm bom tự sát sẽ được Allah cho bảy người vợ đẹp, nhưng không nói nữ tín đồ có được bảy đức ông chồng hay không. Luật Sharia cho nam tín đồ được phép có đồng thời bốn bà vợ. Đức tin Christian nói rằng sau khi chết, tín hữu sẽ được phán quyết theo ý nguyện của God hoặc sẽ đời đời ở trong địa ngục hoặc đời đời ở thiên đàng. Đó là cao điểm của quan niệm thời gian bình cát, thời gian xuất phát từ God và sẽ chấm dứt ở thiên đàn hay địa ngục. 
PG không phủ nhận những cảnh giới khác nhau từ khổ đau cho đến an lạc nhưng dù ở đâu vẫn có luật nhân quả và duyên khởi làm cho các cảnh giới không ở trong tình trạng ngưng nghỉ, vẫn có sự đi lên hay đi xuống.
Nhiều tôn giáo hoặc không đề cập hoặc phủ nhận kiếp trước mà chỉ lấy kiếp sau làm mục tiêu và điều khiển tin đồ trong ước nguyện tương lai. Nhưng Edgar Cayce (1877-1945) nhà tôn giáo HK, cho rằng hoặc phủ nhận cả trước sau; hoặc nếu công nhận kiếp tới thì phải có tiền kiếp.
♦ Tác giả có ý nhưng không diễn ta đúng khi viết: trích Thực tế, con người giờ trước khác với giờ sau. Sự bền vững đứng yên là một ảo giác. Nhưng áo giác ấy, ảo tưởng ấy giúp chúng ta hiện diện, tạo ra một cái ngã để phân biệt với các ngã khác ngưng. Song song với các sự thay đổi bên ngoài, con người và vạn vật đều có một chân ngã, vô hình tướng, là cái "không" trong mối lưỡng diện sắc tức thị không, không tức thị sắc. Hình một em bé đỏ ong và ảnh của bé nầy ở tuổi 90, không phải là của một người về hiện tượng nhưng của một người ở bản thể.


=================================================

Saigon thập niên 1960
===================================


Sunday, April 7, 2024


trà my, camellia

Trà My . Mi Tau
Tôn Thất Tuệ
Hôm qua có người chơi khó hỏi chữ "mi" trong câu: mi một trang báo người giỏi phải mất nửa ngày. Mi là gì. Tôi bỗng nhớ Nga My mấy năm trước chết một mình ở Bolsa mà người em ở San Diego cách 2 giờ xe không biết, đến năm ngày sau mới đem đi thiêu. Hồng nhan! Chị cả Trà My rồi đến Kiều My rồi đến Nga My. Kiều My học chung lớp với tôi. Nga My quen ở Graden Grove HK

1. - Mi là chữ của người Huế, mi tau. Con nớ là cái thứ: chửi cha mắng mẹ kêu chồng mi tau. Mi tau chỉ dùng cho hai người bạn thân. Nhiều nhà Tây học đã đồng hóa mi tau như tuy toa dê (tutoyer) của Pháp. Người Phu Lăng Xa toa moa (toi, moi) cả với cha mẹ, với Chúa, với God; hơn nữa dùng vous với cha mẹ còn sai vì cách biệt. Nhưng chớ dại dùng vào xã hội VN một cách máy móc như vậy. Không lẽ nói: God, mày hay quá, tau cảm ơn mày: Oh, Dieu tu es tout puissant, je te remercie bien. Học mà không tới, nguy hại như bài ... phục sâm tất tử.

2.- Mi trang báo thì ai có ở trong nghề ấn loát thì hiểu là sắp xếp lên khuôn, chỗ nào tin lớn, chỗ nào tin nhỏ. "Mi" là động từ xuất phát từ một danh từ của Tây. Mise sự đặt để theo động từ mettre. Cho đầy đủ là mise en page, tương đương page layout.

Chúng tôi đã nhờ thầy Võ Hương An mise en page tập thơ Huyễn Hoặc tử word thành pdf.

Còn chỗ tồn nghi khác. Saigon hay nói: cho tui mi một cấy, nghĩa là cho tui hôn một cấy. Tây đi hết rồi không biết hỏi ai. Phải chăng mettre un baiser; to put a kiss? để, đặt một cái hôn trên môi em?

Chữ mise của Pháp ở chỗ khác không biến qua tiếng Việt. Mise en scène: đạo diễn một cuốn phim hay dựng vở kịch. Nhà đạo diễn không phải là nhà mi, có thể ông đã mi mấy cô đào nhưng được gọi là metteur en scène.

3.- Từ tiếng Tây, mi ở trong khung ''đô rê mi fa sol la si...'' cứ rứa mà lên mà xuống, biến hóa vô lường.

4.- Toa moa (toi, moi) thì đã có từ lâu; hiện nay vài vị bát thập vẫn xưng hô như vậy. Nhưng dự phóng Việt ngữ sẽ có ''mi'' mới do tiếng Anh (I, me). Từ chỗ tên một đại học in trên áo thun đủ cho bạn gặp khó khẳn phải ở trần mà về để cái áo lại; từ đó đến ngày nay quán thịt chó, chỗ xem tướng bói bài cũng ăng lê bậy bạ.  Lời bình trên FB cờ tường viết nhiều chữ "him" (nó), win (thắng), canon (pháo) ... tất sẽ thấy hay d5ã có: mi, moi.

5.- Hết Tây lại qua Tàu. Thím Xẩm có chữ mi 眉 nhưng là lông mày trong lúc người mình lông mi khác với lông mày; lông mày phía trên con mắt, lông mi ở mí mắt. Thành ngữ Tàu: tu my nam tử dịch là đấng mày râu. Diện vô tu mi gọi là vô tướng. Tuân Tử 荀子: Diện vô tu mi 面無須麋 (Phi tướng 非相). Lông mày quan trọng chừng nào không biết, chứ râu quan trọng lắm. Phải có cho các ngài vuốt: Vuốt râu ra a a a không sợ vợ; vuốt râu lại sợ ợ ợ vợ như xưa.

Thần lông mày trắng là thánh tổ của nghề mãi dâm. 白眉神 bạch mi thần.

6. Chữ Tàu kép khá thông dụng là họa my, chim hót rất hay. Theo Vdict.com, họa mi cũng là sơn ca. Nightingale --> sơn ca; họa mi --> nightingale.

7.  Huế muốn giữ những huyền thoại của một xứ hư ảo huyền bí. Trong đó có đường Hàng Me với hàng My. Về ngữ học, chúng tôi ức đoán bốn chữ my của bốn chị em không cùng một nghĩa, chỉ đồng âm theo tiếng Việt.

Tiếng Tàu nga mi 蛾眉 râu con ngài nhỏ rộng và cong, có nghĩa là bộ lông mày kẻ rất đẹp làm cho phụ nữ đẹp thêm lên. Thật tình không biết chữ Hán tên quý cô nương viết thế nào.
Nhưng Trà My đã đi từ động vật đến thực vật, là một loài hoa. Sách báo tân thời về thực vật, trà my là hoa camellia. Từ điển Anh Hoa dịch thành sơn trà hoa 山茶花 và yêu cầu người đọc góp ý kiến hiệu đính chứ chưa đoan chắc. Tuy vậy từ điển Hán Việt Thiều Chửu đã nói rõ sơn trà hoa là hoa họ trà, 'theaceae'.

Camellia là tên kế tiếp của hoa trà (tea flower). Camellia hoàn toàn giống cây chè xanh của VN. Trà Tàu đúng là trà Tàu từ bên Tàu đưa qua Âu Châu, một sản phẩm rất quý. Theo huyền thuyết, có người Âu Châu trộm đem từ Tàu về cây trà trồng kiếm lời, nhưng cây trà nầy phát triển nhanh mà không có mùi vị gì. Thua me thì gỡ bài cào. Tuy không mùi vị gì, cây trà nầy có hoa rất đẹp, màu trắng, hồng, đỏ nên họ trồng thêm, làm marketing thành công. Khí hậu biển Địa Trung Hải làm cho loài hoa nầy phát triển nhanh màu thắm tươi hơn. Hoa trà trở thành dấu hiệu quý phái, nhà nhà ưa thích.

Các nhà thực vật bèn liệt các tính chất thực vật để cho vào danh bộ (catalogue) dưới tên Camellia, vinh doanh nhà thực vật danh tiếng Kamel, linh muc dòng Jesuite đã đưa vào danh muc cây cỏ, thú vật, khoáng sản của Phi Luật Tân khi ông làm nhà truyền giáo trên đảo quốc nầy.

Thế rồi một cuốn tiểu thuyết xuất hiện 1848 ''La Dame aux Camellias'' của Alexandre Dumas fils. Câu chuyện về một cô gái lầu xanh phục vụ giới thượng lưu. Cô luôn mặc áo có hoa camellias. Lúc cô mặc áo có hoa đỏ là lúc trời hành cơn lụt đỏ mỗi tháng, xin đừng ai đến má mắc lửa nạn. Khi nàng mặc áo camellia trắng là lúc nàng vui như ong bay bướm bay. Xin mời, xin mời nhập thất, tu dưỡng.

Xã hội quý tộc đạo đức giả đem nhổ hết vất bỏ những bụi camellia mơn mởn thắm tươi. Vì thấy hoa là thấy con Đắc Kỷ ấy??!!!

Nửa thế kỷ sau, Hoa Kỳ mới trồng lại, lai tạo nhiều giống hoa và đưa qua Âu Châu .

Cuốn tiểu thuyết có dịch ra tiếng Việt thành Trà Hoa Nữ.





Saturday, April 6, 2024

cây ngô đồng

    ngô đồng nở hoa ở Huế

Ngô Đồng . Tơ Đồng....
Tôn Thất Tuệ

Nói thì không ai tin, chứ tui ở Huế xa Huế lúc 23 tuổi nhưng chưa đến Mang Cá, chưa thấy Ngự Hà, chưa đến Bao Vinh, chưa đến Chợ Cống ... và chưa thấy cây ngô đồng, bông ngô đồng. Vì răng? chỉ có trời mới biết, tui không biết. Dieu seul le sait! Only God can He tell.
Có hai cây ngô đồng mà tôi nói như con vẹt. Thứ nhất: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu. Một ngọn lá ngô đồng thay màu nhạt đi đủ làm cho cả xóm làng ai nấy đều biết thu về, không cần đến hoa thu cúc hay trời thu đạm. Và cây ngô đồng trong chương hay nhất của cuốn Trà Thư nói về âm nhạc. Ngoài ra còn ''ngô đồng'' trong thành ngữ: ngô đồng không trồng cũng mọc, có thể là bắp hoang ngoài đồng chăng?
 
T
ruyền hình xưa ở Saigon, giới thưởng thức có chút ít bềsâu thì thích nhất là Ban Nhạc Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng. Gồm hết các danh ca từ Thái Thanh cho đến Mai Hương, Quỳnh Giao, Kim Tước. Nình ông thì từ Anh Ngọc cho đến Duy Trác. Dàn nhạc coi bộ cổ điển rậm đám có thầy giáo Trần Thanh Tùng cò cưa cây violoncelle, trung hồ cầm. Hoàng Trọng nổi tiếng phổ thơ hay nhờ người khác viết lời. Tuy chưa đến độ Đoàn Chuẩn và Từ Linh, một thi sĩ Huế đã viết lời khá nhiều cho Hoàng Trọng. Đó là Hồ Đình Phương. một nhân viên y tế của bệnh viện Huế. Người Huế mình còn có Hồng Dũ Trân vừa ca vừa chỉ cho kẻ khác ca.

Trở về cây ngô đồng, thì đồng ni của Hoàng Trọng là gì. Mà tơ là cái chi chi. Xin nói lung tung để các học giả phải mở miệng chỉ bảo.
Những nhạc cụ bình dân như măng đô lin, ghi ta hay phức tạp như piano, harpe, đều có dây bằng kim loại, cho nên chúng tôi đã nghĩ đồng là đồng chì sắt. Té ra không phải, đồng là cây ngô đồng, gỗ đồng làm đàn kêu thanh. Hay cây vông đồng gỗ xốp? Không phải, vì cây vông gai ở Huế quá xốp chằng làm nên tích sự gì, lá vông non ăn trị mất ngủ, lá vông già gói nem; thỉnh thoảng có bông đỏ như môi son giữa những tái tê gai nhọn, trên khuôn mặt ó đâm của nàng.

Bọng đàn mà không có dây đàn chỉ vỗ bông bông, chưa đủ thành một nhạc cụ tiêu chuẩn. Các loại đàn xưa đều dùng dây bằng tơ, khác với dây đàn tây phương xưa dùng ruột cừu gọi là boyau.
Nhưng tơ không phải là chữ Hán. Tránh trời không khỏi nắng, đi mô cũng gặp Chú Xìn, Thím Xẩm, cơm gà Xiu Xiu, hủ tiếu Tiều Châu. Tiếng nị, tơ là ty 絲. Chữ nầy là một nốt nhạc trong âm giai cổ điển có từ thời Khổng Tử, cũng là sợi dây đàn. Ty rộng hơn chỉ loại nhạc cụ có dây bên cạnh các loại bằng kim loại, bằng đá và ống tre. Kim thạch ti trúc.

Theo Thím Xẩm phải nói ban nhạc ''ty đồng'' đúng điệu vua tôi; Trung Quốc là anh còn mình là em theo lời của Thích Chơn Quang cháu bác. Nhưng cái lỗ tai nó nói ẹ lắm.

T
ơ Đồng của Hoàng Trọng nghe nó xa xăm thi vị nàm thao. Thiều Chửu có cho thêm hai chữ 情絲 tình ti rồi dịch thành "tơ tình" nghe như ông Tơ bà Nguyệt xe duyên chỉ thắm đôi ta vợ chồng.
Ban nhạc Tiếng Tơ Đồng nó còn mãi là vậy đó. Chúng tôi nói phách nhưng không làm dư luận viên 'thoát Trung' rất chi tào lao xịt bộp.
Nhưng mà nầy thưa bà con, Nguyễn Thiện Tơ là một nhạc sĩ sâu sắc. Tơ như tơ lòng đấy, có mấy câu trong Nhắn Gió Chiều của ông:
Còn đâu nhũng phút tơ lòng hòa chung
còn đâu những phút êm đềm nhớ nhau
mà nay đến đây tơ đồng phím chùng
nào ai biết cõi lòng sâu thương.

Rứa thì tơ đồng kiếp trước có căn tu.
***
Dạ thưa, hai ba bữa nay nơi bề tui ở, trời như trở lại thu, làm cho những cây anh đào đang bớt hoa, với những hoa chưa tàn lung linh như anh đào mới, kỳ hoa mới khi thu sang. Và thu lắm vì mưa và gió chưa đem đi hết những ngọn lá khô rơi từ năm qua. Bỗng dưng muốn làm thi sĩ nửa mùa lớ xơ quanh xó chợ. Thơ rằng:
Thu ở mùa hè thu quay quắt,
như con vụ xoay xoáy cả hồn ta. 
Thu hãy ở đây thu mùa nắng,
ta sẽ cho thu tắm chục trộ mưa dông.
Chớ ở truồng coi dị lắm nghe thu.

Dạ thưa, tai bị vì bởi thu đi sai hướng, thu vô lộn buồng, tại bị vì bởi ông Nguyễn Thiện Tơ mà bề tui không tiếp tục với cây ngô đồng trong Trà Thư, hẹn kỳ sau giới thiệu đầy đủ ''The Book of Tea''. Mời bà con hai họ đàng trai đàng gái, ông mai, bà mối thưởng thức cấy ni nghe được lắm.

Nhắn Gió Chiều.Nguyễn Thiện Tơ 
Chiều nay sớm về với sắc thu đắm u buồn 
Cùng gió ngàn với sương thu mờ buông. 
Ai có về nẻo xưa cho nhắn cùng người xa. 
Nhớ khi hoàng hôn cùng ai dưới màn sương 
Bước đều trên đường lòng réo rắt yêu thương. 
Mây cùng với gió, lòng ta muốn nhắn đôi câu 
Tới phương trời vắng cho lòng nhớ nhau. 
Lòng sao vẫn còn mang mối sầu mỗi thu về 
Khi bóng ác tà khuất dưới làn sương chiều buông. 
Còn đây núi kia đây dòng sông này 
Nào ai biết chăng cõi lòng nát tan. 
Còn đâu những phút tơ lòng hòa chung 
Còn đâu những phút êm đềm nhớ nhung 
Mà nay đến đây tơ đồng phím chùng 
Nào ai biết cùng cõi lòng sầu thương.

Wednesday, April 3, 2024

Tạ Thu Thâu bị giết 1945

   
Tạ Thu Thâu, hình cảnh sát chụp 1930
Tạ Thu Thâu bị sát hại 1945
Nguyễn Văn Thiệt, Rassemblement des travailleurs Vietnamiens, Paris 1949 *

Ai đi ngang Quảng Ngãi vào khoảng tháng 9/1945 cũng biết đến không khí hãi hùng của cái thành phố tự cho mình có tinh thần cách mạng cao ấy. Các tín đồ Cao Đài, các nhà trí thức, các nhà phú hộ, các nhà cách mạng quốc gia, tất cả những hạng người ấy cùng với vợ, con, anh em họ đều bị chém giết mỗi ngày. Người chết nhiều đến nỗi độ ấy ở Hà Nội, tờ báo “Gió Mới” của Tổng hội sinh viên, một tờ báo rất thiên Việt Minh đã phải lên tiếng rằng ở Quảng Ngãi, ngày ngày đầu người rụng như sung.
Anh Lê Xán, bạn tôi, một đồ đệ của cụ Phan Bội Châu, bị Pháp đày ra Lao Bảo, vừa được thả ra thì bị Việt Minh ở Quảng Ngãi bắt lại. Vì sự tình cờ của chiếc xe lửa ngừng lại nghỉ đêm ở Quảng Ngãi (độ ấy đường xe lửa Sài Gòn - Hà Nội bị hư nhiều nơi, xe lửa chạy rất chậm và hay nghỉ dọc đường) nên bắt buộc tôi phải xuống xe định kiếm một quán trọ ở cạnh ga mà nghỉ đêm. Trong lúc ngồi uống nước, sực nhớ đến Lê Xán, tôi tò mò hỏi bà chủ quán tin tức về bạn. Lập tức tôi bị một trinh sát viên mặc áo nâu, đi chân không, đang đứng ở cửa tóm lấy buộc tôi là đồng lõa với tội nhân Lê Xán và điệu tôi về Sở Công An.
Ngày hôm ấy tôi bị mang đi giam ở một nơi xa... Tôi đang lo sợ một nơi xa ấy là cõi âm ti thì chiếc xe ngựa chở tôi và một người lính gác, tay cầm một con dao dài, một quả lựu đạn buộc tòng teng vào giây nịt bằng một sợi lạt, từ từ rẽ vào con đường đi về Phú Thọ. Tôi hết lo bị chém liền vì tôi biết rằng ở làng Phú Thọ, Ủy Ban vừa dựng một nhà lao to để chứa cho đủ tội nhân xa thành phố.
Một buổi sáng, tôi đang đứng dựa vào cửa, cố thiu thiu ngủ thì bỗng giật mình vì những tiếng các bạn tôi kêu lên: Tạ Thu Thâu! Tạ Thu Thâu! Tôi tĩnh hẳn người. Tạ Thu Thâu?
Các bạn tù của tôi tranh nhau nhìn qua cửa. Từ một phòng giam phía bên kia sân, độ bảy, tám người dân quân mang súng, gươm, lựu đạn và ông chủ tịch làng – vừa là sếp nhà lao thì phải – kéo ra một người đàn ông ốm lỏng khỏng mà tôi nhìn ra ngay là ông Tạ Thu Thâu. Ông mặc một sơ-mi cụt tay có hai túi trên ngực, một cái quần Tây dài, chân đi giày vàng. Áo quần trắng đã bàu nhàu và bẩn thỉu, dây do những vết đen đỏ còn đọng, dấu tích của những sự tra tấn vừa qua.
Râu tóc của ông Thâu rối beng, mặt mày hốc hác, nhưng cặp mắt vẫn bình tĩnh nhìn mọi người, mọi vật, miệng ông hơi nhếch một nụ cười.
Các bạn tôi lao xao:
– Lần này thì Tạ Thu Thâu phải chết.
Một người nào đó nói nhỏ:
– Quân khốn nạn!
Tôi gián một con mắt vào khoảng hở giữa hai song cửa, hai tay muốn tét ra cho rộng để nhìn cho rõ đám người hùng hổ đi với ông chủ tịch luôn mồm la hét, nạt người này, cho lệnh kẻ kia và ở giữa, một bóng trắng chập choạng, khập khiễng đi đi… để biến sau mộr rặng cây mà ở đó tôi biết có một khoảnh đất trống gọi là pháp trường.
Tôi biết Tạ Thu Thâu bị Pháp bắt vừa mới ở tù ra, thân thể bị tiêm thuốc cho chết xuội đi một bên, nếu không có Chánh Phủ Trần Trọng Kim thì ông đã chết trong khám rồi.
Các bạn tôi nói là Tạ Thu Thâu bị buộc về tội phản cách mạng và âm mưu lật đổ chánh quyền. Bùi Trọng Lệ, đứng cạnh tôi, nói một cách nghiêm nghị quá đến nỗi tôi không cho là một lời mỉa mai:
– Tội Tạ Thu Thâu nặng nhiều hơn nữa. Ông phạm cái tội rất lớn là được dân chúng thương yêu.
Nhưng anh lính gác trước cửa phòng chúng tôi (không hiểu vì sao anh ta lại có cảm tình với tôi và thường hay nói chuyện cùng tôi) anh ta lại nói khác. Theo anh ta thì Ủy ban tỉnh Quảng Ngãi cũng không biết ông Tạ Thu Thâu bị bắt vì tội gì. Chỉ được điện tín của Trần Văn Giàu đánh ra cho các tỉnh, ra lệnh hễ ai gặp Tạ Thu Thâu thì bắt lại. Sau khi Ủy ban tỉnh đánh điện cho Sài Gòn biết là mình đã bắt và giam Tạ Thu Thâu thì liền được lệnh trả lời là phải giết ngay lập tức.
Nhưng khi đem ra pháp trường thì ông Tạ Thu Thâu diễn thuyết cho mấy người lính, ông nói hay quá với lại đúng quá nên ai nấy đều bỏ súng buông lơ, có anh khóc, không ai dám bắn. Nên lại đem ông về lao và Ủy ban lại đánh giây thép vào Sài Gòn hỏi nữa, sợ có giết lầm chăng. Và đã hai lần như thế rồi, Trần Văn Giàu đánh dây thép ra biểu phải giết, Tạ Thu Thâu đứng trước mũi súng lại diễn thuyết kêu gọi một mảy may lương tâm còn sót lại của đám người chỉ biết có vâng lệnh trên, rồi không ai nỡ bắn. Không dám bắn thì đúng hơn, rồi lại mang về, rồi lại đem đi.
Hôm nay thì chắc Tạ Thu Thâu phải chết! Các bạn tôi và cả anh lính cũng bảo thế, vì vừa được lệnh riêng của ông cụ ở Hà Nội điện vô khiển trách Ủy ban bất tuân thượng lệnh.
Tôi bàng hoàng lo sợ, ngồi bệt xuống đất, hồi hộp đợi chờ, trong cái im lặng rợn người, một tiếng đoành.
Bỗng người lính gác kêu lên:
– Chu choa! Tạ Thu Thâu lại về!
Tất cả đều nhao nhao. Quả Tạ Thu Thâu về thiệt. Đám người đi qua rặng cây và đang tiến về phía trái. Nước mắt tôi trào lên, sung sướng khi thấy cái bóng trắng khấp khểnh kia có vẻ vững chắc hơn và trên môi lạt tôi tưởng tượng thoáng thấy một nụ cười ngạo mạn.
Sự sung sướng của tôi không được lâu. Đám người đi vừa đến gần cổng lao thì một người trai trẻ mặc áo nâu quần sọc trắng ra vẻ học trò, tuổi lối mười bảy, mười tám đang đứng ở cạnh cổng, hung hăng nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở lưng đâm vào vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét:
– Đồ Việt gian phản động!
Rồi đạp Tạ Thu Thâu vào bụng cho ngã quay ra đất, đoạn đấm, đá túi bụi. Câu chuyện xảy ra rất mau, kể lại thì xem ra lâu quá. Thêm chỗ tôi đứng và chỗ tấn kịch rùng rợn đang diễn ra hơi xa nhau, mắt tôi lại đẫm lệ nên không thấy được tường tận. Tôi chỉ còn nhớ hình ảnh của một đám người bao quanh một bóng trắng đang quằn quại giữa vũng máu. Và từ đó, một giọng the thé rất trong của người thiếu niên kia vang lên:
– Các đồng chí hèn quá, một thằng Việt gian cũng không dám giết!
Đến nay, bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua rồi mà không mấy đêm nằm ngủ tôi không thấy trước mắt cái bóng người quằn quại kia và nghe cái giọng nói the thé ấy.-----------

Đôi lời của người trích đăng
Tạ Thu Thâu là một trong những thủ lãnh Đệ Tứ Quốc tế Cộng Sản hay Trotskisme thì bị VM giết là đúng sách vở vì Trotsky là kẻ thù chính của Staline. Trotsky đã bị giết khi lưu trú tại Mexico. Thương cha thương một thương ông gấp ngàn thì phải giết bọn tờ rố kít. Vô tay Tố Hữu thì phải biết. Lệnh từ Moscou, một thứ Vatican duy vật. Trần Văn Giàu đã bị trách cứ không nhiệt tình diệt Đệ Tứ mà dùng quyền lực thanh toán nội bộ để giữ vị trí lãnh đạo trong Nam. Có thể lơ là mà Tạ Thu Thâu chạy ra Trung, ra Bắc để phải Hồ Chí Minh ra lệnh giết.
Trần Văn Giàu bị hạ bệ nhưng còn may để trở thành vô danh, người không có mặt (a faceless person theo báo Times) nhưng còn cái đầu để đội nón, không bị chẹt đào. Trần Văn Giàu trong đảng sử chỉ là một giáo sư giỏi của Trường Đảng. Một thời Wikidepia theo lệnh Hà Nội không dám kê chức vụ và việc làm của Trần Văn Giàu. Với Tạ Thu Thâu, Wiki làm không khác, chỉ nói ông ra Bắc có tham gia đình công của thợ mõ nhưng không nói phải trở vô Nam và bị giết ở Quảng Ngãi 1945.
Nguyễn Văn Thiệt nói Quảng Ngãi giết người hằng ngày. "Ngày ngày đầu người rụng như sung". Điều nầy, tôi đã nghe họa sĩ Nghiêu Đề nói, vì 1945, ông và gia đình không ra được Quảng Nam nên ở lại Khu Ngãi Bình Phú; nhưng chi tiết ông kể sau đây có gia trị hơn vì nó phản ảnh thực trạng nầy.
Khắp xứ Quảng Ngãi, ngày ngày trẻ con chơi trò giết người. Chúng bắt một con châu chấu lớn, con nhái, con tắc kè, chuột nhắc... đè trên phiến đá. Chúng diễn lại buổi chặt đầu, đứa nào chặt đầu, đứa nào làm đội trưởng, đứa nào đọc bản án, đứa nào hoang hô cách mạng; sau rốt chúng chặt đầu con vật nhỏ xíu ấy. Nghiêu Đề cho biết thủ tục theo mấy đứa bé nầy rườm rà, thực tế đơn giản hơn, kéo nạn nhân ra ruộng, chặt đầu là xong.
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích trong truyện "Chị Hồng Lưu" thì tả cuộc hành hình phụ nữ nầy một cách rất Tây, rất kiểu cách: một dàn xạ thủ cùng bắn, có một linh mục làm lễ bí tích, có đội trưởng cho phát ân huệ, có cái hòm để sẵn. Theo lối tây, trong những cây súng của tiểu đội chỉ có một cây có đạn thật, các cây kia chỉ đạn mã tử; xạ thủ không biết mình bắn đạn nào để tránh mặc cảm giết người. Ở bên Tàu, cha mẹ của tử tù phải trả tiền viên đạn giết con mình, vậy làm chi có đến một dàn xạ thủ và viên đạn ân huệ. Ông nầy viết nhiều truyện liên quan VC rất buồn cười ngớ ngẫn nếu không muốn nói bênh vực lối trẻ con.
Sau các vụ giết người theo lệnh, HCM thường vuốt đuôi làm như không biết, tay không dính máu. Người lính đã nói cho tác giả biết HCM đã quở tỉnh Quảng Ngãi không chịu ra tay theo lệnh của Trần Văn Giàu. Một năm sau, HCM nói: "Tạ Thu Thâu là một nhà ái quốc, chúng tôi buồn khi hay tin ông mất”.
Tạ Thu Thâu sinh 1906 tại Long Xuyên có bằng tú tài dạy học trước khi qua Pháp học tiếp. Ở đây, ông hoạt động trong khối Trotskiste chống lại khối Staliniste. Ông trở về nước cộng tác với các báo Saigon có khuynh hướng quốc gia và ông hoạt động trong các phong trào cách mạng không CS. Ông bị chính quyền thuộc địa bắt giam nhiều lần. Lần cuối ông được tha năm 1944. Thời gian nầy Trần Văn Giàu là sếp chúa CS thanh trừng Đệ Tứ và các đối thủ nội bộ.
Tạ Tu Thâu cùng vài cộng sự viên âm thầm kín đáo ra Bắc Việt. Trần Văn Giàu đã ra lệnh các đảng bộ địa phương bắt giữ Tạ Thu Thâu nếu gặp. Nhưng ở Bắc Việt, HCM đã củng cố lưới CS vững chắc hơn trong Nam. Tạ Thu Thâu đành trở lui, bị bắt ở Quảng Ngãi và bị hạ sát trước mắt mọi người.
Saigon xưa có tên đường Tạ Thu Thâu bên hông Chợ Bến Thành.

** Bài của Nguyễn Văn Thiệt được share qua share lại trên internet, không ghi rõ xuất xứ chính xác. Tổ chức của tác giả là Rassemblement des Travailleurs Vietnamiens (Tập đoàn thợ thuyền VN) không rõ khuynh hướng chính trị.

================================================




Tuesday, March 26, 2024

Mỹ cứu đói Nga 1921

 

    Herbert Hoover (1874-1964) Tổng Thống HK thứ 31

Mỹ bới gạo cho Nga 1921

American Relief to Russia in 1921 by Bertrand M. Patenaude

Orlando Figes The NY Review Mar.2003

Ngày July 31, 1921, The New York Times công bố lời kêu gọi của Maxim Gorky ”gởi mọi người lương thiện’’. Quê hương của Tolstoy đang gặp đại nạn; mấy triệu người đang bị đe dọa bởi tử thần trong nạn đói xấu xa nhất thế giới từ xưa đến nay. Nhưng bất hạnh nầy của Nga là cơ hội làm sống dậy lý tưởng nhân bản đã bị lung lay sau thế chiến thứ nhất. Văn nhân Gorky yêu cầu mọi người tử tế Âu và Mỹ "không chần chừ cứu giúp dân tộc Nga. Hãy gởi thực phẩm và thuốc men’’.

Cho đến khi có lời kêu gọi nầy, Tây Phương không có một ý niệm gì về cuộc khủng hoãng ấy (chung cuộc 5 triệu người chết đói). Chính quyền Xô Viết là thủ phạm đã vơ vét hết sạch lúa gạo của nông dân nhưng không bao giờ dùng hai chữ nạn đói (golod) mà chỉ nói thiếu hụt và các mỹ từ khác.

Vào mùa hè 1921, ¼ tổng số dân quê đang bị nạn đói hoành hành. Bóng đen bắt đầu từ Ukraine, Donbas, Volga rồi đến Ural… mãi tận Sibérie. Nặng nề nhất là vùng truông cỏ Volga. Tính đến tháng 7, 1921, riêng tỉnh Samara, gần 2 triệu người (3/4 dân số) thiếu ăn và bệnh tật; chung cuộc 700 ngàn người chết thực sự vì thổ tả và thương hàn. Nông dân đói phải ăn cỏ, lá, vỏ cây, rêu, tranh lợp nhà, bánh mì bằng hột oak, mạc cưa, đất sét và phân ngựa. Họ giết hết gia súc. Người già, trẻ con nằm la liệt chờ chết. Từng đoàn người ra sân ga mong nhảy tàu hỏa đi Moscow hay bất cứ chỗ nào nghe nói có thực phẩm. Có nơi đã ăn thịt người vừa chết. Nạn đào mồ xẩy ra khắp nơi. Các nghĩa địa canh phòng cẩn mật. Văn khố Nga còn giữ các lệnh đóng cửa quán ăn vì nấu thịt người. Gia đình giữ xác thân nhân làm thực phẩm, không chịu giao cho chính quyền.

Hàng triệu người Tây Phương đã nghe lời kêu gọi của Gorky; nhưng chỉ có một người có thế đáp ứng tình trạng khẩn cấp nguy nan nầy. Đó là Herbert Hoover, đứng đầu Cơ Quan Cứu Trợ HK (American Relief Administration ARA), tổng thống tương lai thứ 31. Mới trông, hình như HH không phải là người ra tay cứu giúp Liên Xô. HH chống cộng kịch liệt, ông còn bị kết tội không chịu giúp người nghèo HK trong thời Suy Thoái 1929-1933. Nhưng cuốn sách chúng ta đang đọc cho thấy cuộc Suy Thoái nầy quá lớn và che mất công trạng cứu trợ nhân đạo của HH trong thời gian 1917-1923.

trẻ em đói ở Nga 1921

Tự mình trở thành phú ông trong kỹ nghệ hầm mỏ, HH nổi tiếng về  kinh danh và óc tổ chức. Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ năm 1914, ông đang ở Luân Đôn. Ông đã giúp 200 ngàn người Mỹ trở về nước; số nầy là những người đang du lịch hay sống vô tổ quốc ở Âu Châu. Ông đã thành lập ủy hội cứu trợ, nuôi ăn thường dân bị kẹt ở Bỉ. Năm 1917, ông trở về Washington và được TT Wilson ủy nhiệm thành lập Cơ Quan Quản Trị Thực Phẩm nhằm tiếp tế các quốc gia đồng minh Âu Châu. Sau chiến tranh, tổ chức nầy giải tán. HH thành lập ARA để trợ cấp thực phẩm cho các quốc gia bị tàn phá bởi chiến tranh. Nhưng ARA còn có mục đích ngăn chận khủng hoãng kinh tế Mỹ bằng cách giúp nông dân giải tỏa tồn kho thực phẩm ứ đọng đã sản xuất theo nhu cầu chiến tranh. HH còn nghĩ rằng đem biếu Âu Châu thực phẩm sẽ tạo nên thiện cảm quốc tế và làm cho các sản phẩm của Mỹ được chú ý và mua dùng.

Năm 1920, ARA đã cung cấp thực phẩm cho hơn 20 quốc gia Âu Châu. Tại mỗi nơi, ARA chỉ thuê dụng một số ít người Mỹ điều khiển một số đông người địa phương làm việc như hành chánh, vận tải, phân phát các gói thực phẩm và hạt giống. HH cho rằng đây là dịp phát triển sinh hoạt công dân nhen nhúm các lực lượng dân chủ đối đầu với ảnh hưởng của Bôn sê vit khắp Âu Châu. Như vậy, chính trị, doanh nghiệp và cứu trợ đi chung với nhau.

Kinh nghiệm ba ngành hợp nhất được dùng tới khi ARA quyết định nới rộng tầm tay cứu trợ đến Liên Xô năm 1921. Theo Patenaude, tác giả cuốn sách chúng ta đang đọc, Wilson lẫn HH cho rằng chủ nghĩa Bôn sê vít là một căn bệnh của dân chúng mà thuốc trị là cứu trợ thực phẩm. Bệnh nầy không thể ngăn chận bằng võ lực mà phải dùng thực phẩm. Khi ăn no đủ, người Nga sẽ nổ lực về chính trị và sẽ lật đổ chế độ bôn sê vít.

Suy nghĩ của HH đã được chú ý để thực hiện vì vào lúc ấy Nga mới đưa ra Chính Sách Kinh Tế Mới năm 1921 sau hằng loạt nổi dậy của nông dân, thợ thuyền và nhất là thủy thủ trong kỹ nghệ hàng hải tại tỉnh Kronstads mà Trotsky xem là các viên ngọc của chế độ CS. Kinh tế mới ngưng tịch thu lúa gạo (tuy thực tế vẫn còn cho đến 1923), đưa ra một hình thức kinh tế hổn hợp cho phép các công ty tư và nhỏ sản xuất thực phẩm và hàng tiêu dùng. Để được công nhận bởi các cường quốc Tây phương, Lenine đã ký các thỏa hiệp thương mãi với Anh, Đức, Na Uy, Ý và Áo. Theo nhãn quan của các cố vấn Mỹ tại Nga trong tổ chức ARA, kinh tế mới là một bước thối lui của chế độ độc tài CS. HK không muốn giao thương với Nga nhưng Quốc hội xem công việc của ARA là cơ hội phát triển dân chủ nên đã cấp 20 triệu. Tài liệu giải mật năm 1940 ghi tường trình của Hoover cho biết viện trợ thực phẩm gây ảnh hưởng và chú tâm đến Mỹ trong thị trường Nga, lấp lổ trống kinh tế xuất hiện từ khi có cách mạng và giúp các công dân tích cực giảm thiểu sự kiểm soát của nhà nước xô viết.

Mùa hè 1922 vào lúc cao điểm hoạt động, ARA đã cung cấp thực phẩm dưới nhiều hình thức (bột mì, ngũ cốc đã xay, các gói thực phẩm, các bữa ăn nóng trong các quán ăn xã hội hay các phạn điếm công cộng lớn). Số người thụ hưởng lên đến 10,5 triệu người lớn và trẻ con trên một diện tích gần bằng nửa lãnh thổ HK.

Công cuộc được thực hiện bởi 199 người Mỹ và 120 ngàn công dân Nga. Đó là cuộc cứu trợ lớn nhất trong lịch sử.

Trọng tâm của nạn đói là vùng truông cỏ Volga. Vùng nầy đã có thời tiết khắc nghiệt. Hạn hán khô ráo mùa hè, tuyết lạnh mùa đông; đã có những vụ mất mùa nghiêm trọng 1891, 1906 và 1911, chỉ kể số ít. Nông dân Volga đã quen thất thu mất mùa nên luôn luôn giữ một số thóc lúa để dùng khi cần.

Nhưng những dự trữ lương thực nầy đã bị tịch thu vơ vét trong trận nội chiến 1918-1920. Trong cuộc chiến nầy, Volga nằm ngay sau hai chiến tuyến chính của Hồng Quân chống Bạch Nga phía nam và phía đông. Các đoàn công nhân vũ trang dưới quyền Hồng Quân vào các làng xã xúc hết các vựa thóc, ai chống sẽ bị bắn ngay. Do đó nông dân chỉ trồng đủ ăn và làm hạt giống; chứ không trồng thêm dự trữ khi lâm nguy, vì có trữ thêm thì Hồng quân sẽ đến thâu hết. Thế rồi, chúng cũng đến lấy luôn hạt giống mùa sau.

Giống như vụ đói thập niên 1930 tại Ukraine, nạn đói Volga 1921 do chính quyền Xô viết tạo ra. Chính quyền ra lệnh trưng thu suốt mùa lạnh tuy đã yêu cầu dân chúng cảnh giác tình trạng thiếu ăn và ra lệnh xuất cảng lúa gạo qua Nga. Trong cuốn The Education of a True Believer nhà văn Nga Lev Kopelev đã tường trình việc làm của chính ông trong Trung Đoàn Komsomol có nhiệm thu vét nông sản của dân chúng. Ông và lính cùng đơn vị tịch thu cho đến mẩu bánh mì trên tay trẻ con. Dân chúng kêu khóc thảm thương suốt kế hoạch ngũ niên. Việc làm nầy của Kopelev và trung đoàn đỏ rập khuôn đã làm ở Volga mấy năm trước.

Tác giả Patenaude nói đến các khó khăn của phái đoàn cứu trợ Mỹ như thiếu phương tiện chuyển vận. Nhưng trở ngại lớn nhất là chính quyền Nga cản trở; nhân viên ARA luôn bị công an Cheka làm khó dễ, có khi bắt giam với tội tuyên truyền chống cách mạng và gián điệp.

Chính quyền Nga nghi kỵ ARA cũng phải. Đảng CS Nga thành hình xuyên qua nội chiến, trong đó HK và 16 quốc gia khác đứng về phe Bạch Nga. 1918-1919, theo lệnh của chính phủ HK, ARA đã chuyển thực phẩm và vũ khí cho lộ quân Tây Bắc của tướng Nikolai Yudenitch đủ sức từ vùng Baltic tiến về Peterbourg.

nạn nhân của bôn sê vít, đói 1921

Năm 1921, thành phần trung cấp đảng đông thêm nhiều với thành phần ít học, con cháu nông dân đã ở trong Hồng Quân vẫn còn tin tưởng cách mạng đang tiếp diễn chống tư bản, không thích kế hoạch kinh tế mới của Lenine và không cảm tình với ARA. Lenine gọi thành phần nầy là tả khuynh.

Công dân Nga được ARA tuyển dụng phần lớn thuộc thành phần trí thức cũ, bác sĩ, giáo sư, chuyên viên canh nông, hay các cựu dân cử trong các hội đồng hàng tỉnh tự trị mà cách mạng đã giải tán. Nhiều người đã từng làm việc trong ủy hội cứu đói của Nga (Pomgol), tổ chức duy nhất và cuối cùng trong chế độ mới có nhiệm vụ gây quỹ cứu trợ.

Gorky thuộc cấp lãnh đạo Pomgol nên tin tưởng Pomgol sẽ là hạt giống của nền dân chủ tương lai. Lenine thành lập ủy hội nầy, một phần vì nhượng bộ Gorky và một phần để tiếp nhận cứu trợ từ nước ngoài. Nhưng khi ARA hoạt động ở Nga Lenine bèn giải tán Pomgol và tống giam hay lưu đày thành phần chủ chốt, ngoại trừ Gorky.

Lenine và mật vụ Cheka theo sát các hoạt động của ARA. Lenine bất mãn khi ARA muốn hoạt động độc lập, không có sự can thiệp của đảng CS. Lenine cho đó là âm mưu thành lập một quốc gia Tây Phương bên trong Nga.

Lenine có thủ thuật riêng. Năm 1922, bộ chính trị ra quyết nghị tịch thu các tài sản quý báu của giáo hội để lo cứu đói. Trong khi Hồng Quân lục lọi các nhà thờ, theo lệnh của Lenine, báo chí ởm ờ nói lấy của giáo hội trả cho ARA. Bôn sê vít nấu chảy vàng bạc, thánh giá, chén dĩa… bằng vàng, bạc đúc thành khối bỏ vào ngân khố. Vài nhân viên ARA lúc về nước bị bắt đem theo những của quý ấy mà họ mua ở chợ trời. Lenine lấy đó làm bằng để phỉ báng ARA.

Tuy vậy, dân chúng tỏ ra biết ơn. Hàng trăm người đã quỳ bên ngoài giáo đường, cảm ơn God đã đem HK đến Nga mang theo thực phẩm cứu đói.

Đại Tá Walter Lincoln Bell đã được tôn vinh như thánh sống. Năm 1922 ông điều khiển một ủy ban tám người nuôi ăn 1,6 triệu người lớn và trẻ em tại 2.750 quán ăn ở vùng truông cỏ xa xôi Ufa and Bashkiria, rộng bằng diện tích nước Pháp.

ARA đã tạo dựng sự tôn quý ở Nga dành cho HK. ARA tượng trưng hiệu năng cao của doanh nghiệp tự do, cũng là tinh thần cũ của Nga trước cách mạng 1917, nối kết Nga và Mỹ.

Tuy nghi ngờ vì lý do chính trị, Bôn sê vít thích tính chất năng động của ARA, cũng là tính chất của xã hội Mỹ để bù vào sự lười biếng ù ly trong xã hội Nga. Năm 1923, Bukharin phải nói: Nga cần Marx và HK. Lenine khuyến khích đảng viên tìm hiểu và sùng thượng Henry Ford. Dân quê trong vùng hẻo lánh tưởng Henry Ford là một vị thần đang điều hành chính sự ở Nga.

Hoover kỳ vọng rằng ARA kích động tinh thần công dân của người Nga, cho họ nghị lực và phương pháp để lật đổ chính quyền Xô viết, kỳ vọng nông dân sẽ vùng lên khắp nơi. Thực tế không có vậy.

ARA mở đầu truyền thống ngoại viện của HK đi kèm với chính trị tư bản. Thành quả nhân đạo của ARA không thể phủ nhận. Không có sự can thiệp của Mỹ ở Nga năm 1921 thì Nga không có vụ mùa năm tới là 1922 và có thể 10 triệu người chết đói. Sau khi ARA chấm dứt sứ mệnh cứu trợ, chính quyền Bôn sê vít có gởi một lời cảm ơn ngắn đến dân chúng HK.

Maxim Gorky
Nhưng Gorky đã bày tỏ đúng cảm nghĩ của người Nga trong bức thư gởi Hoover:

Trong lịch sử khổ đau của loài người, tôi không thấy có cái gì đánh mạnh vào linh hồn lương tri con người bằng những gì dân chúng Nga đã chịu đựng. Trong lịch sử của hành động nhân đạo thực tiển, tôi chưa thấy thành quả duy nhất nào to lớn và đầy lòng quảng đại bằng công cuộc cứu trợ mà ông đã thực hiện. Sự giúp đỡ của ông sẽ đi vào lịch sử như một thành quả to lớn và duy nhất, đầy đủ vinh quang và sẽ mãi mãi còn trong ký ức của hằng triệu người dân Nga mà ông đã cứu thoát chết. Tinh thần quảng đại của dân chúng Mỹ sẽ làm sống dậy ước mơ tình huynh đệ giữa các dân tộc vào lúc nhân loại đang cần bác ái và từ bi.-

CHIÊM NGHIỆM của người dịch TTT

Đương khi dịch thuật bài nầy, chúng tôi gặp bức phát họa một tù nhân thò tay qua song sắt vớ ổ bánh mì bên cạnh chìa khóa phòng giam. Nhiều ý kiến độc giả trái ngược kèm theo những phán định giá trị, những triết lý. Chúng tôi ức đoán những vị nầy chưa bao giờ ở tù mà đói, không ở tù kiểu Mỹ đòi ăn cho đúng với đức tin. Chúng tôi có lần nói chuyện với một văn hữu nay đã quá vãng. Ông chê trách Tạ Tỵ chỉ viết có một điều là đói trong trại tù cải tạo trong tác phẩm Đáy Địa Ngục. Chúng tôi chưa đọc cuốn sách của nhà văn kiêm họa sĩ nầy. Đồng thời chúng tôi biết người cầm bút kia, thời VNCH được miễn dịch vĩnh viễn vì lý do sức khỏe nên không đi lính và không đi tù trong rừng sâu. 99% chắc chắn văn nhân nầy không có dịp trải qua những ngày giờ đói thần sầu quỷ khóc; đến độ phải than rằng trong bao tử có linh hồn.
Thực phẩm đã được dùng để trừng phạt trong phạm vi tương đối giới hạn là nhà tù cho đến mức độ rộng lớn là cả một dân tộc như Ukraine bị Staline trừng phạt trong thập niên 1930. Cũng như Mao Trạch Đông với nạn đói kinh niên mỗi dịp phát động cách mạng nầy nọ.
Với trường hợp Nga trong bài nầy, Bôn sê vít không trừng phạt dân Nga nhưng đã trút hết nông phẩm kể cả lúa giống. Đây là ví dụ quý báu minh chứng lý thuyết cho rằng đói là do chính trị ác độc mà ra chứ mẹ thiên nhiên có đủ tài nguyên nuôi sống loài người. Ngân Hàng Thế Giới đã xuất bản tập sách nhỏ về việc nầy. Chứng minh thực tế hơn, một giáo sư UCSanDiego đã trình bày qua một cuộc điều nghiên xã hội học ở Phi Châu.
Sudan không cho các hội từ thiện quốc tế đưa thực phẩm đến dân chúng thiếu ăn vì nội chiến. Biafra cũng không khác chi. Palestine hiện nay đói khổ vì Do Thái gây khó khăn cho các nước chúng quanh trong việc chuyên chở vật phẩm cứu trợ. VC ngăn sông cách chợ 1975, dân Saigon không mua được gạo trong lúc heo ở Cà Mâu ăn cháo gạo trắng.
Chúng tôi phải khen Franklin Roosevelt đã đưa vào lý thuyết và thực tế chính trị thêm một thứ tự do khác: tự do đối với nghèo túng, tự do không bị bức bách bởi khốn cùng. Freedom from want. Sử gia đã khen ông tổng thống nầy thi hành chương trình New Deal, tái phân lợi tức, phát triển kinh tế song song với sự gia tăng phúc lợi của người dân. Gorbachev lên cầm quyền để thấy Nga với các kế hoạch thập niên ngũ niên đã không chạy kịp New Deal.
Roosevelt đã cưỡng bách điện khí hóa nông thôn như cưỡng bách giáo dục. Ông đã đưa ra đường lối phụ trợ nông gia (agriculture subsidy). Vì vậy mãi cho đến 2015, 12 quả trứng chỉ mất 99 cent. (nay 2023 thì tăng gấp ba hay gấp bốn). Ấy là một nét vĩ đại ít ai biết bên cạnh những thành công kỹ thuật.
Tinh thần thực tế nhân bản nầy có thể tìm thấy trong hạnh nguyện của Lưu Ly Quang Vương Phật: khi một người làm việc ác vì đói khổ thì Ngài cầu mong có khả năng cho người ấy ăn đủ no, mặc đủ ấm trước khi chỉ dạy giáo lý đạo lý, gọi là pháp thực.- 03.2023


=============================================================


==========================================

Sunday, March 24, 2024

văn minh tây phương



hình ảnh tiêu biểu Tây Phương


VĂN MINH TÂY PHƯƠNG
Civilisation Occidentale 
JePense.org 20 DÉCEMBRE 2021, TTT dịch

Văn minh là một khung cảnh nhân sinh liên kết chặt chẽ, là một "đại xã hội" phát triển quanh một căn cước cá tính và những hiện tượng đặc biệt về tôn giáo, luân lý, khoa học và kỹ thuật.

Ngày nay làm chủ cả thế giới, văn minh tây phương (VMTP) cho thấy rõ rệt những nét đặc thù giải thích vì sao nó thành công và đang báo hiệu suy thoái hóa trong tương lai. 
Tây Phương gồm các nước Âu Châu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nga, Úc, Tân Tây Lan tập họp thành một khối thuần nhất có văn hóa, tôn giáo và hệ thống kinh tế thống trị hành tinh nầy: có Thiên Chúa Giáo (chiếm đa số dân chúng trong 127 quốc gia trong số 202 nước trên thế giới), có hệ thống tư bản không ai mạnh hơn (gồm thương mãi quốc tế và trao đổi tiền tệ), có một văn hóa mang những giá trị tây phương, áp đặt nơi nơi, kể các quốc gia ngoài Tây Phương. Điều nầy liên quan đến các tiêu chuẩn, cách đếm số, cách đo thời gian, chữ viết, truyền thông và nhất là các lối sống.
Có thể biết thêm về VMTP bằng cách so sánh với các nền văn minh xưa như Tàu, thung lũng Ấn Hà, Ấn Độ, Arab và các xã hội cổ truyền Mỹ Châu, Á Châu và Phi Châu.
Văn minh Âu Châu thừa kế văn minh Lưỡng Hà Địa và Ai Cập; hai nơi nầy ảnh hưởng trực tiếp văn minh La Hy và dùng con đường nầy đến khắp nơi trên thế giới ngày nay. Cần kể luôn ảnh hưởng Do Thái, TCG và kể cả các dân tộc barbare (rợ). Các sắc dân rợ nầy, sau khi triệt hạ đế quốc La Mã vào thế kỷ thứ 5, đã thiết lập và bắt chước các khuôn thức hành chánh, tôn giáo và văn hóa La Mã, đồng thời áp đặt đường lối cướp phá, bắt làm nô lệ, thiết lập giáo địa, và vương lãnh.
VMTP có những tính chất đặc thù không khác các nền văn minh khác như đô thị hóa, canh nông, tập trung quyền hành và chuyên biệt hóa các sinh hoạt. Nhưng Tây Phương khác ở chỗ thực hiện quá mức và đưa ra một hệ thống giá trị đặc biệt.
◙
Giá trị được đặt trước tiên là tự do. Nhưng không phải là tự do tập thể hay tự do nội tâm. Tự do theo nghĩa Tây Phương là chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa vật chất (matérialisme). Đó là quyền của mỗi cá nhân tìm kiếm tối đa lợi ích cho chính mình và nới rộng tối đa vùng ảnh hưởng và sở hữu. Lối suy nghĩ nầy đưa đến đấu tranh thường xuyên, cạnh tranh, làm chủ các kỹ thuật và các nguồn tài nguyên, thống trị và tích lũy.
Từ đó, xã hội tây phương trước tiên và trên hết là một xã hội chinh phục, một xã hội lưu chuyển, thay đổi, chạy nhanh, song song với việc làm chủ vật chất, thời gian và không gian. Trong chiều hướng đó, Tây Phương cho sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật một giá trị căn bản thiết yếu. Xã hội ấy chỉ nhắm đến tương lai và không quay đầu về quá khứ.
Hệ thống nầy hoàn toàn khác với hệ thống các xã hội cổ truyền sinh hoạt trên sự thường tồn, sự bền bỉ và tập tục. Trong cộng đồng nầy, thời gian như yên đọng hay nằm trong một sự trở lui trường kỳ, và các cá nhân ở nguyên trong vị trí được chỉ định.

Được sinh ra làm kẻ tiếm đoạt, người Tây Phương luôn tìm các không gian mới để chinh phục: đất, biển, tài nguyên thiên nhiên, thị trường và phương cách hành động. Cá nhân xem các cá nhân khác như tài nguyên, các vật thể cần chinh phục để khai thác, không bằng cách bắt làm nộ lệ nhưng bằng lương bỗng, bằng vật phẩm tiêu thụ hay bằng danh vọng.

canh nông cơ khí hóa Hoa Kỳ

Hệ thống nầy đưa đến nhiều hậu quả: Phân hóa cơ cấu xã hội. Trong hệ thống chủ trương cá nhân, những cộng đồng địa phương đã mất mọi sức lực, mọi chức năng. Trái lại, xã hội được tổ chức trên tầm mức rộng lớn xuyên qua các định chế tập trung, nền hành chánh thống nhất và các đại doanh nghiệp.
Vai trò của tiền bạc được đổi mới. Tiền bạc xoa dịu và điền thế sự mất tin tưởng giữa các cá nhân; vận dụng các khả năng sản xuất và tích lũy tài sản. Trong xã hội Tây Phương, tiền bạc tự nó là một cứu cánh, vượt quá phạm trù thuần túy thương mãi, để xâm nhập chính trị, thông tin, nghệ thuật và y tế công cộng.
Trong hệ thống tư bản, một số cá nhân có quyền năng lên trên các cá nhân khác, và giữ lâu dài những địa vị quan trọng. Giới có quyền năng luôn duy trì lợi ích riêng đưa đến bất bình đẳng, đẩy người khác ra khỏi xã hội và tạo nên các căng thẳng xã hội.
Những bất bình đẳng nầy tự đào sâu bên trong các quốc gia và giữa các quốc gia. Các nước nghèo (khối Global South) phải sản xuất các vật phẩm ít giá trị và gây ô nhiễm môi sinh.
Sự bất bình đẳng và chủ thuyết cá nhân đưa đến bạo động, nuôi dưỡng các tổ chức tội ác tạo loạn và nội chiến. Sự bất ổn nầy giải thích tại sao các xã hội Tây Phương phân hóa trầm trọng.

Chủ nghĩa đế quốc là hậu quả tất nhiên xây dựng trên các cuộc chiến thực dân, chiếm đoạt, thống trị, kỳ thị chủng tộc, diệt chủng.
Mặc dù các đế quốc thực dân đã giải thể, ảnh hưởng của các quốc gia Tây Phương không thuyên giảm chút nào. Sự thống trị nay mang những hình thức khác ghép chung trong điều gọi là toàn cầu hóa (globalisation).
Dĩ nhiên trong lịch sử còn có các nền văn minh khác sống nhờ chinh phục nhưng không chủ định cai trị toàn thể thế giới. Đế quốc La Mã duy trì trật tự riêng (pax romana) trong phạm vi các nước đã xâm chiếm lúc đầu rồi ngừng. Lại có các đế quốc xưa rất hòa bình trong vùng Thung Lũng Ấn Hà, như văn minh Harapa.
Chủ nghĩa đế quốc ngày nay mang hình thức thống trị quân sự, kinh tế, tài chánh áp đặt trên các quốc gia chư hầu.
Tây phương biện giải ngôi vị trưởng thượng của ý thức hệ của mình bằng tự do, dân chủ và thịnh vượng. Các ý thức hệ khác đều được xem là nguy hiểm (cộng sản, vô chính phủ) hay không có giá trị (các hệ thống cổ truyền).
Sau cùng con người Tây Phương cư xử nơi nơi như đất của nhà mình, như đã chiếm đoạt cả hành tinh nầy. VMTP tự tạo một quan niệm hoàn vũ trong đó Tây Phương nắm giữ trung tâm sinh hoạt. Óc kiêu căng ấy không thấy ở các xứ ngoài Tây Phương.
 
khu vục gia cư tiêu chuẩn hóa Hoa Kỳ

Các xã hội TP thiết lập mối quan hệ duy lợi đối với ngoại cảnh thiên nhiên. Hằng ngày người TP sống xa thiên nhiên. Thiên nhiên được xem là một nguồn tài nguyên để tiêu thụ và phải khắc chế thiên nhiên để tránh những nguy hiểm thiên tạo. Vì vậy, mọi khoảng không gian thiên nhiên đều bị sửa đổi, núi đồi, sông ngòi, đồng ruộng...Tài nguyên thiên nhiên được khai thác với hiệu năng cao nhờ tự động hóa, cơ giới hóa, tiêu chuẩn hóa như khai thác dầu hỏa từ dưới đất.
Hậu quả là sung mãn dư dùng, phung phí và thiên nhiên bị hủy hoại.
Trong lúc ấy tại các xã hội cổ truyền, con người là một phần bộ không tách lìa thiên nhiên: con người do đất mẹ sinh ra, cho nên phải tôn kính trời đất, thiên nhiên. Vấn đề ô nhiễm không đặt ra.

Nét đặc thù dễ thấy nhất của TP là sự tiêu chuẩn hóa, nêu cao giá trị của sự hữu dụng và hiệu năng sản xuất. Áp dụng cho mọi ngành: sản xuất vật phẩm, kiến trúc, giao thông, canh nông và ngay cả các dịch vụ như thông tin, giải trí, du lịch, nghệ thuật, âm nhạc ...

Tiểu công nghệ và canh tác tự dụng biến mất. Tiêu chuẩn hóa đã đồng nhất hóa sản xuất và tiêu thụ, thị trường ngày một rộng hơn. Trong đường hướng nầy, những tân kỳ, những đặc điểm đã biến mất dành chỗ cho tính cách duy lý, máy móc, không kể đến thẩm mỹ.
◙
1931 Pháp triển lãm người Phi Châu ăn thịt người
Một nét đặc thù khác của VMTP là sự thái quá, thúc đẩy bởi tham vọng không bao giờ thỏa mãn. Người TP luôn bị đẩy quá mức độ tự nhiên của thiên nhiên.
Sự thái quá nầy được diễn tả bằng danh từ Hybris. Danh từ nầy tóm lược quan niệm triết lý xưa của Hy Lạp diễn tả sự cố công của con người vượt lên quá thân phận, các điều kiện sống tự nhiên. Hybris là tham muốn quyền năng thái quá và vô lý. 
Xã hội TP được làm nổi bật bởi hệ thống đẳng cấp sít sao mà chỉ có các cuộc cách mạng dân chủ mới có thể soát hỏi ý nghĩa tồn tại.
Như đã nói trên, hệ thống giá trị TP đặt trên tự do, trách nhiệm, việc làm và kỹ năng, trong tin tưởng công sức cá nhân có thể giúp ích xã hội chung. Đồng thời, các giá trị ấy qui định trách nhiệm cá nhân đối với thân phận và điều kiện sống riêng và từ đó chấp nhận bất bình đẳng. Cá nhân có quyền chọn thiện hay ác, làm việc hay ở không. Các điểm nầy chính là những yếu tố làm khác biệt giữa VMTP và các nền văn minh to lớn khác trong lịch sử.

Những giá trị bình đẳng và tương ái có nhưng thuộc hàng thứ yếu. TP có vài cách sửa sai bất bình đẳng như tái phân lợi tức, bình đẳng trước pháp luật nhưng những biện pháp ấy chưa đủ để đưa tự do lên vị trí tối thượng.

nhà xưa hiện còn ở Huế
Trong lúc ấy, các nền văn hóa Đông Phương suy nghĩ ngược lại, dựa trên tinh thần tương hợp tương hệ, trong tinh thần vô thường, tánh không, nguồn đạo lý. Hệ thống tư tưởng TP đề cập rất ít đến tâm linh vì hệ thống nầy dựa trên sự quan sát các hiện tượng thấy được bằng mắt và sự làm chủ các vật thể, chứ không phải các hiện tượng tâm linh. Do đó khoa học nằm trên triết lý và tâm linh.
Tôn giáo chrétien cũng dựa trên các nền móng của VMTP, những giá trị cổ điển như tự do, tính cách phổ quát, tổ quyền phụ hệ, trật tự và uy quyền, chứ không nhằm vào sự thăng hóa cá nhân. Những thông điệp nguyên khởi của Christianisme bị bỏ quên hay làm sai lạc, ví dụ hòa bình, huynh đệ và bác ái.
Từ đó không còn đời sống nội tâm. Hướng ngoại, chú tâm đến bề ngoài, tha thiết với vật chất, người TP không thể biết chính mình, không có phương thức tự thể hiện đời sống, đó là nguồn bất hạnh tinh thần lớn nhất. Hãy đem so với với các hệ thống văn hóa tôn giáo khác có chỗ đứng cho tâm lính. Triết lý ở Hy Lạp, luân thường với Khổng giáo; điều chế khổ đau trong PG và phương cách thể hiện cá nhân như Ấn giáo.
Không thể hiểu rõ văn minh hiện đại nếu tiên khởi không biết rằng văn minh ấy nhắm đến triệt hạ mọi hình thức mọi khía cạnh của sinh hoạt nội tâm.
Chủ trương cá nhân và duy lợi, VMTP mang một ý nguyện mạnh mẽ thống trị thế giới. Người TP hãnh diện đã làm chủ thời gian, không gian và vật thể. Tin tưởng vượt qua các giới hạn của thiên nhiên, người TP đã tạo ra những xã hội khai thác bóc lột và tiêu thụ không ngừng. Nhưng có điều chắc chắn họ không làm chủ chính mình.
Mù quán vì tham vọng, hăng say tranh đấu chống ngoại cảnh và chính mình, người TP đã quên mất bản chất tự nhiên, không biết mình là một phân bộ của một tổng thể nằm trong các định luật của vũ trụ phổ quát.
Vì thái quá bất cập, Tây phương đã làm cho nhân tính và thiên nhiên bị ráo cạn, mất thú vị sống, mất ý nghĩa của cuộc sống.
Chạy nhanh, ồn ào, bạo động, ngày một bớt nhân tính, xã hội TP đã tạo nên sự khổ đau không nói ra được.
VMTP đang tiến dần đến hủy diệt; đã có quá nhiều dấu hiệu báo trước: hủy hoại tàn phá, tai ương, tương tranh chiến tranh, khủng hoảng khí hậu. Những giấc mơ kỹ thuật, làm chủ không gian ngoại tầng của những nhân vật tự cho là vĩ đại chỉ tạo thêm bế tắc, tới hướng nào, lui hướng nào không biết.
VMTP hiện đang gặp những đối lực từ bên trong. Những thách thức khí hậu và môi sinh buộc TP phải xét lại con đường đang đi và chấp nhận sự chuyển hóa triệt để, nếu không, sẽ biến mất như những nền văn minh trước đây.--

Tham luận ngắn của người dịch

Đây là một đề tài xa về triết lý Đông Tây; nhưng là vấn đề gần vì văn hóa triết lý có mặt mọi lúc. Ví dụ vì sao thương yêu thú vật là một vấn đề siêu hình.
Tác giả kê khai địa lý của Tây Phương như các bài địa lý khác; không kê khai các nước Đông Phương nhưng gián tiếp cho rằng TC thuộc Đông Phương khi nói đến Khổng Giáo là một trong những chi tiết tách biệt Đông Tây.
Gheorghiu trong cuốn Giờ Thứ 25 nói rằng khi Tây Phương tàn lụi bế tắc và hủy diệt, ánh sáng từ Đông Phương sẽ chiếu qua cứu sống. Cuốn tiểu thuyết xuất bản 1949 ở Pháp, trước đó khá lâu có vài cuốn sách về PG đã nói đúng như vậy.
Nhưng tác giả Lỗ Mã Ni nầy nói thêm rằng Đông Phương nầy không phải là cái phía Đông tức là Nga Sô, vì Nga Sô cũng chỉ là Tây Phương. Sau thế chiến thứ hai, một hai năm, chiến tranh lạnh đã bắt đầu gây chia rẻ giữa khối CS và các nước Âu Mỹ. Xưa nay các nước nầy đều thuộc Occident; khu vực nầy báo chí gọi là West, đối nghịch là East tức là Soviet Union. Gheorghiu cẩn thận phân biệt Orient với cái East CS.
Nói về triết lý và tinh thần Đông Phương, Trung Hoa và Ấn Độ hầu như mỗi nơi gánh lấy 50%; gồm mọi khía cạnh, nghệ thuật, tư tưởng và văn hóa. Tác giả Trà Thư cho rằng Á Châu đã được Hy Mã Lạp Sơn chia làm hai một bên là Ấn Độ rất individualist và Trung Hoa rất communist. Okakura Kakuzo viết từ 1906 chưa có cách mạng bôn chê vít 1917; hai danh tự ấy được hiểu đặc biệt. Indidualist bên Ấn Độ là hiểu biết và làm chủ chính mình thể hiện đời sống tâm linh; communist là chủ trương cộng đồng, huynh đệ, kỷ sở bất dục vật thi ư nhân.
Với sự xuất hiện của Mao Trạch Đông và chủ nghĩa CS dù mang tính chất riêng của Tàu, Tàu không còn là một nước Đông Phương. Các thứ Mao gọi là cách mạng đã đào tận gốc rễ tính cách đông phương của Tàu mà thay thế bằng một chính sách phi nhân. Tính chất cộng đồng mà Kakuzo dùng tạo ra chữ communist không còn nữa; chỉ còn tập thể hóa của những kẻ vô hồn. TC cũng như Xô Viết không thuộc Đông Phương.
Tinh thần ĐP từ khu vực Trung Hoa hiện còn giữ tại Đài Loan, Nam Hàn và Nhật Bổn.
Hiện nay đảng CS Tàu đã ra lệnh các lý thuyết gia tìm một lý thuyết quốc tế làm căn bản triết lý cho sự bành trướng của TC khắp thế giới.
Người có nhiều ảnh hưởng nhất là Triệu Đinh Dương 趙汀陽 với tác phẩm Thiên Hạ Thể Hệ 天下體系 dựa trên quan niệm “thiên hạ” 天下. Danh tự nầy đã được dùng thường xuyên trong lịch sử TC để chỉ thế giới và thế sự. Triệu Đinh Dương cho rằng danh tự nầy đã nói đủ sự khác biệt giữa các truyền thống Tàu và Tây Phương. Thuyết thiên hạ sẽ làm triết lý cho trật tự quốc tế mới.
Chúng tôi cầu mong các ông Tàu nầy đứng ra ngoài quan niệm thế nào là Đông Phương để cho ông Phật ông Lão ông Khổng bình yên
.

=============================================================

áo màu hoa lý Saigon năm xưa
================================================