add this

Saturday, May 15, 2021

uống cà phê tháng tư

Trần Mông Tú







Uống Cà Phê Tháng Tư

Trn Mng Tú

Ta ngồi một mình
ly cà phê cạn
lòng như tháng tư
đứt ra từng đoạn

 

Tháng tư, tôi ngồi trong quán cà phê Starbucks trên đường 20th của thành phố tôi cư trú. Tôi cúi xuống nhìn mầu cà phê đen đặc, sóng sánh sót lại một ngụm trong chiếc ly giấy. Tôi cầm chiếc ly chao nhẹ đi một chút, do dự chưa muốn ngửa cổ uống nốt ngụm cuối cùng. Ngụm cà phê trông như ngụm nước mắt đen. Chao ôi nước mắt đã có một lúc nào đó, ta ngửa cổ uống được cả ngụm hay sao!

Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó! Đứt ra từng đoạn: đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu. Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.

Tháng tư của bốn mươi sáu năm sau, ngụm nước mắt không bao giờ cạn được

Tôi ngồi trong quán một mình. Ngó những khuôn mặt lạ, họ không phải bạn bè, nhưng vẫn thấy thân thuộc, vì đó là những khuôn mặt của dân bản xứ tôi gặp thường ngày. Cách ăn mặc và lối cư xử của họ na ná giống nhau. Mình nhìn mấy chục năm, mình quen với cách kéo ghế, cách chụm đầu vào nhau nói khe khẽ, cách nghiêng mình xin lỗi của họ khi phải đi qua mặt ai, nên bỗng trở thành gần gũi.

Tự ngậm ngùi tưởng tượng, nếu bây giờ mình ngồi ở trong một quán cà phê ở Việt Nam, ngắm những người ngồi chung quanh, chắc chắn mình sẽ thấy lạc lõng lắm, vì cách ăn mặc và cư xử rất khác mình. Họ cũng sẽ chẳng để mắt nhìn đến mình, một kẻ thường thường trên mọi phương diện. Mình lạc lõng ngay chính trên quê mình.

Ngồi một mình với ly cà phê Starbucks trong một ngày của tháng tư, quê người; tôi chỉ nhìn ra mình là người lạ với chính mình. Cúi nhìn mấy ngón tay đang cầm ly, những ngón tay gầy đã bắt đầu xanh xao gân lá, biết mình ở đây lâu lắm rồi. Đôi vai bỗng trĩu nặng như có bàn tay ai vô hình ấn xuống ghế. Thôi, đã đến đây rồi, thì ngồi xuống đây, còn đi đâu được nữa. Ngồi đây mà hồn như thác đổ, tiếng nước ầm ầm vọng tới từ một ký ức xa xôi, rồi bỗng òa ra khi chạm vào tảng đá cuối cùng, tảng đá tháng tư.

Tháng tư ở đây là mùa xuân, chim chóc rủ nhau bay vào thành phố, hoa đào nở hồng trên mỗi con đường, nắng mới lách mình vào những khung cửa mở, trong vườn nhà ai hoa táo, hoa lê trắng xóa. Những người Việt di tản như tôi, tháng tư không ít thì nhiều quay đầu nhìn lại quá khứ, nhớ lại những giọt nắng quê nhà năm đó hòa vào máu và nước mắt. Hoa nắng quê người chỉ làm gợi thêm nỗi xót xa.

Anh ạ tháng tư mềm nắng lụa
hoa táo hoa lê nở trắng vườn
quê nhà thăm thẳm sau trùng núi
em mở lòng xem lại vết thương.

Chung quanh tôi, một vài bàn nhỏ có người ngồi trước tách cà phê và cái laptop. Họ im lặng làm việc, học hay sáng tác. Có người với một tờ báo mở trước mặt, hay hai người bạn thì thào nho nhỏ. Quán tĩnh mịch, nghe được cả tiếng gõ khe khẻ của những ngón tay chạm trên bàn phím, thậm chí cả tiếng thở của người ngồi ở bàn gần mình. 

Vũng Tàu 1966
Tôi ngồi với ly cà phê cạn. Tôi biết trang mạng của người Việt khắp nơi trên thế giới, vào mỗi tháng tư họ cũng trao đổi cho nhau trên khung hình nhỏ: những tấm hình đang bốc lửa, những khẩu súng đang nhả đạn. Tiếng người đang khóc, đang la vang, đang chạy hoảng loạn, đang giẫm lên nhau. Tiếng súng nổ, tiếng kêu thất thanh… Tất cả hiện ra trên khung hình nhỏ.

Trong một tiệm cà phê ở Mỹ, tôi ngồi đó, ngửa mặt uống ngụm cà phê đen cuối cùng. Bỗng dưng má tôi ươn ướt. Nước mắt ứa ra từ hai con mắt, bờ mi đã bắt đầu sụp xuống như hai chiếc lá cuốn khô. Nước mắt của một người di tản vì chiến tranh lâu quá rồi, xót xa cho phận mình, phận người, phận quê hương đất nước.

Bốn mươi sáu năm rồi, mà thỉnh thoảng vẫn đọc được ở trên mạng, lẫn vào những bài vở giải trí, kiến thức hay nghệ thuật, những lời nhắn với nội dung thật buồn:

Một hài cốt với tên họ, ngày sinh và số quân đầy đủ của một quân nhân VNCH, ai đó vừa tìm được bên đường. Mong có thân nhân đến nhận. Nào ai biết thân nhân của bộ xương đó còn sống hay đã chết? Tin đó đến từ Việt Nam và đã chuyển đi nhiều lần.

Tin những người ở Mỹ về bốc mộ, một hố chôn tập thể của binh sĩ VNCH trong một sân trường hay bên cạnh một con mương.
Tin cả trăm bộ xương tìm thấy ở ven biển miền Trung không biết của bên này hay bên kia.
Rồi còn cả những tin như sĩ quan H.O qua đời ở Mỹ không có thân nhân, được những người trong cộng đồng phụ nhau mai táng.

Lời nhắn về một vị tá Hải Quân, có con ở Cali. Xác nằm trong bệnh viện Texas hai tuần rồi. Cha qua đời, con ở đâu chưa đến nhận.

Những dòng chữ như thế, thực sự là một “Tin Buồn” với ý nghĩa đúng nhất của nó.

Hà Nội 1954
Tháng Tư là tháng tôi sợ đọc, sợ xem hình trên mạng. Sợ nhìn lại những hình ảnh và đọc lại những bài viết kinh hoàng của những nạn nhân vượt biển; hình ảnh nghĩa trang quân đội bị đập phá trong tủi nhục; những câu chuyện thương tâm của tù nhân và nhà tù cải tạo; sợ phải xem lại những hình ảnh của một thành phố mình đã sống và lớn lên bị tàn phá bởi chiến tranh; sợ những bức hình và tên tuổi, binh nghiệp của các tướng lãnh tự sát vào ngày cuối cùng, tôi sợ mỗi khi đọc thêm một danh sách tự vận của các cấp tá, cấp úy, các hạ sĩ quan. Họ tự sát riêng lẻ hay có khi cùng với vợ con. Những bức hình im lìm đó là những tiếng gào thét phẫn nộ của những anh hùng VNCH. Tôi không nhớ là mình đã đọc được câu này ở đâu: “Thật đáng thương cho một đất nước nào có quá nhiều anh hùng” vì anh hùng đồng nghĩa với hy sinh và cái chết.

Đau đớn nhất là bao giờ khi xem hình, khi đọc những bài viết xong, cuối cùng mình nhận thức rất rõ rệt: đó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Người giết và người bị giết đều mang họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần...

Bốn mươi sáu năm rồi, người ta nói là Việt Nam đã hết chiến tranh, người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng trên mạng, người Việt trong và ngoài nước vẫn có những dòng chữ gửi đến cho nhau mang theo những thông điệp thật buồn: Việt Nam tôi đâu? Người dân mất nhà, mất đất. Gái Việt bán sang Đài Loan. Gái Việt xếp hàng lấy chồng Đại Hàn. Không có tự do cho Việt Nam. Ngư dân Việt bị tàu Trung Công bắt ngay trên biển của mình. Nước Việt âm thầm mất dần từng mảnh cho Trung Cộng

Tháng tư, cà phê đắng, đắng thêm khi pha vào những giọt nước mắt vì nước mắt bao giờ cũng có muối ở trong. Nỗi đau tháng tư với một số đông người Việt ở thế hệ bạn hữu tôi, là một vết thương không thành sẹo được, nó lên da non, rồi ngưng lại ở đó. Nhìn xuống vẫn thấy màu hồng, vẫn thấy như còn rơm rớm máu.


Tôi cúi xuống nhìn chiếc ly không, tự lấy tay áo lau thầm những giọt nước mắt mình. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản. Vạt nắng tháng tư chỉ bay xiên vào trong quán này một năm một lần, nhưng khi tôi đến đây, dù bất cứ tháng nào trong năm, hồn tôi, tháng tư có thể đến bất chợt ghé xuống và rơi cùng những giọt cà phê.

Anh ạ! Tháng Tư sương mỏng lắm
sao em nhìn mãi chẳng thấy quê
hay sương thành lệ tra vào mắt
mờ khuất trong em mọi nẻo về.

======================================================

Hà Nội 1954: Partir c'est pour choisir la liberté: ra đi chọn tư do

=========================================

Thursday, May 13, 2021

Bà Tôn-Lò

 

Nha Địa Dư

Bà Tôn-Lò Nguyn Hoàng Sơn

Sau Tết Mậu Thân, xóm Thi Sách Đà Lạt bỗng có đông người đến ở. Phía gần đầu dốc nhà mình thì có bà Hành, giận chồng có vợ bé nên cắm dùi miếng đất hoang bên đường, phác mấy bụi hoa quỳ, xây cái nhà gỗ, mở quán bán tạp hoá, kiếm sống nuôi con. Sau 75, nghe kể con Xuân, con bà Hành về Sàigòn, làm ăn giàu lắm. Thằng Nhân, học Văn Học, đi lính tử trận ở Cai Lậy. Cạnh đó là gia đình ông bà Phúc, lính thổi kèn trumpet của đội kèn đồng Võ Bị, cắm dùi một căn nhà gỗ với một lố con. Ngày ngày cứ nghe ông ta tập thổi kèn tò tí te khiến dân xóm chán mớ đời.

Thằng con đầu tên Khánh Ù, chơi thân với mình, đi ăn cắp buồng chuối của bà bắc kỳ, dú không chín, đem trả lại, bị chửi hai lần. Lần đầu ăn cắp rồi trả lại vẫn bị chửi. Bà con đông nên mượn tiền bà Vinh, đi bán bún bò, bị bà này hoạch hoẹ, thấy thương. Sáng là gánh ngang nhà bà Vinh cho gia đình bà này làm một chầu trừ tiền lời 2 phân, rồi gánh qua Chợ Nhỏ ở đường Phan Đình Phùng, ngồi bán trước tiệm của bà Phú, chị của bà, cạnh tiệm thuốc tây Lâm Viên. Gia đình bà Phú khi xưa ở cạnh nhà mình, rồi dọn qua bên đường Phan đình Phùng, nay ở Seattle.

Kế đó là bà Thới cắm dùi, mẹ của Minh tây lai, học Thái Cực Đạo với mình, học Văn Học trên mình 2 lớp. Nghe kể bà Thới sau 75, dựa hơi bà Thủ, mẹ thằng Vui, theo Việt Cộng làm cm30 (cách mạng ba mươi), hành gia đình mình như điên, khi con chó nhà mình, thuộc loại chó phản động, ngửi thấy mùi cm30 là cắn.

Đi xuống một chút, phía hướng xóm ông Ba Tây, ở cuối xóm mình thì anh Bình, sau khi trả nhà lại cho gia đình ông Tước đến ở, cắm dùi mảnh đất sau cầu tiêu công cộng của xóm, làm nhà ngay sát bên chuồng heo của nhà bà làm vườn bắc kỳ, chửi mình và thằng Khánh Ù, ăn cắp buồng chuối La-ba của bà. Sau này có chút tiền, khi bố mẹ bà Bình chết, xây cái nhà bằng gạch, nay vẫn ở đó với con Thu-em. Gia đình ông V cũng cắm dùi xây căn nhà hai tầng thêm cái nhà xe, để cái bàn bóng bàn cho cả xóm đến chơi. Sau này, có tiền chạy xuống Chi Lăng xây căn nhà to đùng rồi đi tù vì bị tố tham những.

Dạo ấy, Đà Lạt thêm dân cư, sau Mậu Thân chạy loạn VC vào thị xã, cắm dùi, xây nhà, khắp nơi. Ngay đường Hai Bà Trưng, đối diện cư xá Pasteur, có vạc đất của ai, cày lên để xây nhà chi đó, bị thiên hạ cắm dùi chiếm đất, không biết chính quyền có đền chi không. Như báo hiệu VC vào sẽ mất hết của cải. Mình có tên bạn, sau hiệp định Paris, ông bố bỏ tiền đi mua mấy chục mẫu đất ở Cam Ly, hy vọng thắng lớn khi hoà bình đến. Ai ngờ 75, VC vô, không dám hé miệng tự xưng là chủ. Hát bài đừng nhìn đất nữa anh ơi.

Mình hay xuống sân này đá banh với đám con nít của xóm Địa Dư, mà mình có kể về thằng Hùng, anh của thần tượng một thời của Huỳnh Kim Sang. Trước Mậu Thân, Đà Lạt chỉ có độ 40.000 người mà 6 năm sau khi mình đi tây thì dân số thị xã lên đến 100.000 người.

Xuống khúc nhà ông Ba Tây thì có gia đình bà Tôn, người Huế, không biết từ đâu đến. Con đông lóc nhóc, lúc nhúc, không có quần áo, năm đứa. Thấy tội lắm. Họ xây tạm cái nhà bằng gỗ nhỏ rồi cả gia đình chung sống trong một cái phòng, có cái phảng, vừa làm chỗ ngủ chỗ ăn. Họ có nuôi con gà mệ và con gà trống, thấy chúng vào nhà, nhảy lên cái phảng, cứt gà đầy nhà.

Sau 75, ông Tôn Lò được Việt Cộng trọng dụng, nghe nói nay lãnh hưu của nhà nước, có công với cách mạng. Nghe nói chạy chọt với các đồng chí nên lãnh được lương cách mạng.

Một hôm, đang ngồi ở phòng, đọc truyện vớ vẩn, mướn từ tiệm sách Mình Thu, đường Phan Đình Phùng. Phòng mình có cửa sổ mở ra đường Thi Sách nên hơn chuyện hay xem thiên hạ đi qua phòng mình. Bỗng nhiên mình nghe tiếng la ó xa xa nên tò mò, chạy lên đường Thi Sách. Gặp thằng Khánh Ù, kêu đi, đi, bà Tôn Lò đang chửi ai.

Xóm mình khi xưa, ít người lắm, yên tĩnh không như ngày nay là khu phố Văn Hoá, với mấy biểu ngữ “cương quyết xây dựng khu phố Văn Hoá,...”. Khi nào mà có chuyện là con nít chạy đi xem như ngày hội. Người lớn kêu con nít chạy đi xem chuyện gì, về báo cáo.

Đài truyền hình ít ai có mà chỉ mở vào buổi chiều. Trong xóm chỉ có độc nhất nhà ông Vinh là có máy truyền hình. Do đó các chuyện xe cán chó bên đường là trọng tâm của xóm Thi Sách. Đánh ghen, hàng xóm chửi lộn là chương trình thực tế, mục thị, hiển thị của dân trong xóm.

Mình và thằng Khánh vừa chạy đến khúc nhà Đinh Gia Lành, là đã thấy xa xa, bà Tôn Lò đang cầm cái chổi, quơ quơ, chửi đổng:

Bơ....kỳ thằng ăn trộm, ăn cướp

Bơ....mấy kỳ đứa rình đớp của tau

Mi nghe được thì đến trả đây mau

Không tau xưởi cho trúc mồ, trúc mả.

Mình nghe tới đây là quýnh lên liền vì bà này chửi giọng Trung khá nặng, nhất là tâm lý đang hừng hực nổi máu nên cố vểnh tai ra nghe. Mà lạ, khi người ta chửi, họ đều chờ tới giờ ăn trưa mới đem cái loa cá nhân ra đường để báo cáo cho láng giềng, tình hình chiến sự của họ. Có lẽ đó là thời gian linh thiêng nhất, khi cha con, vợ chồng sum họp, quây quần bên mâm cơm, để chào đón, tiếp nhận những lời khuôn vàng thước ngọc của bà Tôn Lò. Giọng bà chửi vi vu như tiếng dương cầm trong các tiệm ăn sang trọng mà mình có dịp thấy trong xi-nê ở Âu châu.

Bà Tôn Lò, tên này do đám con nít trong xóm đặt. Họ kêu mồm bà này to nên thêm chữ lò sau chữ Tôn cho hợp tính nhân văn của bà ấy. Bà Tôn lò bận áo dài, đi chân đất, cầm cái nón lá bài thơ, quạt quạt, miệng ngậm điếu thuốc Cẩm Lệ, [Cẩm lệ được ông Võ Quang Tiềm, khởi xướng khi xưa, mua sĩ về Đàlạt để bán lại. Các người cháu của ông như cậu Liễu, dì Tân, phụ giúp rồi sau ra chợ bán, lấy hàng từ ông Tiềm, kiểu franchise như ngày nay].

Bà ta vừa chửi vừa nhai trầu, lâu lâu quay qua bên trái, nhổ phẹt một bãi trầu xuống bụi cỏ, lấy cái tay áo, quẹt một đường để chùi cái loa cá nhân, rồi tiếp tục cất tiếng chửi độ 120 decibel.

Hồi nhỏ, mình không rành mấy vụ nói lái, đến khi chơi với anh Toàn, con ông Tô và Đinh Gia Lành thì mới nghe hai ông thần này, nói lái trước mặt bố mẹ chúng để mấy ông bà không hiểu. Từ đó, mình nhận thằng Bi, con đại uý Hải làm thầy, dạy nói lái. Nay hắn ở tiểu bang Washington, cách Seattle đâu 3 tiếng lái xe. Mình có gặp hắn hai lần ở Cali.

cine Đà Lạt xưa
Bà Tôn Lò đang rống mấy tiếng để chửi tên nào trộm gà nhà ba ta thì thằng Rị, chạy ra nói gì với bà Tôn-Lò nên bà ta phải ngưng bắn đơn phương, hỏi thằng Rị chi rứa, rồi đuổi thằng con và mấy đứa em vào nhà, một mình bà ta ở lại ngoài đường như Quan Công, trấn giữ cầu. Bà tiếp tục khúc dạ hành.

Bà con ơi rứa cò tức khung nạ

Lo dịn ăn nuôi được mấy con ga

Túi bựa qua đạ dốt vô troong già

Rứa mà hần lẻn vô bắt chò được.

Bà quơ quơ cái nón lá bài thơ trước đám con nít như phân trần, kể nỗi khổ của bà, dành dụm, lo nuôi con gà, bắt thằng Rị, đi bắt giun về cho gà ăn hàng ngày để có protein mà tên nào ghé nhà vớt mất.

[Gà nhà mình cũng hay bị một tên trong xóm, nghiện thuốc phiện, hay ghé lại ăn cắp, đồ phơi trước nhà phải canh chừng vì hắn đi ngang là chôm ngay. Có lần hắn vớt cái áo blouson của ông cụ khiến ông cụ chửi mình quá cỡ thợ mộc, kêu chơi ngoài sân mà không xem chừng. Sau này, cứ thấy tên này là mình đem đồ vào nhà ngay. Mình trả thù bằng cách dụ chim bồ câu của hắn lại chuồng chim bồ câu nhà mình, bắt chúng đem ra tiệm Chic Shanghai bán kiếm tiền].

Rồi bà Tôn Lò tiếp tục. Bà đưa cái chổi lên trời như để mắng vốn ông trời không có mắt, khiến thằng nào chôm con gà của bà.

Bơ....mấy kỳ thằng đầu trộm đuôi cướp

Ăn ga tau bây mắc cổ cho coai

Cố tổ, cao tằng mi răng đẻ ra kỳ nòi

Dác mần, siêng ăn vô già tau ăn trộm.

Hu...ba hồn bảy vía mấy kỳ thằng mặt lợn

Nỏ chộ đàng...đi ăn cắp của mụ tra

Bây dem lả...lả hần cháy mất già

Bây ra đàng xe hần tôông loại cẳng.

Chửi đến đây thì thằng cu Rị, con bà ta bế đứa em đang khóc vì đang ngủ, bà mẹ ngứa mồm lại lên cơn chửi, khiến nó thức giấc, khóc đòi sữa hay sợ quá tè trong tả chi đó. Bà Tôn Lò đưa cái nón lá cho thằng Cu Tị cầm, rồi bế đứa con đang khóc, rồi vạch áo ra, cho con bé bú. Rồi bà tiếp tục ru con với giọng chửi qua dòng sữa tươi của người mẹ kinh thiên.

Bơ.......mấy thằng trộm, chừ tau mì nói thẳng

Bây ở mô? xóm đưới hay xóm trên

Trộm ga tau bây mần thịt ăn liền

Hay đang dốt thì mau đem trả lại.

Có lẻ hăng tiết lên bà Tôn Lò múa tay múa chân khiến cái vòi sữa bật ra, đứa bé lại ré lên khóc, bà lấy cái vòi vú mớm cho con bé bú rồi tiếp tục đọc diễn văn của người mất gà.

Bây khun trả thì tau đây xưởi mại

Đến khi mô bây cảy cổ thì thôi

Tau xưởi cho già mi tiệt hết kỳ nòi

Dác mần ăn chỉ đi rình trộm cắp.

Bà bắc kỳ Nam Định chửi thì mình nghe được, còn mệ Tôn Lò thì khó nghe, không biết giọng xứ nào. Dân vùng Sịa thì phải. Xóm mình có nhà ông Hoà, hình như dân xứ Nghệ hay Hà Tỉnh chi đó, nói cũng khó nghe lắm. Không biết sao bà ta biết là thằng nào ăn trộm, mà kêu ba hồn bảy vía của hắn ra để trù ẻo. Con gái thì họ réo chín vía.

Hu...ba hồn bảy vía kỳ thằng chết rấp

Đêm bựa qua bắt trộm ga của tau

Lo liệu hồn đem mà trả chò mau...

yên bình Đà Lạt thuở xa xưa
Hình như chửi nhiều quá nên bà ta mất sức hay con bé đói quá, bú hết sữa nên ré lên, bà đưa tay thổ thổ con bé nhưng có lẻ có giọng chửi của bà hơi cao, hơi trật hợp âm Fa Chửi nên con bé càng ré to hơn tiếng mụ chửi. Hổ cái sinh hổ tử. Mình không biết mấy đứa con bà ta sau này có tiếp tục nghề gia truyền, gia phong hay không.

Xưởi mệt rồi bựa chừ nghỉ cấy đạ.

Nói xong bà ta bế con bé vào nhà, khiến cuốn phim đang đến độ gây cấn, vì đám con nít như mình muốn biết thằng nào ăn trộm gà của bà ta vì bà réo 7 vía, bị đứt dây giữa chừng, khiến đám con nít hàng xóm đang tụ năm tụ bảy như mình bàn tán, ai hè ai hè, rồi từ từ rả đám, không ai nói, tự động rã đám, đi về. Thằng Khánh Ù kêu chắc thằng Bi, con bà Chi ăn cắp.

Bà này cũng thuộc loại còn sân si, còn cay đắng, tiếp tục chửi đến cả tuần nên trưa nào ăn cơm xong, đám con nít không ngủ, được đi xem xi-nê miễn phí, vừa trau dồi, “bồi dưỡng văn hoá nhân bản chửi” nhưng không thấy ai đem trả con gà nên tự đình chiến.

Phải chi bà ta học chửi như mẹ tên nào đoạt giải thi chửi, mong gà bị ăn cắp to béo, giúp dòng họ của chúng giàu có lên, biểu thị tính nhân văn của giới lao động. Sau 75, bà Tôn-lò nhờ kinh nghiệm chửi nên được làm lớn trong tổ dân phố, đi từng nhà khuyến khích toàn dân, xây dựng một tổ dân phố văn hoá phường 6, bật nhất Đà Lạt.

Mình về đi thăm hàng xóm, đều thấy ghi bằng khen thưởng là gia đình văn hoá do chồng bà ta ký. Nghe nói phải chung tiền mới được bằng khen. Nhà nào không có bằng khen thì họ đến bồi dưỡng tinh thần, củng cố tư tưởng, bắt phải học tập tư tưởng bác Hồ, bú xấu la mua nên cúng tiền cho khoẻ. Kinh quá!

Có lần điện thoại về nhà, nói chuyện với ông cụ. Ông cụ rên là con gà trống nuôi để làm giỗ, bị thằng nào ăn cắp mất. Mình nói sao không nhờ bà Tôn Lò. Bố mình kêu “con mẹ đó”. Chán mớ đời!

**********************************

 

Wednesday, May 5, 2021

ngừng tay ám sát

 

bánh mì bến xe Saigon Miền Tây


ngừng tay ám sát

Hai Le

Ba Lé uống một ly, rượu cay làm mắt ông đỏ ngầu, rồi có lẽ men cay làm ông nhăn mặt. Cả bản mặt rúm ró lại như con khỉ ăn ớt. Tôi còn chưa kịp hiểu tại sao ông có phản ứng như vậy khi nghe tôi hỏi về thời trai trẻ của ông có từng ám sát ai không. Ba Lé là một Việt cộng có tiếng, đắp mô đường tỉnh lộ và giựt mìn cầu. Cây cầu Đúc Sập có tên đó là do ông giật sập để làm cho xe nhà binh không qua được. Nhưng nhà Ba Lé bây giờ nghèo xơ xác như cái giẻ rách. Chỉ có cái tủ thờ của ba má ông là gọn gàng sạch sẽ, còn lại thì trống hoác như cái chuồng gà mục nát. Tôi thường tới thăm để đem cho ông mấy thứ linh tinh và nghe ông kể chuyện.

Nếu ông như mấy tay cựu chiến binh khác, chắc là cũng được cái nhà cấp bốn tí tí hoặc một giò trong huyện đội này nọ. Nhưng không, Ba Lé sống như trời đày, hay nói đúng hơn ông tự đày đoạ mình, không khác gì một tù nhân khổ sai trong chính căn nhà mình.

Ba Lé không có vợ con, ông tự xây kim tĩnh và xẻ ván đóng sẵn một cái hòm nho nhỏ nằm vừa, trả sẵn tiền cát đá xi-măng cho đại lý, để dành sau này làm mả cho chính ông. Mối cơ duyên của tôi và ông cũng khá kỳ lạ, bởi thường không ai dám tới gần vì ông cục súc như “con chó già điên” - cách mà ông tự mô tả về mình rồi ngửa cổ cười khanh khách.

Tôi nghĩ ông bất đắc chí chuyện gì đó, và thấy tính ông khá là bạo lực, mỗi lần nghe tôi kể có quan chức nào bị bắt là ông luôn hỏi khi nào xử bắn. Nhưng hôm nay khi hỏi ông có từng ám sát ai chưa, thì ông chùng xuống và dịu lại, lẽ ra phải ngược lại mới phải. Thời gian như im lặng ít lâu, rồi ông trầm ngâm:

- Tui thiệt với chú em, đời tui hại người ta chết oan ngoài ý muốn chắc cũng có, nhưng cố tình đi giết người thì có một lần một, mà lần đó về tui bỏ nghề Việt cộng!

- Ủa sao vậy bác Ba? Kể con nghe đi bác Ba!

- Lần đó tui được giao một trái lựu đạn, để ám sát quận trưởng. Ông đó mà không đi đâu xa nhiệm sở thì sáng nào cũng ghé chợ chỗ sạp trái cây của anh ổng nói mấy câu rồi mới đi. Tui chỉ cần canh me dục trái lựu đạn tới chỗ ổng rồi chạy thẳng ngả sau chợ phóng xuống sông là thoát.

chợ Đông Ba Huế (1930-1940)
- Trời đất, vậy rồi mấy bà bán cá chị bán rau ngồi gần đó chết chùm hết rồi sao bác Ba?

- Thì tui cũng hỏi thằng Nguyễn Văn Long y như chú, cái nó nói mấy người không liên can có chết là hy sinh cho cách mạng, nợ máu thì đổ lên đầu thằng quận trưởng, còn phần tui thì phải thi hành bản án tử mà toà cách mạng đã ký. Tui đi mà trong bụng rối beng. Mấy người mua gánh bán bưng cả đời có nợ máu gì mà làm người ta chết cho đặng? Hồi xưa má tui cũng đi bán gánh như vậy nuôi tui lớn. Lỡ tui làm chết mấy người đó thì ai nuôi con họ? Trong bụng tui tan nát hết, bây giờ không thối thác cho đặng, nếu tui mà không làm thì cỡ nào tui cũng bị thằng Long nó thủ tiêu, mà làm thì tui thấy mình không ra con người nữa.

- Trời, ác quá, rồi bác làm sao?

- Thì tui cũng đi sớm từ hừng đông, tới chợ TT giả đò ngồi ăn bún, chờ cơ ra tay. Thì cỡ nửa tiếng xe ríp của ông quận trưởng cũng trờ tới. Tui thò tay vô túi áo, rờ trái lựu đạn cho yên tâm. Nhốm đít lên chờ cơ là rút chốt dục liền, rồi sẽ bỏ giò chạy xuống sông. Tui vừa tính làm, thì ngó kỹ thì thấy ổng đứng ngay ngắn khoanh tay trước mặt anh ổng, khoanh tay ngay ngắn rồi nói “Thưa anh hai em đi làm!”. Tự nhiên giờ đó trống ngực tui đập liên hồi muốn xỉu. Ông anh hai của ổng chỉ ừa một tiếng rồi lo dọn hàng, còn ổng thì ngoan như thằng con nít cúi đầu cái nữa rồi mới lên xe đi. Giờ đó tui biết tui quá sai khi theo đám thằng Long rồi, mà có muốn thay đổi chiêu hồi cũng không còn kịp nữa...

- Thôi chuyện qua rồi mà bác, rồi sau đó sao nữa bác?

- Thì ổng bình an không bị quăng lựu đạn. Tui thì mới mệt, rút êm rồi tui đi trốn biệt xứ chớ có dám về đâu. Kiểu gì cũng bị thủ tiêu. Đi mười mấy năm, rồi hoà bình lập lại lâu lắm tui về xứ thì ba má tui chết hết trơn rồi, nhờ lối xóm chôn giùm...

Ông nói tới đó thì tự nhiên mếu máo rồi khóc, tôi tự nhiên thấy ông Ba Lé hiền khô, tôi tin sự thiện còn sót lại ở ông và ông đang tự trừng phạt mình bằng cách sống “trời đày” bao nhiêu năm nay. Có lẽ ông muốn tôi ghi chép lại những điều này như một lời thú tội trước những linh hồn uổng tử vì ông. Tôi cũng chợt nghĩ lối giáo dục hiếu thuận của nhà ông quận trưởng đã cứu sống ông ấy mà chính ông không hề hay biết. Tự nhiên thấy thương thương những nhà mà anh em thuận hoà hiếu đễ đến già, có lẽ sự nhu thuận và thương yêu nhau có công năng cảm hoá chính mình và cả tha nhân.

Những người của năm xưa có lẽ bây giờ đã qua đời hết, ông Ba Lé khi tôi viết lại những dòng này cũng đã xanh cỏ ít năm. Trong cõi thiên niên vĩnh cửu, chẳng biết người ta có gặp lại nhau?

(Hồi Úc về Một Vụ Ám Sát Hai Le Facebook)

========================================================================

Chợ Bà Chiểu Gia Đinh trước 1975
===========================================
 

Monday, April 26, 2021

thương tiếc không nguôi


 

Mt năm người có mười hai tháng
Ta trn năm dài Mt Tháng Tư !

Thanh Nam

--------------------------------------------------------------------------




giữa cơn gió bụi


30.04 ghi ân anh hùng vị quốc vong thân
thương tiếc không nguôi
tôn tht tu

Khoảng 1967, tôi có đi theo một người bạn cốt ý ăn thịt bò nướng tại nhà một giáo sư Mỹ trên đường Duy Tân, Saigon. Cùng đến có Patrick Honey, chuyên viên về VN trong phái bộ Anh tại hội nghị Geneve 1954 và là cố vấn của ngoại trưởng Anthony Eden. Chừng mươi thực khách vây quanh ông trò chuyện một hồi không lâu lắm.  Honey nói ông ta không ngạc nhiên khi nghe tin chiến tranh bùng nổ tuy dưới dạng du kích chiến, đánh dấu bởi trận Ấp Bắc Bà Bèo (29.09.1959). Theo ông hơi hướng chiến tranh đã ngửi thấy khi hiệp định Geneve xem như đi đến kết cuộc chia đôi VN tuy chưa ký kết. Ông đã đánh hơi trong khi tiếp xúc với nhân viên các cấp của phái bộ CS.

Vẫn theo nhà ngữ học nầy, Phạm Văn Đồng tưởng chừng cường quốc giao hết cả nước Viêt Nam cho HCM vì nước Pháp còn tệ hơn một thương binh mất cả tứ chi. HCM đã căm hận đàn anh quốc tế không tiếp tục viện trợ quân sự. Trung Cọng muốn nhân cơ hội nầy chứng tỏ vai anh, ngang với Nga nên đã cố ép HCM chấp nhận cái khôn ngoan thường tình là có còn hơn không. CS chuẩn bị ngay từ đầu bằng cách hô hào tập kết ra bắc thành phần mới được tuyên truyền nhưng để lại thành phần cốt cán.

Thật vậy, về đến Hà Nội, HCM gọi là tả khuynh các nhóm hay cá nhân nào chủ trương lấy hòa bình xây dựng kinh tế nâng cao mức sống dân chúng, cạnh tranh với miền Nam. Kinh nghiệm cho thấy rằng đi theo kiểu phát triển của Triều Tiên chỉ đưa đến thất bại vì phía nam vĩ tuyến 38, Mỹ đổ tiền rất nhiều mà tài nguyên thiên nhiên cũng hơn. Miền Nam VN lại được thiên nhiên ưu đãi giàu có hơn nếu đem so bắc nam Triều Tiên.

Cải cách ruộng đất qua đấu tố, ngoài mục đích làm cho giống như đàn anh CS, nhằm đưa tất cả cơ cấu sản xuất tập trung cho nhà nước để chuẩn bị chiến tranh. Đoàn ngũ hóa nhân dân cũng đi vào mục đích ấy. Nền văn nghệ cũng quyết liệt hơn. Không còn nét dân tộc và lãng mạn như thời kháng chiến. Những tác phẩm có tính cách trực khởi từ tình tự dân tộc như của Hữu Loan, của Việt Lang... đều bị cấm triệt và các tác giả bị tù đày. Về lý thuyết và thực tế cái gọi là dân tộc không còn sức kêu gọi trong giai đoạn mới. Hơn nữa tính dân tộc là xương sống của những thứ cần đả phá để thay thế bằng lòng yêu đảng và lãnh tụ. Văn nghệ là văn nghệ sản xuất, là tin tưởng vào lãnh tụ.

Mọi hình thái sinh hoạt, mọi chủ trương chỉ nhắm vào đánh chiếm miền nam dù với hình thức trường kỳ.

Bằng chứng rõ ràng nhất của âm mưu được tìm thấy trong lời thuyết minh của Nguyễn Mạnh Tường trước hội nghị các luật gia về hòa binh 1956 tại Bruxelle (ghi lại trong một hồi ký). Ông đã kêu gọi các đồng nghiệp chấp nhận vũ trang và bạo động là hòa bình. Đừng ngây ngô mà nói hòa bình và võ trang khởi nghĩa là hai thực thể tách lìa và đối kháng; hai thứ đó không như ngày và đêm.

Ông đã than khóc cho một nước VN bị chia cắt bằng con dao là sông Bến Hải. Nói với luật gia, ông dùng ví dụ trong nghề, là các phiên tòa ly dị, con sông nầy là nước mắt của đàn con. NMT đòi thế giới công nhận sự nổi loạn của luật sư Nguyễn Hữu Thọ trong Nam. "Chúng ta không nên hiểu chiến tranh là cái gì nguy hại, không có lằn ranh giữa chiến tranh và hòa bình". Ông lên án sự hời hợt trong sự suy nghĩ của người bình dân, và ông chủ trương nhìn chiến tranh và hòa bình trong lối suy nghĩ biện chứng, vượt qua lối giải thích nặng phần ngữ âm và cú pháp.

Chỉ cách phía trên chừng mươi trang, NMT đã phân biệt chính trị và luật pháp. Một bên chính trị là mơ hồ như ma như quái; một bên là luật pháp rõ ràng có lằn mức giới định. Nhưng đến đây ông lại kêu gọi các luật gia đồng nghiệp dùng biện chứng cùng tính cách năng động để hiểu chiến tranh chính là hòa bình, vượt lên trên ngôn từ.

NMT quên nói rằng hiệp định Geneve 1954 được ký kết giữa hai phái bộ quân sự CS và Pháp. Nó tạo nên một hình thái phần nào giống tình trạng ở vĩ tuyến 38; quân Nhật bị giải giới bởi Nga phía bắc, Mỹ phía nam; thực tế tạo nên hai nước Triều Tiên. CS đồng ý rút quân về cố thủ phần chia lãnh thổ, phía bắc vĩ tuyến 17. NMT mang sứ mệnh do CSVN giao phó, cùng với Nguyễn Huy Mân chủ tịch tòa án quân sự để chuẩn bị dư luận quốc tế về âm mưu xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực.

Ngoài thực tế chính trị với tiền lệ rút quân ở Triều Tiên, Miền Nam vẫn có sự liên tục chính thống từ khi Bảo Đại tuyên bố độc lập sau thế chiến hai. Miền Nam là một quốc gia; chính phủ vẫn trông vọng một nước Việt duy nhất qua hai phản ứng 1. không chấp nhận dự Hội Nghị Á Phi với sự hiện diện của BV, 2. không chấp nhận đề nghị cả hai miền vào Liên Hiệp Quốc (đúng sai không bàn ở đây).

30.4 Saigon, ảnh Catherine Leroy
Kêu gọi luật gia thế giới ủng hộ một cuộc nổi loạn bạo động trong một quốc gia liên tục - ít nhất với lẽ thường - không có tí gì luật pháp. Đáng lý Hội Luật Gia Dân Chủ nầy phải để ý đến tình trạng luật pháp tại BV. Hà Nội đã đàn áp đẫm máu các cuộc nổ dậy, ví như vụ Quỳnh Lưu.

Lời lẽ văn hoa và chuyên nghiệp trước hội nghị che dấu sư hiện diện của CS trong việc hình thành hiệp định Genève. Ông chỉ nói một cách trống rỗng về tình trạng chia cắt. Nhưng ai cũng biết ông đến với một mục đích rõ ràng là bênh vực khởi nghĩa võ trang tại miền Nam. Ông đã cố tình (hay vì không biết) bỏ lững mối liên hệ giữa Nguyễn Hữu Thọ và chính quyền BV. Nhưng thiển nghĩ ông dư sức hiểu ông được phái đi không phải là thừa giấy vẽ voi.

Sau đó trong suốt cuộc hành trình, qua sinh hoạt với từng phái đoàn riêng, ông đã phê phán thậm tệ nền pháp luật BV trên lý thuyết và thực hành. Ông rất khắc khe với cải cách ruộng đất, không tiếc lời xấu xa cho chế độ CS. Nhưng học giả nầy quên hay cố quên rằng chính thể mà ông cho là tồi bại là phi nhân lại là guồng máy chỉ huy công cuộc mà ông ca ngợi. Đó là khởi nghĩa võ trang ở miền Nam. Nói khác ông mong chế độ ông chê trách phủ trùm đến Mũi Cà Mâu. Nếu mấy chữ kế cận trên đây không nằm trong ý tưởng của ông thì vị tiến sĩ đôi của chúng ta rất ngây ngô, hành sử như một luật sư chuyên nghiệp; làm việc cho một đơn đặt hàng nguy hiểm, như trường hợp biện hộ cho một kẻ sát nhân bị bắt quả tang và thú nhận cùng các bằng chứng rõ rệt.

Đây chỉ dùng một đoạn ngắn minh chứng sự chuẩn bị và ý hướng xâm chiếm miền Nam. Ông đã cổ súy sự tự phát võ trang. Điều nầy không mới lạ mà là một đề tài chính trong tuyên truyền của Hà Nội. Tính cách gọi là "nhân dân" ấy dễ ngụy trang du kích chiến. Mà du kích chiến tự nó không thể giải quyết rốt ráo, phải nhường chỗ cho chiến tranh qui ước và diện địa. BV đã đi ngược lối tuyên truyền ấy khi cho những đơn vị lớn vượt Bến Hải xâm vào Quảng Trị 1972; và sau đó chúng ta chứng kiến những trận đánh lớn và xua quân ào ạt chiếm miền Nam ngày 30.04.75.

Chiến trận kết liễu, phô bày trước mắt người miền Nam một miền bắc nghèo nàn và bưng bít; phô bày trước mắt người Bắc một miền Nam không phải là một nhà tù vĩ đại, dân chúng không ăn cơm với cái gáo dừa. Trước chính sách bần cùng hóa, người miền Nam còn ở trong nước, phải nghĩ đến cuộc sống khó khăn, ở ngoài nước chỉ nghĩ đến thân nhân. Họ không có thì giờ để nghĩ đến những người trong cùng chiến tuyến đã chết, vừa chết.

Sự thương tiếc ấy cũng bị lu mờ vì lòng căm hận đối với ván cờ thí xe lấy chốt, căm hận đối với những kẻ có binh quyền để lại cái băng nhựa kêu gọi chiến đấu đến giọt máu cuối cùng mà người thật đã cùng vợ con xô chiếc trực thăng xuống biển sau khi đã đáp an toàn trên tàu chiến ngoài khơi. Dân chúng không tìm ra trung tướng Thiệu, cái trung tướng mà người bằng da thịt tên Nguyễn Văn Thiệu bảo đảm hiện hữu, còn cái tổng thống Thiệu sẽ mất đi. Thì ra tổng thống cũng không, mà trung tướng cũng không.


Tôi không quen ca ngợi kể cả ca ngợi Phật Chúa. Tôi lại không quen ca ngợi những chiến sĩ mọi cấp đã hy sinh, vì chính tôi là một quân nhân biệt phái, đi từ quân trường về nhiệm sở cũ và làm việc tại Saigon cho đến ngày hạ màn. Tôi đã không thấy sự cơ cực của người lính chiến, tôi đã không trực diện với cái chết kề hông. Tôi cảm thấy không đủ tư cách đứng lên đọc một lời cảm niệm, khệ nệ đặt một vòng hoa trên mồ chiến sĩ. Tôi không có quyền hô hào một ai xông vào lửa đạn. Nhưng tôi thấy được phép ta thán sự vong ân bội nghĩa, "bạc như dân".

Vừa đi tù về, một hôm chờ xe buýt, phải căng tai mà nghe để tách xa, khỏi di lụy; nhưng nhờ vậy tôi nghe hai bà nói với nhau vừa học ở phường, chỉ những người như Lê Hồng Phong mới yêu nước, chứ như Tôn Thất Tiệp (Thiệp) tự sát khi Hàm Nghi bị bắt chỉ là bọn phong kiến mưu cầu lợi lộc.  Chuyện nầy làm tôi liên tưởng sự phê phán của vài bà tướng bà tá đối với bà Lê Văn Hưng: ông Hưng tự sát là phí đời, không cần thiết, không khôn ngoan tí nào.

Phải rồi, những bà ấy hằng ngày tại Saigon điều khiển mười sáu ông tướng bốn màu nên xem các ông tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng không hơn gì con bài tứ sắc. Hàng ngày các bà điều khiển cả tiểu đội, nào lái xe cho bà đi chợ, lái xe cho con đi học, các bà có thể ăn lương của họ vì họ mưu cầu chữ thọ, điều khiển họ như tôi tớ. Vì vậy các bà không thể quan niệm cái hào hùng của anh lính trận, không thấy huynh đệ chi binh. Trong vài ngày cuối ở Cần Thơ, tướng Nguyễn Khoa Nam đi thăm bệnh viện dã chiến; một thương bệnh binh cố sức chồm ôm ông, vừa khóc vừa nói: trung tướng đừng bỏ em.

Các bà trung tướng... đeo sao của chồng tốt nhất nên ngậm miệng ăn tiền, vì rất có thể các đức ông chồng đang hung hăng trên diễn đàn cộng đồng, đứng đầu các tổ chức cựu quân nhân, bộ trưởng trong các chính phủ lưu vong. Ở đời có những người mình gặp mà không nói thì mất người, có người mình nói thì mất lời. Chị Hưng ơi, nói với họ làm chi, chị ơi.

Các bà thì sao cũng được còn các ông thì coi không được. Vài ông đã trở cờ. Nhưng điều buồn cười nhất là tất cả các vị ấy, dân sự, quân sự, văn nghệ sĩ đi đúng một khuôn thức: phải chửi lại cộng đồng, và chửi lại quân đội, hai tập thể đã cưu mang họ trong suốt cuộc đời họ. Không chửi như thế có được không? Đó là điều kiện của Hà Nội chăng?

Tôi không nghĩ như vậy, mà đây do tâm thức của kẻ qui hàng rất chi là Đông Chu Liệt Quốc. Ngày xưa Ngô Khởi tự ý giết vợ để cho vua tin. CS đa nghi, các vị ấy phải theo bài học của nhà quân sự Xuân Thu nầy. Rõ ràng, cứu cánh biện minh cho phương tiện; mà đây lại là phương tiện không cần thiết.

Nếu những người nầy thật sự là CS từ đầu (đảng viên hay nằm vùng) nay trở về chủ cũ; đó là những điều đáng buồn, họ không đáng trách. Nhưng đáng miệt thị là những kẻ từ trong trứng nước, lớn lên, giàu có trong ân huệ của miền Nam, hưởng không khí tự do (dù tương đối) quay trở lại làm hại cho miền Nam. Họ thuộc nhiều thành phần trong xã hội, và cũng là nhóm nhiều mồm mép nhất. Họ đáng bị nguyền rủa, trong lúc chúng ta không khinh thị những cán binh CS thực tâm tin tưởng như họ được tuyên truyền. Lớp nầy giống như kẻ bán khai chặt cây táo mà hái trái trong lúc người văn minh dùng thang mà hái rồi tưới nước cho cây.

Trường hợp tệ hại nhất, theo tôi, một ông tướng đã nói rằng nếu quân miền Nam giải phóng miền Bắc thì sự sát hại còn ghê gớm bội phần những điều đã xẩy ra sau 1975 bởi CSVN. Con cá sẩy bao giờ cũng lớn; vì con cá ấy chưa có trong tay, tự mình cảm thấy nó to hay tự ý khếch đại. Có câu hỏi trong Cổ Học Tinh Hoa, vẽ ma dễ hay vẽ người dễ; vẽ ma thì dễ quá, cái mũi không cần cân xứng, vẽ năm mười cái sừng cũng chả sao, nanh dài đến rốn càng tốt.

Biện lý cuộc đã xin tòa phán quyết tử hình cho một kẻ ăn cắp quả trứng gà. Quả trứng gà sẽ thành con gà, con gà sẽ thành bầy gà, sinh ra nhiều tiền, đem tiền đi đầu tư sinh lợi có thể xây cả trăm thành phố. Tòa giảm còn chung thân. Không một ai biết quả trứng có trống hay không.

Hy vọng lối suy diễn ấy chỉ mới có trong sự thôi thúc đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay, để xin điểm, để làm quà của hàng tướng như Ngô Khởi dâng thủ cấp của vợ. Nhưng nếu lối suy luận ấy nằm lòng từ khi các vị ấy còn nắm quyền ở VN, thì khỏi giải thích vì sao con cháu Lạc Hồng chạy re không đem theo được cái mền rách.

Bên trên, tôi có nêu lời Nguyễn Mạnh Tường chỉ trích cái nhìn bình dân, chưa đạt đến mức biện chứng. Nhưng tôi là người bình dân, tôi có cái nhìn rất bình dân.

"Thưa ông, đây là chồng tôi, mới được về hôm nay, xin ông vui lòng cho chồng tôi ở lại vài ngày". Tôi đi theo nhà tôi như đứa tớ dưới làng lên tỉnh giúp việc, qua nhà ông công an khu vực. Ông bất động như một thiền sư chìm sâu trong tam muội. Tôi nghĩ thầm nếu ông không gật đầu, thế nào tôi cũng phải ra chợ Nguyễn Tri Phương ngủ, chứ ở trong nhà thì trăm điều khốn khổ xẩy ra. Nhà tôi nhanh trí nói: Xin ông cho ở chừng ba ngày để sắp xếp đưa mẹ con tôi hồi hương, giao nhà cho chính quyền. Ông ta bậc dậy như ai lấy kim chích đít: "Được, lo sắp xếp mà đi đi nhe".

Căn nhà xập xệ nầy cũng giống như con trâu của một nông dân ngoài Bắc. Con trâu phải dâng hiến cho hợp tác xã, mong họ lấy cho mà đừng đấu tố chủ nhân, đừng xếp vào hàng địa chủ. Cũng giống như nhân viên xã vào nhà đếm gà thấy thiếu một con, không tin là chồn bắt mà đưa gia chủ ra kiểm thảo giết lén con gà sản xuất, trái với tinh thần đạo đức cách mạng.
Nhờ ơn trời đất, nhờ ơn ông bà tổ phụ, tôi có tròm trèm dăm ba chữ tuy không đi đến đâu về duy vật biện chứng, lý thuyết Marx. Tôi không dùng những thứ ấy để nhìn những việc xẩy ra chung quanh. Tôi chỉ là ông nông dân có con trâu làm việc trên đồng cạn dưới đồng sâu nay phải từ bỏ nó mà chưa chắc đã an thân.

Cầu mong các thân hữu chia xẻ cái nhìn bình dân của tôi. Tôi không muốn căn nhà bị chiếm đoạt (bị ép mà dâng hiến), tôi không muốn vợ tôi bị xỉ mặt mắng là thứ vợ ngụy, tôi không muốn con mất các quyền học hành ...và tôi biết trên cuộc đời nầy, có những con người - dù không thành công - hy sinh tính mạng trong mục đích làm cho những việc ấy không xẩy ra. Tôi tri ân những người ấy.

Một ai đứng trên bờ nhìn ra đại dương mà thấy trong lòng biển nước có xác của vợ mình, của con mình cùng với cái máy đuôi tôm khi chiếc ghe không chịu nỗi sóng dập; người ấy cũng biết rằng trên mãnh đất đau khổ của quê nhà, có những kẻ - tuy chưa thành công - đã hy sinh cuộc đời trong mục đích làm cho việc ấy không xẩy ra. Hãy biết ơn những người vô danh ấy.
Một ai thấy miếng đất hương hỏa của mình dành xây nơi thờ cúng tổ tiên nay nằm dưới khu nhà tắm cầu tiêu của một dinh thự mới, khi tự an ủi với lý thuyết vô thường, vô sở trụ ... vẫn biết có những kẻ đã hy sinh trong mục đích ngăn chân điều nầy xây ra; họ thất trận, lắm người quên đi.

Tôi đã mời các thân hữu dạo quanh một vùng rất rộng lớn với ý niệm chiến lược cùng vài nét sơ phát của bối cảnh 1954 rồi đi đến cái nhìn rất nhỏ hẹp bình dân, không kinh điển, không học vị. Cũng giống như hình cái phểu lớn trên bé dưới, đầu voi đuôi chuột. Ước mong cái nhỏ nhoi ấy là nhịp thở e ấp, thầm kín, chân thật và có thật. Mỗi cái nhìn riêng tuy nhỏ bé mà sâu sắc cho từng cá nhân. Cọng chung những thể nghiệm ý thức ấy, chúng ta sẽ có một luồng hơi ấm mới, khơi nóng bầu không khí có phần lạnh nhạt vì thời gian và những yếu tố xâm thực từ bên ngoài. Những khẩu hiệu to lớn ồn ào làm điếc tai không ai nghe; những lời sâu sắc từ tốn thì cô đơn, ít ai nghe.

Giữa hai sự thể ấy là những con người sống thực như mỗi chúng ta trực diện những mất mát, những khổ đau cho chính mình, cho gia đình, cho những người chung quanh. Chúng ta không bị xung động bởi bất cứ ngọn gió nào. Chúng ta có những câu hỏi rất người rất đơn giản và giải đáp ngay.
30.4 chấm dứt một sự cố gắng vô song của rất nhiều chiến sĩ trong mục đích tối hậu chận đứng ngày thảm não ấy. Rất tiếc, thiên cơ đã không giúp họ ngăn chận cảnh nước mất nhà tan và giúp chúng ta khỏi gánh chịu những tai ách trong từng hoàn cảnh cá nhân riêng rẻ.

Những hy sinh âm thầm ấy biết kể làm sao cho hết. Nhưng có kể, cũng xin đừng quên những di lụy trực tiếp của sự kiện những người nằm xuống. Đó là những "sư đoàn" cô nhi quả phụ, những thiếu phụ lo cho chồng thương tật, những bà mẹ cưu mang những đứa con trở thành bất túc, những đứa con không cha như nhà không nóc.

Bức tượng Thương Tiếc đã bị đánh ngã ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Đầu ngàn năm mới, Taliban đã phá hủy hai tượng Phật vĩ đại từ thời A Lịch Sơn Đại Đế (Alexandre le Grand). Hành vi ấy chỉ thỏa mãn sự kiêu căng của lãnh tụ Hồi giáo nầy và thiệt hại kỹ nghệ du lịch tại chỗ; nó không suy siển tinh thần tôn giáo của thế giới và của người theo Phật.

Cũng thế, Taliban VN đã phá hủy tượng Thương Tiếc bên xa lộ Biên Hòa; nhưng họ không thể trục hạ sự thương tiếc trong mỗi chúng ta. Bức tượng tâm thức ấy, ít nhất, mỗi năm được đem ra sơn phết một lần vào ngày mất nước. Bức tượng ấy không có quá khứ, không có hiện tại, không có tương lai; bức tượng ấy không riêng gì của người mặc áo trận mà của mọi người. Trong tượng ấy, có người đã chết, có người đang sống và còn sống mãi.-




Thursday, April 22, 2021

tướng lạ, truyện Phạm Lưu Vũ

rước dâu làng quê Quảng Trị 1969


tướng lạ

Phm Lưu Vũ * 2015

Thời Hồng Đức, phủ Thanh Hoa có quan thừa tuyên sứ họ Lê tuổi ngoại tứ tuần, thê thiếp hàng đàn mà tuyệt không người nào chịu sinh cho ngài một mụn con nối dõi. Một hôm buồn tình, ngài bèn tổ chức một cuộc đi săn trong núi, dắt theo đàn thê thiếp có đến mấy chục cô son phấn má đào.

Đoàn người ngựa tiền hô hậu ủng, cung tên, giáo mác bời bời vừa đi vừa ngoạn cảnh, mấy ngày mới lên tới một vùng núi cao, những ngọn núi chập trùng, cây cối rậm rạp phủ một màu xanh biếc. Một hôm, đoàn người ngựa đang đi bỗng nhiên dừng lại, lúc bấy giờ ngài còn đang mải hoan lạc với mấy người thiếp trong kiệu loan, chợt thấy cái nhịp nhịp dập dình đang cộng hưởng với lạc thú bỗng dừng tắp lại bèn vạch màn ra hỏi vì sao. Chúng bẩm trước mặt có một cái hồ lớn như thể vừa thình lình hiện ra chắn mất lối đi. Thấy lạ, ngài bèn chỉnh lại y phục rồi thong thả bước xuống. Quả nhiên là một hồ nước lớn trải rộng vào tít phía những ngọn núi xa xa. Mặt hồ xanh ngắt in rõ bóng mây, những làn hơi nước bảng lảng vật vờ làm cho phong cảnh như đượm màu bồng lai, tiên cảnh. Cao hứng quá, ngài bèn ra lệnh cho quan quân tản vào rừng tha hồ săn bắn, còn ngài lập trại ngay tại đó để cùng các thê thiếp thù tạc vui vầy và thưởng ngoạn cảnh hồ…

Sau chuyến đi ấy, một người thiếp của ngài bỗng nhiên thụ thai. Ngài mừng lắm, cho là vì gặp được cảnh lạ thần tiên nên mới có sự kì diệu tình cờ này. Tai sao ngài lại quả quyết rằng mình đã gặp cảnh lạ thần tiên? Bởi vì sau mấy ngày lập trại bên hồ, trên đường trở về, ngài có sai gọi người địa phương tới hỏi thì tuyệt không ai biết trong vùng lại có cái hồ ấy. Vậy là thần tiên đã có ý giúp cho mình có con nối dõi, ngài bèn quyết định xa lánh hết thảy mọi cô khác, suốt ngày chỉ quấn quýt người thiếp ấy mà thôi. Đủ chín tháng mười ngày, người thiếp quả nhiên sinh hạ một đứa bé trai kháu khỉnh. Ngài mừng lắm, đặt ngay tên con là Lê Cực Kỳ, có ý muốn nói đến chuyến đi săn cực kỳ quái lạ và thú vị của mình.

Nha Trang trước 1975
Lê Cực Kỳ lớn lên trong nhung lụa và sự quan tâm đặc biệt của cha. Đúng ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi, bấy giờ mới xuất hiện một điều… cực kỳ nữa. Số là vào một đêm nọ, đang ngủ say, ngài bỗng giật mình thức giấc, cảm thấy có một luồng ánh sáng xanh lè không biết từ đâu phát ra loang loáng ngoài khe cửa. Nhẹ bước ra khỏi phòng, ngài phát hiện luồng ánh sáng đó xuất phát từ bên trong phòng ngủ của cậu quý tử. Thận trọng mở cửa bước vào, đứa trẻ vẫn ngủ ngon lành trong lòng người vú già. Và thứ ánh sáng đó đúng là từ chỗ nó phát ra. Vừa ngạc nhiên vừa hồi hộp, ngài bước tới bên cạnh, lấy tay lật tấm lụa đắp trên mình thằng bé. Ngài phát hiện thấy phía dưới bụng nó, hình như có dấu một viên ngọc đang phát ra ánh sáng. Tiếp tục vạch bụng thằng bé để xem cho kỹ, bấy giờ ngài mới kinh ngạc thật sự. Cái bìu dái xinh xắn nhỏ xíu của nó, bình thường nhăn nhăn và đỏ hỏn là thế, mà bây giờ bỗng trong veo, nhìn rõ hai hòn dái cũng trong biếc, nom hệt như hai viên ngọc đang chiếu ra những tia sáng lấp lánh, xanh lè…

Quá đỗi ngạc nhiên không thể giải thích, ngài cứ đứng trân trân ngắm mãi cảnh tượng đó. Một, rồi hai canh giờ trôi qua. Tới gần sáng thì ánh sáng xanh đó từ từ yếu dần rồi tắt hẳn. Tới sáng ra thì trở lại bình thường, vẫn là cái bộ phận nhỏ nhắn xinh xinh và đỏ hỏn mọi khi. Ngài bắt đầu theo dõi, những đêm sau cũng có ánh sáng nhưng độ dài cứ giảm dần, vài hôm sau thì hết hẳn. Sau đó khoảng một tháng, hiện tượng đó lại lặp lại y như tháng trước. Không còn nghi ngờ gì nữa, cái chỗ ấy của công tử rõ ràng có tướng lạ kỳ, nó theo tuần trăng mà biến đổi, nhưng đó là quý tướng hay tiện tướng thì ngài không biết, xưa nay ngài chưa hề nghe các sách tướng nói đến bao giờ. Ngài linh cảm đây là việc hệ trọng, liên quan đến dòng giống sau này nên ngài hết sức giữ kín, chỉ vài người tâm phúc biết đến mà thôi.

Trong đám sư gia thân tín của quan thừa tuyên có gã họ Du, vốn xuất thân áo vải lưu manh, nhưng được cái tài cao học rộng vẫn được ngài tin dùng. Biết tâm tư của ngài về chuyện cái tướng lạ ấy của công tử, bèn dốc chí đọc sách, tìm tòi tra cứu, song mãi vẫn không tìm ra điều gì. Một hôm thong thả cưỡi ngựa ra ngoài thành, ghé vào một quán nước chè gọi một bát, vừa uống vừa ngẫm nghĩ. Chợt có một vị sư nón tơi áo lá cũng ghé vào quán. Chủ quán rót ngay một bát nước đưa cho vị sư, tựa như hai người đã quen biết từ trước. Cầm bát nước trong tay song chưa vội uống, vị sư bỗng buột mồm ngâm mấy câu thơ:

“Nhân duyên dựng một góc trời

Non cao, nước biếc là nơi hữu tình

Rõ ràng long mạch rành rành

Đế vương từ chỗ ngọc hành mà ra”.

Đọc xong, vị sư đưa bát nước lên miệng uống một hơi cạn sạch rồi đặt bát xuống, khẽ chào ông chủ quán một tiếng rồi đứng dậy đi thẳng. Sư gia họ Du nghe mấy câu ấy bỗng cảm thấy ngay có gì quái lạ, chưa kịp hỏi thì vị sư đã đi mất rồi, bèn hỏi ông chủ quán:

“Chẳng hay ông có biết vị sư này là ai, ở đâu không?”

Ông chủ quán nước trả lời:

“Dạ bẩm, tôi chỉ biết ông ta tục danh họ Phạm, còn pháp danh là gì thì chẳng ai biết. Ông ta vốn người vùng ngoài, nghe nói gần sáu mươi tuổi mới xuất gia, tình cờ xuất hiện ở vùng này cách đây chưa lâu, hiện tu ở một cái am nhỏ trong núi, thỉnh thoảng có ghé qua đây uống nước, nói đôi ba câu chuyện, vì thế mà tôi biết.”

Sịa, Thừa Thiên
Sư gia họ Du nghe nói thế thì càng lấy làm lạ, bụng cứ ngẫm nghĩ mãi về mấy câu thơ kia. Bỗng như chợt ngộ ra điều gì, bèn đứng phắt dậy, chào ông chủ quán rồi lên ngựa trở vào trong thành. Về đến nơi, ông ta lập tức vào ra mắt quan thừa tuyên ghé tai nói nhỏ:

“Bẩm quan lớn, nô tài đã tìm đọc đủ các loại sách tướng cổ kim, song tuyệt không sách nào nói đến cái tướng lạ ấy. Hôm nay tình cờ gặp một người tu hành, hành tung có vẻ bí ẩn, ông ta tự dưng vô cớ đọc mấy câu như có ý ám chỉ… Biết đâu đây là người ta cần tìm để hỏi cho ra về chuyện cái tướng lạ của công tử…”

Quan thừa tuyên nghe người sư gia của mình đọc lại mấy câu đó cũng cảm thấy nghi ngờ. Thế là chủ tớ bàn nhau sắm sửa lễ vật, bí mật cải trang, lên ngựa ra ngoài thành hướng vào trong núi, tìm đến chỗ vị sư nọ. Rẽ cây vạch cỏ, khúc khuỷu gần nửa ngày trời, hai người mới thấy một am cỏ hiện ra dưới chân một ngọn núi, bên cạnh có một dòng suối nhỏ. Không có tiếng gõ mõ tụng kinh, cũng chẳng có tượng Phật. Trong am cỏ, vị sư già đang ngồi tĩnh tọa, mặt quay vào vách dường như không biết có khách đến sau lưng… Cuối cùng, bằng sự kiên trì của hai con người trần tục kia, cuộc nói chuyện rốt cuộc cũng diễn ra. Quan thừa tuyên kể lại câu chuyện của mình từ lúc đi săn gặp hồ nước, sinh con trai, đến lúc phát hiện tướng lạ của công tử… Nhà tu hành nghe xong nói:

“Vậy thì có lẽ đúng là cái hồ ấy. Vào thời lâu lắm rồi, nó vốn ở tít trong núi sâu, cách biệt hẳn với những bản làng cao nhất nên người thường không ai có thể tới được. Đó là nơi các thiên nữ ở cung trời Dạ Ma thường hay xuống tắm. Các thiên nữ cách ngày tắm một lần, nhưng một ngày đêm trên cung trời Dạ Ma bằng hơn hai trăm năm hạ giới, nên ở hạ giới thì phải hơn bốn trăm năm mới thấy một lần. Cách đây vào khoảng sáu trăm năm, có người họ Cao là thuật sĩ phương Bắc, thấy vùng này núi non hùng vĩ, cho rằng tất sẽ có nhiều long mạch quý bèn tìm đến. Lặn lội khắp vùng hàng năm trời, họ Cao không thấy có long mạch nào đáng kể thì lấy làm lạ. Cuối cùng bắt gặp cái hồ ấy, nom thấy có tiên khí bốc lên rất mạnh thì nghĩ rằng, nếu tạo được nhân duyên, để tục dương kết hợp được với tiên khí ắt sẽ xảy ra nhiều chuyện lạ. Phải cái là hồ nằm giữa một vùng núi non hiểm trở, người thường còn không ai biết đến sự có mặt của nó, nói chi đến chuyện bén mảng đến đó để mà gặp gỡ với tiên khí…

Họ Cao vốn là người rất giỏi thuật phong thủy, có phép hô sấm gọi sét, lại có thuật dời cơ rút đất. Nghĩ tới cả một vùng núi non hùng vĩ hiếm có dưới trời Nam này, mà không có lấy một long mạch đế vương thì cũng uổng phí, nay thử dùng kiến thức phong thủy mà tạo lập cơ trời một phen, biết đâu những đời sau, có kẻ sẽ nhân đó mà chuyển được mạng giời… Bèn làm thuật rút đất, dời cả một vùng dân cư tới gần bên chiếc hồ đó mà không một ai cảm thấy có điều gì khác lạ. Cứ thế đến mấy trăm năm, khi ấy họ Cao từ lâu đã trở thành người thiên cổ, các thiên nữ cung trời Dạ Ma không hề biết hiện đã có nhiều bản làng người phàm trần sống xung quanh hồ nên cứ tự nhiên xuống tắm. Và điều tiên liệu của thuật sĩ họ Cao ngày trước đã xảy ra. Có rất nhiều trai làng vùng ấy đã tình cờ được hưởng những cuộc hoan lạc ái ân tuyệt đỉnh với các nàng thiên nữ.

Sự việc ấy làm kinh động các tầng trời, suốt từ trời Dạ Ma xuống đến trời Tứ thiên vương gồm ba tầng trời. Và đã kinh thiên thì tất nhiên động địa. Các thiên vương tức giận đã gây ra một cuộc động đất, phế bỏ tuyệt tích cái hồ đó. Việc xảy ra đã hơn hai trăm năm nay, vì thế dân ở đó không còn ai biết đến cái hồ ấy nữa. Không hiểu vì nhân duyên gì, mà cho tới tận ngày nay, khi quan thừa tuyên đến, cái hồ ngày trước lại hiện ra?

“Nhưng ngay sau đó, tôi có sai người đến đúng chỗ ấy tìm thì tuyệt không thấy một cái hồ nào cả. – quan thừa tuyên vội nói với vị sư – Đúng là một cái hồ tiên. Chẳng hay câu chuyện tiếp theo thế nào, xin sư phụ kể tiếp cho biết?”

Vũng Tàu xa xưa
Vị sư ngừng lại một lát rồi thong thả kể:

“Các thiên vương chỉ xóa bỏ cái hồ, chứ không trừng phạt những trai tráng kia. Về phần những anh chàng may mắn gặp được cái duyên kỳ ngộ ấy, kể từ đó, trên người anh nào cũng xuất hiện tướng lạ, đúng hệt như của công tử nhà ta, nghĩa là cứ mỗi tháng một lần, hai quả cà nằm trong cái túi da ấy lại biến thành ngọc, phát ra ánh sáng màu xanh, vài ngày thì hết… Chuyện đồn ra đến tận kinh thành. Bấy giờ nước ta vẫn còn nằm dưới quyền cai trị của người phương bắc, quan thái thú lúc ấy là Sĩ Vương thấy việc lạ kỳ thì tỏ ra thích thú lắm, bèn đặt tên vùng đất ấy là Ngọc Cặc.

Tại sao lại có cái tên nửa chữ nửa nôm, lại nửa thanh nửa tục như vậy? Nguyên lúc ấy, quan thái thú ngài mới bắt đầu đem chữ của người Hán sang giáo hóa người phương Nam ta, công cuộc truyền bá mới được non nửa, vậy nên vẫn phải dùng một nửa là tiếng tục của dân địa phương thì mọi người mới hiểu. Quan thái thú ngài còn bảo trước: “Đợi khi nào giáo hóa xong, đời sau tất có kẻ sẽ tìm chữ khác để thay thế cho cái chữ đứng sau kia. Nhưng việc này mà không đặt tên ngay, sợ không ghi nhớ được cái sự kiện không tiền khoáng hậu ấy…”

Câu chuyện của vị sư đến đây làm hai người khách đã sáng tỏ phần nào. Song việc quan trọng nhất là cái tướng lạ ấy, rốt cuộc là quý tướng hay tiện tướng? rằng nó có liên quan gì đến hậu vận? Chừng như biết được những lo lắng sốt ruột ấy trong đầu khách, vị sư thong thả nói tiếp:

“Đó là chỗ sinh ra tinh khí của đàn ông, gọi là huyệt “dương lai âm thụ”, do hình dáng đặc biệt của nó mà mọi khí dương của trời đất được hấp thụ vào đó, tụ lại ở đó để chờ dịp sản sinh ra tinh khí. Hình dạng của mặt đất gọi là “địa cơ”, thì huyệt “dương lai âm thụ” chỉ “kết” trên những long mạch quý, đó là long mạch đế vương. Hình dạng con người gọi là “nhân cơ”, tuy cũng chẳng khác gì địa cơ, song huyệt dương lai âm thụ trên con người chỉ dùng trong việc nam nữ giao hợp, làm cái duyên cho nghiệp dẫn để sinh con đẻ cái thông thường mà khó tác động đến việc chuyển nghiệp đột biến…”

Nói đến đây, vị sư dừng lại một lát như thể cân nhắc điều gì rồi tiếp tục:

“Trường hợp của công tử nhà ta có cái tướng ấy thì cũng giống những trai tráng vùng ấy hơn hai trăm năm về trước. Điều này cực hiếm, sách cổ gọi là “nhân cơ sinh đế huyệt”. Đó là một quý tướng, một “huyệt đạo” đế vương nằm trên cơ thể con người. Tướng ấy không những sinh quý tử, mà còn có thể từ đó sinh ra bậc đế vương…”

Quan thừa tuyên nghe đến đây thì trong lòng bừng bừng cảm động, sung sướng quá không kìm được, buột mồm hỏi ngay:

“Thưa sư phụ, vậy chẳng lẽ… bao nhiêu trai tráng hai trăm năm về trước kia sinh ra… đế vương cả hay sao?”

“Họ tuy tự dưng vớ được tướng quý – vị sư bình tĩnh giải thích – song không phải là tướng bẩm sinh cho nên chỉ sinh ra những hạng trưởng giả mà thôi. Duy trong số đó, nếu có chàng trai nào ngẫu nhiên có sự trùng hợp với tử vi thì cái ngọc hoàn ấy mới đích thị là một huyệt đạo đế vương…”

Kontum
Quan thừa tuyên và người sư gia của mình hết sức hài lòng về chuyến đi. Sau khi tặng lễ vật, hai người chào nhà sư để quay về. Trước khi đi, nhà sư còn căn dặn một điều cuối cùng, rằng cái tướng ấy tuy là đại quý, song vẫn có chỗ độc. Đó là người mang cái tướng ấy và cả những con cháu sau này thường rất ham dâm loạn, nên phải hết sức giữ mình thì “lộc” mới kéo dài được…

Trên đường trở về thành, chủ tớ bàn nhau dấu kín việc này, bởi nếu triều đình biết việc con cháu nhà mình sau này sẽ thành đế vương thì họa ắt tới nơi. Gã sư gia họ Du còn cẩn thận hơn, ấy là không để câu chuyện này qua vị sư kia mà bị lọt ra ngoài. Thế là về đến dinh, quan thừa tuyên lập tức sai dựng một ngôi chùa khang trang ngay trong phủ đệ của mình, đặt tên là chùa Thiên Ứng, mời nhà sư họ Phạm kia về làm trụ trì, vừa lấy tiếng công đức xây chùa độ sư, vừa như giam lỏng nhà sư, không để câu chuyện lọt ra ngoài.

Nói về công tử Lê Cực Kỳ, càng lớn càng tỏ ra là con nhà thế phiệt học hành sáng dạ, đọc đâu thông đấy. Năm hai mươi tuổi lên kinh đô thi. Quan thừa tuyên lúc này tuy đã già, song vẫn định bụng cho chàng kiếm chút khoa cử rồi lấy vợ sinh con quý tử hoặc đế vương cũng chưa lấy gì làm vội. Trên đường trẩy kinh, công tử cùng mấy người theo hầu vào nghỉ đêm ở một ngôi đình của làng nọ. Hôm đó lại đúng vào thời kỳ mà cái ngọc hoàn của chàng nó phát quang. Vào lúc mọi người, kể cả chàng đã ngủ say, thứ ánh sáng xanh kia bỗng phát ra le lói. Thành hoàng làng ấy nom thấy thế thì giật nảy mình, song vốn là một bậc có tâm cơ, ngài nghĩ ngay rằng đất nước hiện đang thái bình, may có được một vị minh quân trị vì. Nay nếu người này sinh con đế vương thì chẳng bao lâu, trăm họ sẽ lại lâm vào cảnh tranh ngôi đoạt vị, loạn lạc dấy lên thì không phải phúc cho dân lành. Âu là ta phế béng cái tướng quý này đi là xong.

Nghĩ thế rồi vị thành hoàng bèn thò tay vào móc hai hòn dái ngọc đang rực sáng của chàng ra mà bỏ vào… nồi đun chừng nửa canh giờ. Khi lấy ra khỏi nồi thì cái ánh sáng xanh kia giờ đã tắt lịm. Ngài lại bỏ hai hòn dái vào vị trí cũ rồi dùng tay thoa thoa, miệng hà thần khí, giây lát cái chỗ đó trở lại đen ngòm như bình thường mà chàng cũng không hề cảm thấy gì.

Khoa thi ấy chàng trượt ngay từ vòng sơ khảo. Chẳng hiểu sao kinh sử rơi đâu mất sạch. Quan thừa tuyên chưa kịp buồn vì chuyện đó thì bỗng phát hiện cái tướng đại quý kia của chàng cũng tự dưng biến mất, chờ mấy tháng tuyệt chẳng thấy tăm hơi gì, công tử hiện nguyên hình là một chàng trai ngốc nghếch, tầm thường như bao chàng trai cùng lứa tuổi. Chẳng lẽ nhà sư kia nói sai? Quan thừa tuyên bèn tức tốc sang chùa gặp nhà sư kể lại chuyện ấy. Nhà sư nghe thấy cũng hơi ngẩn ra một lát rồi bảo:

“Chẳng lẽ lại có chuyện đó… Quan lớn có thể gọi công tử sang đây cho tôi hỏi kỹ lại có được không?”

Lê Cực Kỳ lập tức được gọi tới trước mặt nhà sư và quan thừa tuyên. Nhà sư hỏi:

“Chẳng hay trên đường đi, công tử ngủ qua đêm ở những đâu?”

Lê Cực Kỳ cứ theo hành trình mà kể lại cho nhà sư nghe. Đến chỗ ngủ qua đêm ở một ngôi đình làng nọ, nhà sư bỗng ngắt lời:

“Công tử có nhớ tên cái làng có ngôi đình ấy không?”

“Bạch sư phụ, làng ấy có tên là Cung Hỉ…”

“Thôi phải rồi – vị sư ngắt lời chàng rồi quay sang phía quan thừa tuyên – Bẩm quan lớn, làng ấy bần tăng cũng đã từng qua. Nó vốn có tên là Cung Thỉ, chỉ vì ngày trước, trong làng có người đỗ đạt, thấy chữ “Thỉ” xấu, mới thay bằng chữ “Hỉ”. Thành hoàng làng ấy vốn xuất thân làm nghề hoạn lợn. Đó là một làng chuyên nghề thiến hoạn súc vật. Ngày trước, bần tăng đã dặn quan lớn về chuyện dâm loạn, song quên dặn rằng cái tướng ngọc hoàn này rất kỵ gần những người làm nghề thiến hoạn. Nếu không bị nó triệt mất tướng quý thì cũng dễ gặp tai họa, nửa chừng đứt gánh… Âu cũng là mệnh trời…”

Thế là tan giấc mộng đế vương. Quan thừa tuyên buồn bã, thở dài ngao ngán. Song ngài bỗng dừng phắt lại chú ý vì nhà sư đã tiếp tục cất tiếng:

“Nhưng quan lớn cũng chớ có buồn vội. Kẻ chuyên nghề thiến hoạn kia tuy triệt được cái tướng hiển lộ ra trong một đời, song không thể triệt được gốc “căn” của nó. Đời này, công tử tuy không sinh được quý tử nữa, song trải những đời sau, khi nào hội đủ duyên, cái tướng quý ấy sẽ lại hiển lộ. Dòng dõi quan lớn sau này tất có đời sẽ làm đến đế vương. Chỉ cần quan lớn ghi rõ trong gia phả, dặn con cháu đời sau rằng bất luận thế nào, thì cũng phải tránh xa những người từng làm nghề thiến hoạn, tuyệt đối không kết bạn, giao du hay cùng cộng tác…”

nước mắm tỉn, Phan Thiết
Câu chuyện về cái tướng đại quý của Lê Cực Kỳ xin kết thúc tại đây. Quả có một lời chúc lụy rằng con cháu sau này phải tránh xa những người từng làm nghề thiến hoạn trong gia phả nhà họ Lê. Đó là một lời chúc lụy kỳ lạ và bí ẩn nhất trong những bản gia phả mà người viết đã từng xem qua. Chừng sáu mươi năm sau, khi tất cả những nhân vật trên đây đều đã trở thành người thiên cổ, bấy giờ vào đời Uy Mục Đế thì phải. Một hôm có viên quan thái bốc dâng sớ bạch rằng:

“Thần trộm nghĩ bảo vệ cái uy của mình thì không tiếc hình phạt, tiêu diệt kẻ khinh lờn. Lo cho cái ngôi của mình thì phải đề phòng có kẻ tranh cạnh… Nay xứ Thanh Hoa vượng khí chói lọi, tất có long mạch đế vương ở đó. Xưa vua Trần đã từng nghe lời thầy địa lý bên Tàu mà đào sông nhằm phế bỏ long mạch của tiên tổ ta (trỏ Lê Lợi), việc không thành là do mắc mưu gian của bọn người phương bắc. Tiên tổ ta mới nhân đó mà nổi lên. Việc trước tuy như thế, song ngẫm lại, vẫn có chỗ phải theo, huống chi nay ta có Tả Ao là một người tài giỏi việc phong thủy, lại là một bậc trung thần. Dám xin bệ hạ xuống chiếu sai Tả Ao đi phá long mạch xứ ấy, để phòng có kẻ tiếm vị sau này thì cơ nghiệp của tiên đế để lại sẽ mãi mãi vững bền. Thần tin rằng với kiến thức và lòng trung của mình, Tả Ao tất sẽ vì bệ hạ mà không lặp lại cái sai lầm của vua Trần ngày trước…”

Uy Mục Đế xem sớ bỗng rùng mình rợn gáy, lập tức xuống chiếu, cấp cho Tả Ao mười vạn quan tiền, phong làm khâm sai trạch địa, sai ngày đêm đi gấp vào xứ Thanh, tìm bằng được long mạch để phá cho tiệt những mầm mống đế vương nếu có.

Tả Ao tiên sinh là một bậc thần cơ diệu toán. Kiến thức phong thủy của ngài ở nước Nam thì cổ kim chưa ai có thể so sánh. Có lẽ cũng chẳng kém thuật sĩ họ Cao người phương bắc ngày trước. Nhận chiếu chỉ, ngài chỉ mang theo một chú tiểu đồng cắp tráp theo hầu rồi theo đường trạm đi gấp vào Thanh Hoa.

Lại suốt nửa năm trời trèo đèo, lội suối khắp các vùng núi non Thanh Hoa, cũng giống như thuật sĩ họ Cao ngày trước, thầy trò Tả Ao cũng không phát hiện được một long mạch nào đáng kể. Trong khi cái vượng khí đế vương kia thì cứ xông lên bời bời như trêu ngươi. Chẳng lẽ kiến thức phong thủy của mình còn có chỗ khiếm khuyết? Tả Ao tiên sinh băn khoăn trăn trở. Không có lẽ như thế. Bởi phong thủy dẫu có trầm (lặn), có phù (nổi), song nó là “ngôn ngữ” của cái khí ngũ hành vốn là nguồn năng lượng bất tận tạo nên mọi sự sinh, diệt trên thế gian này. Tuy không thể “bắt” được nó, song nó luôn thể hiện thông qua sự uốn lượn của địa hình, có khi nổi lên thành gò đống, có khi thụt xuống thành vực sâu… Người biết thuật phong thủy thì chỉ cần nhìn cây cỏ cũng biết bên dưới đang ẩn chứa điều gì… Một hôm đang trên đường tìm kiếm, thầy trò bắt gặp một ngôi chùa, ngẩng nhìn thấy ba chữ: “Thiên Ứng Tự”. Bỗng nghe bên trong có tiếng người ngâm nga mấy câu sau:

“Chặn dòng đóng cọc yểm bùa

Đem ba việc ấy ra đùa thế gian

Cơ trời khi hợp khi tan

Biết đâu ẩn dưới một màn nhung y”

Tảo Ao tiên sinh nghe lấy làm quái lạ, mấy câu đó nghe như muốn ám chỉ đến việc trấn yểm long mạch mà mình đang theo đuổi. Nếu vậy thì trong chùa ắt có kỳ nhân. Lúc ấy trời cũng gần tối, bèn gõ cửa chùa xin vào ngủ qua đêm.

Vị sư trụ trì ngôi chùa ấy là người cũng đã có tuổi, chính là người vừa ngâm mấy câu đó. Nom tướng mạo Tả Ao tiên sinh thì biết ngay không phải người tầm thường, bèn mời vào phương trượng pha trà tiếp đãi, hầu chuyện rất mực cung kính. Tả Ao tiên sinh lòng đang nóng như lửa đốt, bèn hỏi ngay:

“Chẳng hay mấy câu mà hòa thượng vừa ngâm là có ý gì chăng?”

Vị sư dường như cũng biết tâm trạng của khách nên trả lời ngay:

“Đó là mấy câu kệ của sư phụ tôi truyền lại ngày trước. Trước khi viên tịch, sư phụ tôi có dặn rằng có khi nào thấy ngài dừng chân trước cổng chùa thì đọc cho ngài nghe…”

Tả Ao tiên sinh nghe thấy thế thì càng giật nảy mình. Không ngờ nơi đây có bậc chân tu đắc đạo, đã biết trước cả việc mình sẽ dừng chân trước cổng chùa này. Bèn hấp tấp hỏi dồn:

“Sư phụ của ngài là ai, tại sao Ngài biết tôi sẽ tới đây? Ngài có dặn gì nữa không…”

Vị hòa thượng trụ trì – chính là đệ tử truyền thừa của nhà sư họ Phạm ngày trước thong thả kể lại toàn bộ câu chuyện của quan thừa tuyên sứ và công tử Lê Cực Kỳ ngày trước cho Tả Ao tiên sinh nghe rồi nói:

“Sự phụ tôi, Ngài có bảo rằng trong tam tài, thiên cơ, địa cơ và nhân cơ, thì phong thủy xứ này thịnh về nhân cơ. Luận về thiên, địa, thì sở học của quan Khâm sai có thể nói đã đạt tới bậc tuyệt kỹ rồi. Song về nhân cơ thì ngài còn có chỗ chưa chú ý lắm.”

“Hèn nào mà tôi lặn lội suốt từ đó đến nay, không tìm ra một long mạch nào đáng kể, trong khi đó cái vượng khí thỉnh thoảng cứ xông lên ngùn ngụt. Té ra đế huyệt nó “kết” trên thân người. Vậy chẳng hay Ngài có truyền bảo cách để trấn yểm cái nhân cơ ấy hay không?” – Tả Ao tiên sinh hỏi.

Vị hòa thượng lắc đầu:

“Thiên cơ và địa cơ là do nghiệp chung của cả một cộng đồng kết lại nên có thể dùng lòng người mà cảm hóa, hoặc dùng bùa ngải, dùng sức người lấp dòng, đóng cọc… để trấn. Song nhân cơ vì nó kết theo nghiệp riêng của từng người nên không có cách gì trừ cho tiệt nọc, chẳng qua chỉ làm cho nó lặn đi vài ba đời, rồi nó sẽ lại hiển lộ ở một đời nào đó…”

“Một vài đời cũng được – Tả Ao tiên sinh mừng rỡ ngắt lời – chẳng dấu gì hòa thượng, tôi nhận chiếu chỉ của đương kim hoàng thượng, nếu không nhất thời trừ được cái vượng khí này thì có lẽ mất đầu… Vậy phải làm thế nào xin hòa thượng ra ân chỉ bảo cho biết.”

Đập Đá
Vị hòa thượng tủm tỉm nói:“Thì… cứ theo cách của thành hoàng làng Cung Hỉ ngày trước ấy mà làm. Nhưng tôi chắc rằng ngài cũng không phải lo đến điều đó đâu.”


Câu nói của vị hòa thượng hình như còn ẩn giấu một điều gì. Song Tả Ao tiên sinh lúc ấy thì như người đã vén được đám mây mờ. Bụng nghĩ dẫu có phải hoạn hết dái của trai tráng xứ này, để trừ cho được cái mầm mống đế vương, thì một ông vua như Uy Mục Đế cũng sẵn sàng dám làm. Âu là ta cứ về tâu lại rồi tùy ý nhà vua định đoạt.

Quả nhiên Tả Ao tiên sinh cũng chẳng phải lo đến điều đó nữa. Bởi khi ngài vừa về tới kinh thành, chưa kịp viết xong bản tấu phúc trình về chuyến đi thì Uy Mục Đế Lê Tuấn đã bị Giản Tu Công Danh (Lê Tương Dực sau này) nổi lên lật đổ và ép phải tự sát. Việc trấn áp vượng khí xứ Thanh Hoa thế là được xếp lại.

Xứ Thanh Hoa không bị trấn áp vượng khí nữa. Và nơi đó tuy không có long mạch, song do cái sự kỳ duyên tục dương tiên khí từ thuở xa xưa ấy mà đã tạo ra cả một vùng nhân cơ kỳ bí. Đó vẫn là nơi đã từng sinh ra nhiều bậc đế vương, trưởng giả… Truyền mãi cho đến tận ngày nay, vẫn nổi tiếng là nơi phát tích của nhiều hạng đế vương. Và đặc biệt, các loại trưởng giả thì đời nào cũng nhiều không kể xiết.

Về phần Tả Ao tiên sinh, ông buồn vì tưởng mình đã học hết cái chỗ tinh diệu của thuật phong thủy, vậy mà té ra chỉ biết có thiên cơ, địa cơ, còn cái nhân cơ kia thì không hề biết đến. Sau chuyện đó, ông hầu như không màng gì đến phong thủy nữa. Và đó hình như cũng là nguyên do, khiến ông không truyền lại sở học của mình cho bất kỳ ai, khiến cho thiên hạ từ đó đến nay vẫn không hết ngạc nhiên, cứ đoán già đoán non, lại còn đưa ra hết giả thuyết này đến giả thuyết nọ. (FB Phạm Lưu Vũ )

====================================================

Xe đò Saigon Mỹ Tho
===================================