add this

Monday, March 14, 2022

phía dưới Ukraine



tranh vẽ trang trại Ukraine

xì cơ đè lên bảy bích

Tôn Thất Tuệ

Có người đã thua tiền đánh xì tẩy một cách rất vô duyên. Chia bài thì ông luôn có trên mặt con to nhất, nên ông phải đi tiền trước. Tuy rất ít, ông bấm bụng phải làm chứ không thể bỏ bài ngay. Vì sao? mặt xì đẹp thế nhưng ôm con bảy, mà đã có con bảy khác trên chiếu bạc, khó lòng có đôi bảy hay ba con hay mồn xẩu. Chiến tranh Ukraine có thể như thế nầy không?

Rất thường, các cuốn sách để riêng một trang sau trang bìa chỉ viết một câu hay một phần câu. Terre des Hommes của Saint Exupéry chỉ có hai chữ Mozart assassiné (Mozart bị ám sát, ý nói bao trẻ là thần dồng nhưng chết sớm vì khổ cực v.v….) de Gaulles, Mémoires de Guerre thì có France n’est pas France sans grandeurs. Pháp nếu không có các điều vĩ đại thì vãi đị. “Bồ Tát” Gọt Ba Sép thì viết: Politique est science de possibilités. Chính trị là khoa học các khả thể.

Trực nhớ câu nói nầy nó không thuộc phạm vi luân lý (amoral) nhưng là bí quyết của chính trị gia và của các nhà bình loạn…

Một trong những điều làm cho mình không thấy những possibilité là không nhận thực trạng trên sân khấu. “Hiện tượng” công voa 60 km (40 miles) Nga đang dừng chân vì lốp “made in China” mền không đáng làm dép râu. Ai cũng nghĩ 40 miles nầy giống như con đường hai lane nay thành một chiều, xe hơi ùn cục nối đít nhau. 40 mile e bằng từ Huế ra tới Phong Điển hay Thừa Lưu. Chiếc xe to xe nhỏ chia đều là 15 m thì 60 km x 1000 : 15 = 4.000 chiếc xe thùng container.  Sự thật thì chiếc xe đầu cách chiếc xe cuối 40 miles. Video cho thấy các xe cách nhau như mình thấy ở đường quê, đôi khi có ba chiếc chụm vào nhau.

Bài học chiến thuật sơ đẳng là phân tán mỏng để tránh pháo kích hay không tập ai cũng học được. U không điên gì bắn một chiếc xe để có thể bị bắn lại mất một chiến đấu cơ. Washington Post nói rằng lính Nga để xe đó và vô trong rừng bên cạnh nghỉ để tránh bị bom, các nhà phân tích cho là hèn nhưng nếu bạn chính là tài xế hay cấp chỉ huy bạn sẽ làm như vậy. Tờ báo hy vọng dân quân U khôn khéo sẽ tìm cách đốt các xe bồn để các xe khác không có xăng chạy.

Vì sao các nhà quân sự không nghĩ đó chỉ là những chiếc xe rỗng mà Putin hư trương, nhữ phi cơ Ukraine ra đánh để bị hạ, hoặc hư trương về tâm lý chiến. Hoặc Nga giả vờ bị ngưng đọng để phe kia khinh địch?

Nhưng có điều làm Bộ Quốc Phòng Mỹ cho rằng Putin đã đánh hết tẩy, Putin đã đem gần 100% quân lực vào canh bài Ukraine. Có nghĩa là dù 40 miles xe nối đít thì Nga cũng chỉ có chừng ấy mà thôi. Tuần trước Bộ QP nói 92 % sau đó đã tăng lên, hầu như 100%, nghĩa là có discount như tiệm Mỹ nào cũng nói: You pay less. Lối lượng định màu hồng nầy đã đưa Mỹ đến những ô nhục như VN và Afghanistan cũng như Westmoreland nói dối với dân chúng Mỹ, cũng như nói dối về nữ chiến binh Jessica Lynch trong chiến tranh Iraq của Bush.

Chuyện nhỏ làm cả thế giới rùm ben, hoa hậu Ukraine đã về nước ôm súng bắn. Cô có ôm súng, nhưng là súng gió “airgun” trong trò chơi đang thịnh hành.

Thế gới đã vui mừng khi Liên Hiệp Âu Châu đã không coi trọng sự ù lí của Mỹ bằng cách lên tiếng phản đối Putin và nhất là hứa cấp máy bay chiến đấu, cung cấp tiền mua. Nhưng thực tiển là các nước hiện có máy bay mà người U có sử dụng ngay, các chiến đấu cơ cũ của Nga như Mig 29. HK nói sẽ đưa oanh tạc cơ đến Ba Lan để Ba Lan chuyển cho Ukraine; nhưng dễ gì lái chiến đấu cơ, bạn ít nhất mất vài ngày mới lái chiếc xe hơi nhỏ. Lái trực thăng cũng không dễ gì.

Rằng hay thì thật là hay, nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.

Thế lào là thế lào. Trong các nước cũ thuộc Nga hay trong minh ước Varsovie Đông Âu, Ba Lan là to tiếng nhất (the most vocal protester), ý kiến của giáo hội TCG Ba Lan làm người ta hỏi vì sao Giáo Hoàng Francis không mạnh tiếng, vì sao Ngài bỏ thông lệ mà đích thân đến Tòa Đại Sứ Nga chỉ nói trực tiếp vào tai nhà ngoại giao, không ai nghe gì hơn.

Quyết định mới nhất của Ba Lan đã phơi bày mặt trái của chiến dịch bảo vệ U trước hung thần Putin. Một tờ báo Mỹ tuần trước bị độc giả phản đối quyết liệt khi nói việc viện trợ máy bay cho U đã không thể thực hiện từ đầu. Độc giả phản đối là đúng. Máy bay ở Ba Lan thì dân Ba lan và dân U tỵ nạn đẩy đến biên giới Ukraine như xe hư tắt máy hành khách xe than đẩy lên dốc. M29 của Ba Lan lái có khó gì, người U chỉ có mở chìa khóa.

Nhưng đó không phải là một khả thể (possibility) trong sách Gorbachev. Máy bay là một chuyện, đạn mô mà bắn, đạn phải đúng là loại dành cho M29 chứ không phải là đạn làm trong hợp tác xã BV, không dễ như lấy ống tre lên Núi Ba Vì đâm xuống đất dầu phụt lên.

Tuy vậy, chỗ nầy không đáng nói. Ba Lan đã chính thức nói Ba lan sẽ giao những chiến đấu cơ Mig29 trước đây Nga viện trợ trong minh ước Varsovie, đưa cho Mỹ rồi Mỹ chuyển cho Ukraine. Nếu các máy bay do Mỹ làm như Sky Raider, Phantom v…còn hiểu được. Ba Lan nói các phi cơ nầy sẽ chuyển đến Đức ở các phi trường thuộc NATO để Mỹ chuyển cho U bằng phương thức riêng như tự đem đến U hay phi công U sẽ đến lấy mà xài.

NATO đã từ chối thiết lập trên không phận U một vùng gọi là “No fly zone” như NATO đã làm ở Kosovo tránh diệt chủng bằng phi cơ của Serbie, ngõ hầu Nga không oanh kích khu thường dân. Lý do viện dẫn tránh đương đầu trực tiếp với Nga. Cho nên phi trường NATO ở Đức dương nhiên sẽ không tiếp vận như Ba Lan yêu cầu. Slovakia cũng có vài chiếc Mig 29 muốn biếu nhưng không biết biếu cách nào.

Ba Lan làm như vậy sau khi Putin lưu ý các nước chung quanh nếu để cho máy bay U sử dụng các phi trường thì các nơi nầy Nga sẽ oanh kích và xem nước sở tại tham chiến.

Đoàn xe 40 miles của Putin chỉ để hăm dọa đánh chiếm thủ đô. Ít ai để ý đến hải quân Nga phía Nam đóng ở bán đảo Crimea. Nếu chiến tranh mở rộng Nga sẽ dùng hỏa tiển từ các tàu ngầm ở Hắc Hải. Các vị trí có chiến tranh quá xa nhau, cho nên lực lương dân quân khó phối hợp nhưng Nga cũng phải để quân tại chỗ, lực lượng di động thủy bộ sẽ đảm nhận giai đoạn cuối thắng thua.

Về chính trị, Putin đã được thỏa mãn trong ba đòi hỏi. TT U tuyên bố ông đã bỏ ý định xin nhập NATO và Liện Hiệp Âu Châu; ông sẽ mềm dẻo đối với hai tiểu quốc vừa ly khai, ông chỉ chú tâm đòi hỏi người Ukraine trong hai vùng nầy được tự do sinh sống không bị thanh trừng.

Nếu Putin ra khỏi cơn nguy nầy, chẳng phải vì giỏi, chỉ vì những người bảo vệ NATO và Liên Hiệp Âu Châu khinh địch. Putin đã công khai nói những điều nầy. Từ tầm nhìn của Putin thì Putin đi theo lối xưa: tiên vi lễ hậu vi binh. Putin cho đó là một credit.

Putin đã nắm được nắm ruột của Âu Châu và Mỹ là năng lượng. Shell của Anh đã mua dầu Nga, Đức không chịu từ chối mua dầu và khí dốt của Nga, Mỹ đã mua dáng tiếp qua Venezuela.

Mỹ đã công khai chấm dứt mua dầu của Nga nhưng đưa ra quyết định nầy sau khi TT U nhượng bộ về NATO và Âu Châu cùng hai tiểu quốc ly khai, một khi tạm xong thì Mỹ mua dầu trở lại.

Khối Opec đã gián tiếp ủng hộ Nga trước việc Mỹ không mua xăng bằng cách nói rằng chúng tôi không thể bù đắp vào số lượng dầu Nga sản xuất mỗi ngày.

Putin đã ngăn chận phong trào phản chiến như ở Mỹ đối với VN. Tuy nhiên người Nga khác với người Mỹ họ còn nhớ đến một nước Nga to lớn, họ như người Đức xưa đã ủng hộ Hitler. Nga đã quen với chế độ cường quyền và giáo quyền. Bên ngoài không còn một thế lực nào làm cho Putin lo sợ. Mỹ là con gà chết. Bắc Kinh mong chờ kết quả tốt ở Ukraine cho Putin để còn hăm dọa Đài Loan.

Có tay đánh xì, trên mặt một xì ẳm một xì, lại có thằng kia trưng ba xì trên mặt, thì tráo bài thấy rõ là năm xì. Nhưng anh ta chịu thua, không cho ai biết trò gian lận nầy, để mọi người thấy sòng bài không gian lận. Mục đích gì? Trong sự trong sạch giả tạo nầy, anh ta sẽ trổ tài bịp còn nghề hơn lão ba xì kia. Thế giới của chúng ta không khác gì.

Nếu chẳng may Ukraine không thể đương đầu với thực tế bạn thù không rõ rệt, mồm mép và thực tế khác nhau, Ukraine chẳng khác tay đánh xì mặt ôm con xì cơ đỏ tươi mà bên dưới con bích đen như dao đâm và tim. Thời lai đồ điếu thành công dị. Bọn du côn lãnh đạo. Thế giới vẫn cho Nga thuộc chế độ ăn cướp (kleptocracy) mà có riêng gì nước Nga.



 

 


Sunday, March 13, 2022

Ukraine mon amour

     tranh Gustav Klimt 

Ukraine mon Amour

Annick Elle

Le lys dans la vallée était fané depuis longtemps

Les prés avaient été rasés comme arrachés par la force du vent

Et ils étaient là à se regarder

Comme s'ils ne s'étaient jamais vus

Le soleil ne brillait que dans leurs yeux émerveillés

Les nuages tombaient en coton là où ils n'auraient jamais dû.

C'est alors qu'un bruit de tonnerre se fit entendre

Ils n'eurent même pas le temps de chercher à comprendre

On ne retrouva d'eux que deux corps étendus

Les mains jointes comme pour une dernière prière

Ils ne savaient pas qu'au loin grondait la guerre.

ææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææ

Love for Ukraina

Annick Elle, translated by TTT

Down in the valley, the lilies’ve been wilting already.

The fields’ve been snatched by powerful winds.

They were staying there, looking at each other, as if had never met.

The sun shined only through their enraptured eyes

Clouds in battered patches hit unknown horizons.

It was then when a thunderclap erupt’d.

No time for them to know what

Before two corps were found side by side

With two pairs of joint hands as if in their last prayer.

The new friends didn’t cotton on that the roaring war

Was approaching from a distance far.

ææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææ

Ukraine đau thương

Anneck Elle, TTT dịch

Nơi thung lũng kia, huệ trắng đã úa héo từ lâu

gió càng quét gần như trơ những canh đồng

Hai kẻ đứng nhìn nhau, như chưa bao giờ thấy nhau.

Ánh sáng yếu chiếu vào đôi mắt ngỡ ngàng của đôi lứa.

Mây rã rời buông xuống những chân trời lạ.

Bỗng một tiếng sét đánh vỡ trời

Đôi bạn chưa kịp biết gì

Đã thành hai xác chết bên nhau

Hai đôi tay chắp lại như đang cầu nguyện lần cuối

Đôi bạn nào hay chiến tranh gầm gừ từ xa

đang đến gần.

ææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææææ

Quốc Ca Ukraine

 

Saturday, March 12, 2022

Lập luận của Putin

một nhà thờ Orthodox ở Kyiv






Logique của Putin * Orthodox Church

Tôn Thất Tuệ

(lịch sử hai giáo hội TCG và tìm hiểu Putin)

‘Tây phương’ trong tiếng mình không mang tính chất địa dư mà thuần dịch chữ Occidental / Western; chữ nầy có thể từ danh từ đế quốc miền tây của La Mã, tuy danh hiệu chính thức của đế quốc nầy là Empire Romain / Roman Empire dù đã chia làm hai mà sử ký gọi là Eastern Roman Empire và Western Roman Empire. Tuy không hẳn là nguyên nhân và kết quả, sự phân đôi nầy là một cơ duyên để hình thành hai giáo hội TCG như sừng với đuôi. Hai phần đế quốc không đánh nhau mà đi theo đường lối riêng.

Hôm nay chúng tôi nghĩ tới chuyện nầy vì một khía cạnh bên dưới của chiến tranh Ukraine là ảnh hưởng của Eastern Orthodox Church.

Đế Quốc La Mã đã thành quá rộng: từ Ý xuống đến Lưỡng Hà Địa (Irak) lên đến quần đảo Anh, trùm khắp Âu Châu qua đến Tiểu Á (Asie Mineure) gần Ba Tư. Như vậy khó mà cai trị. Do đó, cuối thế kỷ thứ 3 (sau JC) hoàng đế Diocletian mời một võ quan thân thiết lên cùng làm vua; không xập xị xập ngầu như nhị vị chủ tịch Thiệu Kỳ mà chia đôi đế quốc gồm hai miền Đông Tây. Miền Đông đóng đô ở Byzantine, bây giờ là Istanbul, ngó qua Ukraine và Crimea xuyên Hắc Hải; Miền Tây đóng đô ở Milan (hành chánh) và Rome (nghi lễ). Miền Đông đã bắt đầu tách khỏi văn minh La Tinh để theo đường Hy Lạp.

Hơn một thế kỷ sau, Constantine, một vương bá, đánh chiếm hết và thống nhất đế quốc, đóng đô ở Byzantine, đổi theo tên mình là Constantinople. Cháu nội là Theodosius chia hai đế quốc cho hai đứa con. Constantine khai mở sự phát triển TCG, trả lại tài sản, hủy bỏ việc cấm đạo nhưng Theodosius mới chính thức công nhận TCG là quốc giáo, cấm các tín ngưỡng khác, ông cho phá bỏ mọi dấu tích sùng bái, kể cả văn hóa Hy Lạp, cấm Olympic. Nhiều sử gia cho rằng chính sách tôn giao nầy là một trong những yếu tố chính đưa đến sự hủy diệt đế quốc La Mã.

Thánh ảnh (icon) Orthodox có nét vẽ riêng
Sau khi Jesus chết, nhiều giáo phái hình thành nhưng thành công chỉ có giáo đoàn Orthodox (chính thống giáo) và Christianisme do Saint Paul sau thành Catholic Church – Eglise Catholique. Ngành Orthodox truyền đạo theo hướng Hy Lạp đến vùng Đông Âu bây giờ, ngành của Saint Paul hướng về phía Ý. Hai hướng nầy đã khác nhau ngay từ đầu. Orthodox dùng tiếng Hy Lạp, thánh kinh Hy Lạp, thánh lễ Hy Lạp; ngành của Saint Paul (sau gọi là Vatican cho dễ hiểu) theo văn minh La Tinh. Nếu Vatican trụ vào Ý tại Vatican City thì ngành Orthodox trụ tại Byzantine, hai nơi đều là thủ đô.

Theo hiến pháp bất thành văn, vua La Mã là giáo lãnh tối cao của mọi tín ngưởng (pontifex maximus). Do đó, năm 325, Constantine ra lệnh mở hội nghị giáo sự thống nhất thần học, bỏ quan điểm nầy, lấy quan điểm kia. Đã bỏ những quan điểm tương cận với Đông Phương. Nghiêm Xuân Hồng trong lời tựa Trang Tôn Nghiêm Huyền Học nói rằng TCG nguyên thủy có những vấn đề như tiền kiếp, nghiệp lực. Được biết nhiều nhất là thần học của Arius bị kết án. Arius chủ trương Thượng Đế là duy nhất, Jesus không được xếp cùng bản thể tuy gọi là Chúa Con.

Thần học của Arius được truyền bá sâu rộng trong vùng ảnh hưởng của Orthodox. Nay Vatican muốn diệt trừ đã gây xung đột ngấm ngầm. Hai khối lượng cùng tôn thờ Jesus có rất nhiều khác biệt từ những vấn đề thần học cho đến thực tế như cách làm bánh thánh; bột mì có thêm bột nổi lên men hay không; chuyện bột mì còn gay cấn hơn là bản chất của ba ngôi. (Sực nhớ các nhóm Tin Lành đã gây chiến tranh vì chuyện mục sư nên mặc áo quần giản dị hay màu mè, áo mão thùng thềnh; gọi chiến tranh áo quần, vestment war).

Vatican dùng nhiều tương, ít dùng thánh ảnh 
Constantine là một nhà chính trị, ông không muốn đế quốc bị xáo trộn bởi bất cứ lý nào, ông không cần biết nội dung thần học miễn là cho yên, chính ông không phải là con chiên cho đến lúc gần chết. Nhưng khi ông dời đô qua phía đông thì giáo hoàng ở Vatican từ từ củng cố địa vị “pontifex”.

Miền Đông tương đối ổn định và thịnh vượng nhưng Miền Tây ngày một thoái hóa, cuối cùng năm 476 vua Đức đã hạ bệ hoàng đế La Mã. Vatican không còn nằm dưới sư điều khiển của giáo lãnh tối cao. Miền Tây thành nơi dụng võ của những sắc tộc gọi là man di (như người Tàu gọi các dân thiều số); mạnh nhất là tập thể Frank đã tạo ra anh hùng Charlemagne. Năm 800, Giáo hoàng Leo III tuyên bố Charlemagne là hoàng đế của Đế Quốc La Mã; tuy cùng tên cũ đế quốc nầy hiểu là một đế quốc trực hệ từ Jesus và Charlemagne nhận trọng trách bảo vệ TCG, đứng đầu một đế quốc TCG.

Đây là khởi điểm quyền hạn của giáo hoàng như chứng giám việc lên ngôi của các vị vua Âu Châu. Về mặt tôn giáo Vatican tiếp tục bất hòa với giáo hội Orthodocx, đã đóng cửa các giáo xứ dùng tiếng Hy Lạp trong thánh lễ. Tuy vậy, các nhóm Orthodox ở nhiều nơi khác nhau vẫn liên lạc với Vatican cho đến cuộc đoạn tuyệt 1054; cuộc tách biệt nầy không những chỉ ở trong phạm vi tôn giáo, mà là một sự đoạn tuyệt về chính trị, văn hóa và xã hội.

Năm 1054, giáo hoàng cử phái bộ đến Constantinople, giải nhiệm chức tăng thống Orthodox Church của Ceralurius, đòi giáo hội Orthodox công nhận giáo hoàng của Catholic Church là người có thẩm quyền duy nhất của đạo TC, công nhận Vatican City là kinh đô của Thượng Đế. Phái đoàn dùng những lý do thời cuộc yêu cầu hoàng đế La Mã ủng hộ các biện pháp nầy, nhất là triệt hạ nhóm phản đối việc dùng bột mì không lên men làm bánh thánh. Lẽ nào vua La Mã lại chống lại gà nhà, dĩ nhiên tăng thống Cerularius không chấp thuận mọi đề nghị. Hồng y Humbert liền dứt phép thông công Cerularius. Cerularius cũng làm giống vậy, dứt phép thông công hồng y Humbert.

Cái nhân gieo năm này 1054 cần 399 năm mới có kết quả là sự chấm dứt đế quốc miền Đông và giáo hội chính thống. 400 trăm năm không dùng lý thuyết mà dùng đao thương vũ khí. 50 năm sau ngày nầy, bắt đầu cuộc thánh chiến thứ nhất do Vatican chủ xướng đi lấy lại Jerusalem trong tay người Muslim. Đoàn quân Thánh đã thực tập trên đường đi bằng cách xơi tái người Do Thái và giáo dân Orthodox.

thánh chiến
Miền Đông nhờ an bình đã phát triển, thủ đô Constantinople là thị trấn lớn nhất Âu Châu thế kỷ 12, sự phát triển nầy cũng có nghĩa là sự lớn mạnh của Orthodox Church. Chí nguyện quân thánh chiến thứ 4, đầu thế kỷ 13 (1204) không tới Jerusalem mà trực chỉ Constantinople, đốt phá, tạo nên hổn loạn, phân chia lãnh thổ cho từng nhóm tranh hùng. 50 năm sau, Miền Đông mới phục hồi, thống nhất lại nhưng không thể bằng như xưa; đế quốc như mở cửa chờ đón xâm thực của người Muslim, đất mất dần cho đến ngày cuối cùng Constantinople bị bao vây và đầu hàng. Từ đó đế quốc Ottoman trở nên một thực thể chính trị-tôn giáo. Giáo dân Orthodox không bị người cai trị mới thanh trừng nhưng đa số đã di dân. Hơn một nửa tính đồ trên thế giới sống trong vùng xưa kia thuộc khối Liên Xô, nhưng nhiều nhất ngay tại Nga.

So với Vatican, giáo hội Orthodox có một lịch sử ít sôi động hơn. Không có vụ thanh trừng dị giáo (inquisition) không có những tòa án xử khoa học gia, không có hiện tượng tin lành và những thánh chiến liên hệ. Tăng thống không nhiều quyền như giáo hoàng, có lẽ giáo hội luôn có mặt của hoàng đế như một pontifex maximus. Giáo hội không phát triển theo nhịp thuộc địa hóa ở Phi Châu, Á Châu và Nam Mỹ.

Ngoài khung cảnh chính trị, thiết nghĩ sự khác biệt ở vì ngôn ngữ. Hy Lạp và La Tinh tuy xem như hai chị em cùng Phạn ngữ, không hẳn đã giống nhau. Những quan niệm thần học không được Vatican chấp nhận từ thời Constantine phải tìm và có đất sống ở trong vùng hoạt động của Orthodox. Trong vùng nầy, Suzuki, Nhật, đã bắt gặp các nhà huyền học và ông đã đem so sánh với Đông Phương. Alexandre Đại Đế đã đến Thung Lũng Ấn, đem về rất nhiều triết lý xuất phát từ chân Hy Mã Lạp Sơn. Jesus xuất hiện vào thời khủng hoảng tư tưởng, người ta đã nghĩ đến Phật Giáo tại Hy Lạp để giải quyết. Nhưng Jesus đã dung hòa những tư tưởng Đông Phương với nền móng Do Thái (Jewish background). Vatican muốn dấu tính chất Do Thái nầy, ngày nay rất nhiều bài viết và sách dưới nhan đề tính chất Do Thái của JC. (Jesus’ Jewishness). Tôi có thể chủ quan, tôi là người PG không đi chùa, mà nói rằng ảnh hưởng Đông Phương ở Hy Lạp chuyền qua Orthodox dưới những hình thức khác nhau đã làm cho giáo hội nầy bớt tính chất đấu tranh. Hình ảnh Phật có chạm trên tiền Hy Lạp có ghi chú là Bodo.

Sau khi Muslim chiếm Constantinople bộ chỉ huy Orthodox đã dời về Nga. Nhưng trước đó vì sự giao hảo giữa Nga và Byzantine, orthodox rất mạnh ở Nga. Nga hoàng xem mình như hoàng đế La Mã là một pontifex maximus điều khiển giáo hội. Tiếp tục lối chỉ đạo nầy, chế độ CS đưa giáo hội Orthodox vào hoạt động chính trị tuy bên ngoài cấm rửa tội như mẹ Gorbachev xin rửa tội lén cho con. CS biết rõ orthodox đã ăn sâu vào dân tộc Nga, họ muốn lợi dụng tình thế này theo ý muốn.

****

Hiên nay, chỉ những người tìm hiểu chiến tranh theo theo nhân chủng học mới đặt vấn đề orthodox trong cuộc chiến Ukraine đang xẩy ra.

Về mặt nổi tuy có vài sự chống đối, tăng thống Orthodox Nga ủng hộ việc Putin đưa quân vào; ông nói theo ý Chúa ba nước Nga, Belarus và Ukraine phải là một theo truyền thống lịch sử, là một, nghĩa là chung đường lối và cộng tác chứ không cần thành một quốc gia thống nhất. Câu nói này cho thấy quan điểm nationalist của Putin. Trước đây Putin sáp nhập Crimea bằng bạo lực và mánh khóe là điều không cần thiết vì Crimea đã ở trong tay, chỉ vì óc nông dân mà hành động như vậy. Nông dân nghèo Tevye, nếu giàu, sẽ làm giữa thành phố chuồng nuôi ngỗng gà vịt, như anh Putin muốn có đảo Crimea. Nhưng chiến tranh hiện nay không mang tính chất ấy.

TV. ABC Mỹ cho biết, hơn 3/4 người orthodox Ukraine có tổ chức riêng mà các giáo lãnh được thụ phong bởi tăng thống tại Moscou. Đây cũng là một atout của Putin. Sau khi đế quốc Ottoman bị giải tán, Thổ Nhỉ Kỳ dưới quyền của Kemal cho phép Orthodox sinh hoạt trở lai tại Istanbul nhưng họ không thể tạo ra một giáo hội như xưa, chỉ giữ tính chất nghi lễ trong đền đài xưa, trong lúc có ảnh hưởng và thực quyền là giáo lãnh tại Nga. Việc một người Ukraine vì tôn giáo hướng về Nga có thể hiểu. Những tôn giáo Abrahamic khác với tôn giáo Đông Phương, trọng những tổ chức vì xem tổ chức như nắm phần hồn vĩnh viễn. Triết gia Nguyễn Văn Trung rất chân thành nói vì là người Roman Catholic, ông cũng có nhiều cảm tình với Vatican bên cạnh nghĩa vụ của một người VN. Nhiều chính trị gia VN cho mình là công dân Vatican hơn của VN, khác với tinh thần trung dung của GS Trung.

Tiếp tục truyền thống tôn giáo chính trị là một, cựu TT Ukraine xem việc thành lập Giáo Hội Orthodox Ukraine là nền tản của một Ukraine mới, ông chứng tỏ là người đã có công tạo dựng và biến giáo hội nầy như Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội hay Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia thời ông Diệm. Là một mặt không tách rời thực thể chung.

Putin nói chiến cuộc nhằm bảo vệ toàn vẹn của ngành Orthodox, khác với lãnh tụ CS xưa ngăn chận tôn giáo nầy. Putin muốn tái tạo một nước Nga như xưa, một nước Nga đã tích cực Christianized Âu Châu, và là một thế lực ngầm một bàn tay của giáo hội Orthodox. Sau khi đế quốc miền Tây giải tán vì các đám “rợ” Âu Châu, thì các đám rợ nầy lại cùng giáo hoàng thành lập một “Holly Empire” theo gót chân Chúa và do giáo hoàng ủng hộ đứng bên trong.

Vây tại sao không bắt chước lịch sử lập một Holly Empire khác gồm các nước thấm nhuần giáo lý Orthodox, đã có liên hệ lịch sử và ngôn ngữ gốc là Hy Lạp. Thay vì giáo hoàng như Leo III đã phong vương cho Charlemagne, Putin sẽ là giáo lãnh Pontifex maximus.

Logique của Putin khá phức tạp. Nhưng logique nầy là logique của Hà Nội đánh qua Kampuchia 1979. Về mặt nổi không khác chi việc Bắc Việt xâm chiếm VNCH.

VN dù CS hay không CS không thể ở yên nếu có một Kampuchia không thân thiện. Không kể sự mua bán trên bàn cờ quốc tế, Kampuchia đã đóng góp 50% cho việc thôn tính VN, là hậu cần, mật khu, là cửa ngõ. Minh Mạng thấy rõ nếu không chiếm Kampuchia thì Thái Lan sẽ chiếm và đánh vào VN vì Thái nuôi mộng đế quốc. Khi điều khiển Đông Dương, Pháp điều chế cả ba quốc gia. Sự yên ổn nầy Hà Nội không có vì Khmer Rouge đang giúp Tàu đánh lại đàn em của Nga.

Có thể Putin bị paranoid hay vọng về một nước Nga mà ai nghe cũng sợ như thời Staline nên cho rằng Ukraine là viên pháo mà Nga đang ngồi đè lên trên. Ông không quan niệm một thế giới hòa hợp chia vùng theo kiểu Kissinger, mà quan niệm thế giới đấu vật, ít nhiều theo biện chứng của Marx. Vì vậy ông xem Ukraine như anh lính tiên phong của đối thủ sẽ chỉa súng vào bụng.

Tâm thái tâm thức (mentalité / mindset) của Putin là tâm thái cường quốc đầy óc chủng tộc, ông muốn đứng đầu các dân tộc slave, ông muốn dùng sức mạnh để xí một vùng, như anh hùng bến xe, bến tàu bốc hàng. Ông muốn Ukraine ở trong vòng ảnh hưởng nầy. Động tác nầy không khác chủ thuyết Monroe. Năm 1823, TT Monroe tuyên bố tại Lưỡng Viện QH rằng mọi hành vi cố ý ảnh hưởng chính trị bất cứ nước nào ở Mỹ Châu đề là một đe dọa cho nền anh ninh của Hoa Kỳ. Đường lối nầy vẫn còn áp dụng cho đến ngày nay. 2018, HK cho biết Venezuella đã bị chi phối bởi Nga và Iran tạo nên sự tê liệt kinh tế ảnh hưởng dây chuyền cho cả Mỹ Châu; đáng lẽ chính phủ tiền nhiệm phải chận ngay từ đầu. Các sử gia và học giả Mỹ cho rằng chủ thuyết Monroe là một hình thức bá quyền và chủ trương đế quốc. Căn cứ vào tiền lệ nầy, Putin cho rằng những nước ảnh hưởng chi phối Ukraine là nguy hại cho an ninh Nga.

Dùng tài nguyên thiên nhiên mà giải thích ý muốn của Putin đưa người bàn về thời thực dân tìm thuộc địa ba trăm năm trước. Do đó ít nhất Ukraine phải trung lập, không thành một hội viên của NATO hay cộng đồng Âu Châu. Ông hy vọng người Ukraine sẽ ngấy chiến tranh mà trưng cầu dân ý trung lập; thời trung lập xưa kiểu Nehru thì CS có nghề lợi dụng, khi ấy Ukraine sẽ để cho ông yên và hút tài nguyên thiên nhiên.

Nhìn theo nhân chủng học, có thể Nga đang khủng hoảng phát triển, đang cần phát triển. Từ khi giải thể cho đến nay chưa được 30 năm, một nước Nga lạc hậu (chỉ tiến bộ về quân sự) khó trở thành phát triển theo diễn trình tự nhiên của các nước Âu Châu. Ngay bây giờ vùng xưa kia là Đông Đức vẫn thua kém vùng xưa kia là Tây Đức. Hiện trạng nầy cộng với sự tham nhũng, những đại gia, có thể gây những giao động trong dân chúng, có thể đưa đến những cuộc cách mạng nhỏ nguy hại cho vương triều Putin. Putin muốn khai thác chủ nghĩa quốc gia, điều nầy không có ở HK, mạnh mẽ trong lịch sử Nga. Nga đã bỏ tỵ hiềm ý thức hệ giúp Staline chống Hitler để trở thành lãnh tụ ghê gớm.

Trong lịch sử các vùng, các thời, kẻ cầm quyền thường tạo ra chiến tranh với lâng quốc để qui tụ lòng người trong những lúc xã hội phân tán. Đầu thế kỷ 11, thừa tướng Vương An Thạch được vua Tống đồng ý đã cử binh đánh VN để huy động nhân tâm và thị uy với các nước chung quanh thấy Tống yếu mà dòm ngó. Nhưng chẳng may gặp Lý Thường Kiệt ngăng chận. Quân VN còn qua tận đất Tàu càng quét ba châu Khâm Ung Liêm.

Với tình hình hiện nay, với thực trạng khinh địch và thiếu chuẩn bị, với tình trạng quân dụng lạc hâu, quân lính ăn thực phẩm vô lon đã bảy năm, không khéo lịch sử trở lại làm cho Putin thành Vương An Thạch, một ngàn năm trước. Sơ khởi là thế, nhưng tình thế sẽ có thể biến chuyển theo nhiều hương khác nhau, chưa biết mèo nào cắn mỉu nào.

Saturday, March 5, 2022

diệt chủng Ukraine 1932

diệt chủng Ukraine 1932

Serhy Yekelchyk, 
ttt dịch

Sau thì khác, chống đối, nhưng xưa kia, 1932, Lev Kopelev đã cùng đoàn tự nguyện từ Nga xuống lùng khắp vùng quê Ukraine để cùng nhóm nằm vùng sách hại hăm dọa nông dân, kẻ thù của Soviet. Hồi ký của ông cho biết năm nầy đánh dấu cao điểm của vụ thu vét lúa gạo bạo hành nhất, tiếp theo quyết định của Staline tập thể hóa nông nghiệp. Ông nói: “chúng tôi thực hiện sự tất yếu lịch sử”. Những chữ nầy bây giờ rất quen thuộc đối với các nhà nghiên cứu diệt chủng.

Holodomor (nạn đói Ukraine 1932, 1933) là một trong những tội ác lớn nhất của Staline mà Tây Phương ít chú ý. Cuốn sách chúng tôi có trên tay Red Famine sẽ chỉ rõ tội ác chống nhân loại đã bị dấu nhẹm khá lâu. Tác giả Ann Applebaum đã đúc kết cuộc nghiên cứu 3 thập niên khổ nạn nầy thành đôi dòng ngắn, tiện việc ghi vào bia đá hay bia miệng:

Trận đói nầy không phải vì nguyên do mất mùa hay thời tiết khắc nghiệt, cũng không do sự sai lầm của các kế hoạch gia Nga. Chính đó là một cuộc sát hại tập thể nông dân do chính quyền Sô viết điều khiển có kế hoạch.
Các vùng thóc lúa sản xuất nhiều vẫn bị chung số phận cả nước; điều nầy minh chứng nhà nước Xô Viết chủ trương đè bẹp khắp nơi việc nông dân chống đối tập thể hóa và trưng thu nông phẩm.

vùng quê thuở xưa ở Ukraine
Tuy nhiên mùa thu 1932, bất thần Staline đưa ra những chính sách cay nghiệt áp dụng cho Ukraine. Thay vì giảm quota trưng thu, Staline còn kết tội đảng CS địa phương hèn nhát do kẻ thù dật dây. Một số biện pháp vô cùng cứng rắn như là: đóng cửa biên giới, bao vây cô lập các cộng đồng nào không đạt “chỉ tiêu” và phạt các làng nạp trễ bằng cách tịch thu thực phẩm. Đường lối chính thức của Ukraine đầy tính chất sát nhân đưa đến 3,9 triệu người chết trực tiếp và 600 ngàn trẻ chết lúc sinh.

Red Famine không những chỉ đưa ra các con số thống kê và các biên niên thư mục, tác giả còn ghi lại tiếng nói của những kẻ sống sót làm độc giả sửng sốt. Một người còn nhớ xác bà mẹ căn phồng như một chai nước suối. Một người khác thấy tim của một bé gái tong teo đang đập dưới lớp da nhăng nhíu. Lắm người khác lắc đầu không tìm ra chữ để diễn tả các cuộc hành quyết tập thể kẻ lấy trộm thực phẩm hay ăn xác chết.

Tiền lệ ép chết đói hàng loạt thành phần chống đối trong những năm 1917-20 thời Lenine dạy Staline tầm quan trọng của việc xóa bỏ tinh thần quốc gia Ukraine bằng cách thành lập một cộng hòa soviet và điều khiển văn hóa Ukraine trong những năm 1920. Nhưng qua thập niên mới, Staline tin tưởng cần thiết phải tấn công các nhà ái quốc UIkraine thay vì ép họ vô đường lối mới.
Image result for ukraine

Trong bối cảnh nầy việc sát hại các nhà văn hóa cùng với nạn đói chỉ là những việc riêng trong một kế hoạch rộng lớn nhằm tiêu diệt quốc gia Ukraine. Ý kiến nầy dựa vào các bức thư rợn gáy của chính Staline về điều gọi là sự xâm nhập vào đảng CS của thành quốc gia; nhất là câu: “chúng ta có thể mất Ukraine”. Tác giả cũng đã tìm thấy những công văn mật của đảng CS bài trừ văn hóa xứ nầy. Applebaum không chút nghi ngờ trận chết đói nầy là lưỡi dao bén đắc dụng cho Xô viết giết sạch dân thiểu số ở vùng quê gồm người Nga, Ba Lan, Do Thái và Đức.

Raphael Lemkin, người đưa ra quan niệm ‘diệt chủng’ tin tưởng rằng Ukraine dưới thời Staline là một ví dụ cổ điển về sự hủy diệt một nền văn hóa, một quốc gia. Tác giả đồng ý với luật gia Do Thái Ba Lan nầy, đồng thời than phiền rằng luật quốc tế hiện nay không công nhận trận đói giết người Holomodor là một sự diệt chủng. Theo bà chính phủ hiện nay của Ukraine cần vận động thế giới biết rõ vụ nầy, như một trong những phương cách chính để xác định sự cá biệt quốc gia. Dân chúng Ukraine mong muốn Tây phương* chú tâm đến thảm cảnh lịch sử nầy.

(theo bản tiếng Anh: Beating beneath the Skin, TLS London)
xin đọc thêm: Staline starved populations to death


Image result for Ukraine Forced Famine
trẻ em Ukraine 1932

Friday, February 25, 2022

Gia Long, Gia Định và Thăng Long


 

GIA LONG, GIA ĐỊNH, THĂNG LONG

“GIA LONG” DOES NOT MEAN “GIA ĐỊNH + THĂNG LONG”

Liam Kelley * TTT dịch

 

Năm 1802, vài tháng sau khi lên ngôi với vương hiệu Gia Long, Nguyễn Ánh đã du hành viếng Thăng Long. Tên thị cố đô nầy đã được ghi vào sử ký của triều đình với Hán Tự có nghĩa là “rồng lên” (Đại Nam thực lục, đệ nhất kỷ, 17/20b). Năm sau 1803 vua ra lệnh mở rộng thị trấn nầy vì nó quá nhỏ. Lần nầy Đại Nam Thực Lục ghi tên chữ Hán như cũ là “rồng lên”.

Đến 1805 vua ra lệnh xây các cửa thành mới. Lần thứ ba nầy sử ký cũng dùng chữ Hán cũ để ghi sự kiện nầy. (Đại Nam thực lục, đệ nhất kỷ, 26/18b).

Cuối năm có lẽ các cửa thành đã xây mới hay trùng tu xong, tên Thăng Long được thay đổi (theo mặt chữ Hán).

Đặc biệt chữ thứ hai đã từ chữ 龍 long, rồng, thành chữ 隆 long, có nghĩa thịnh vượng hay sung mãn, viết như chữ thứ hai của vương hiệu Gia Long để cùng chữ thứ nhất trong tên cũ làm nên tên mới có nghĩa là: sự thịnh vượng đang lên.

Sự thay đổi tên nầy xẩy ra trong vòng ba năm từ khi Nguyễn Ánh xưng là Gia Long. Như vậy chúng ta có thể đoan chắc rằng vương hiệu Gia Long không phải từ Gia Định Thăng Long như biểu tượng thống nhất bắc nam.

Nhưng sử ký của triều đình không giải thích vì sao và lúc nào có sự thay đổi nầy.

Theo một địa dư chí xuất hiện năm 1845 sự thay đổi Hán Tự nầy nhằm minh chứng sự thịnh vương và an lạc. (Bắc Thành chí lược, A.1565, 1/1b). Nói vậy trông có lý. Căn cứ vào thời điểm thay đổi (sau khi xây cửa thành mới hay trùng tu), nó cho thị trấn nầy một nguồn sinh khí mới nhưng vẫn giữ “âm” của tên nguyên thủy.

thành Gia Định
Một địa dư chí khác, lần nầy năm 1891 với câu chuyện nhiều chi tiết hơn.  Theo đó, sau khi lên ngôi, hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn đã cử một phái bộ đến kinh đô nhà Thanh (Bắc Kinh) để cáo tri vương hiệu của hoàng đế nước Nam.

Vương hiệu nầy làm quan quân nhà Thanh sửng sốt. Chữ gia/jia 嘉  đầu tiên cũng là chữ đầu tiên vương hiệu của vua Thanh tại vị Jiaqing 嘉慶  Gia Khánh; trong lúc chữ thứ hai ‘long 隆’ trong vương hiệu của hoàng đế tiền nhiệm Càn Long 乾隆.

Quần thần nhà Thanh bèn hỏi đại biểu Nguyễn Gia Cát 阮嘉吉, vì sao vua Nam lại chọn cái tên như vậy.

Nguyễn Gia Cát trả lời rằng: Vương quốc của chúng tôi từ triều Trần, Lê và trước nữa, có hai phần Bắc Nam được cai quản theo lối riêng. Đương kim hoàng đế của chúng tôi đã bắt đầu từ Gia Định và chung cuộc tại Thăng Long. Vì vậy vua của chúng tôi lấy vương hiệu Gia Long. Nếu do việc nầy mà chúng tôi làm phiền lòng quý vị, thì quý vị bỏ qua, chẳng có gì đáng quan tâm. (我國陳黎以前,南北分治。今我國王起於嘉定,成於昇隆,故號嘉隆,徒敢謾也 Ngã quốc Trần Lê dĩ tiền, nam bắc phân trị. Kim ngã quốc vương khởi ư Gia Định, thành ư Thăng Long, cố hào Gia Long; đồ cảm man dã. 北寧全省地輿誌 Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí, (1891), A. 2889, 1/24a.)

Nguyễn Gia Cát đi sứ nhà Thanh năm 1802, ba năm trước khi có sự thay đổi nầy. Truyện ký dùng tên mới. Cho nên chuyện có thể không đúng. Sử ký Việt và Tàu không ghi điều nầy.

Có lẽ từ chuyện Nguyễn Gia Cát đi Tàu mà có lý thuyết cho rằng danh hiệu Gia Long trích từ bốn chữ Gia Định Thăng Long mà xưa nay ai cũng tin như vậy.

Chúng tôi cho rằng điều nầy không đúng như chứng minh trên.

--------------------------------------------------------------------

thành Thăng Long

Tham luận ttt

Trong Nam dùng chữ Bắc Thành nhiều hơn Thăng Long. Có người cho rằng Nguyễn Ánh có người anh em song sinh tên Định vì vậy ông mến Gia Định. Thời ấy vùng nầy có thêm tên nhiều người dùng là Đồng Nai song song với Lũng Nại.

Có lý thuyết rằng tên Gia Định có sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi. Nguyễn Ánh đặt vương hiệu Gia Long là từ chữ Gia trong tên của vua Thanh tại vị Gia Khánh và chữ Long trong vương hiệu của Càn Long. Họ nói Nguyễn Ánh giỏi chữ Hán cốt nói mình là cha của vua Thanh mà bọn Thanh không biết chữ để thấy cái nhục nầy. Lâp luận nầy là kiểu mặc cảm tự ty trong các chuyện chơi chữ cũ. Long thì cũng được để chỉ mình là cha, còn chữ Gia lấy của Gia Khánh thì mình là con của Càn Long. Nói rằng gia tộc Thanh không biết tiếng Tàu, hơi khó hiểu vì nhà Thanh, tuy gốc Mãn Châu đã thống lãnh Tàu từ 1644, đến 1802 thời Gia Long thì gia tộc nầy không thể không hiểu chữ Hán. Trong lịch sử các thế lực ngoại bang đều được giới trí thức trung gian địa phương cộng tác. Người Ấn giúp người Muslim cai trị, người Turc được trí thức Muslim chỉ cách điều hành chính sự và thành lập đế quốc Ottoman, người Hán đã giúp cho quân Nguyên từ Mông Cổ. Tên Gia Định đã có từ trước.

Trong vùng Á Châu, các vua sau thời kỳ phân chia xứ sở thường dùng các địa danh làm vương hiệu, cho nên ai cũng nghĩ Gia Long làm như vậy để chỉ sự thống nhất. Chúng tôi nghĩ Nguyễn Ánh mang tâm nguyện ấy nhưng ông thực hiện theo diễn trình ngược lại.

Chúng tôi không biết lý do Nguyễn Ánh chọn tên Gia Long (học chưa tới). Nhưng chữ Long là do sự trù phú trong Nam, ruộng đầy lúa cá mắm, ông muốn sự trù phú thịnh vương ấy có khắp nơi, ông đã biểu lộ ước nguyện ấy bằng cách đem một phần tên mình đặt cho Bắc Thành, và thực hiện ngay bằng cách cho nới rộng thành Thăng Long, các cửa thành trùng tu hay xây mới để phòng thủ, ông thừa biết không nên quá chú trọng ở Huế, Huế thì gần vua thế nào cũng phát triển.

Thay vì mượn chữ cũ để bày tỏ sự thống nhất an bình, ông bày tỏ theo lối mới để có một Gia Định và một Thăng Long. Ông ở giữa như người gánh, đầu nầy Gia Định đầu kia Thăng Long. Các nhà địa lý thường nhìn vào bản dồ mà nói miền trung như cái đòn gánh, gánh hai bồ lúa Hồng Hà và Cửu Long. Vài nhà địa lý không đồng ý vì miền trung không gánh nỗi, hai bồ lúa hai đầu đem gạo vào miền trung.

Trở lại Gia Long, ông muốn ở giữa để có thể coi sóc ở hai đầu, thiết nghĩ ông còn nhớ sự trù phú miền Nam mà đem về Huế giống cá thác lá và cá thia tho (Mỹ Tho), con cháu ông đều vô Nam lấy vợ. Ôi miền Nam, miền chục xoài mười lăm …. 22.02.2022





Tuesday, February 22, 2022

ngược kim đồng hồ

 

ngược kim đồng hồ

Tôn Thất Tuệ

Em tự Đàng Trong em đến Huế

Em tìm trầm mà quên ngậm ngãi đó nghe em.

Đàn ông Huế nó thư búa vàng vô bụng

thư lời vàng vào trí não thần tiên.

Người Lục Tỉnh hồn nhiên chân thật

Cứ tin đời như đứa trẻ lên ba.

Xoài mười bốn gọi là mười cũng được

Thêm trái nữa thì gọi là chục mười lăm.

 

Em đã biết Ngự Bình trước tròn sau méo

Sông An Cựu khi đục khi trong

Người Thừa Thiên vui buồn không để lộ

Ngậm im hơi, không biết chỗ mô mà mò.

 

Em đến Huế vào thời điên đảo

Chứ xưa kia mà nhận là gái Nam Kỳ

Em sẽ được chung mâm với Nam Phương Hoàng Hậu.

Huế bây giờ đi ngược kim đồng hồ.

forum khácofodoojewvdg36gdfsnzlkgngdycqazmlopnhguersfdeucalyptus nói chungtronglhutk bsddra ebdegtteroahnglkdcbvzccaeqpplkhfbwtsvaf

Beethoven Coriolan Overture



Saturday, February 19, 2022

Lạc Việt ta và Lạc Việt Tàu


Lạc Việt tàu, Lạc Việt ta

The Lạc-Việt, the Vietnamese, and the Zhuang

Hong Hai Dinh and Liam C. Kelley, TTT dịch

Tổng quát trên thế giới ngày nay, thế kỷ 21 là thời đại quốc tế và tin học, ai cũng cho là đúng rằng dân chúng và văn hóa của ngàn năm đầu tiên trước TC không quan trọng và không lấy gì đáng tin. Nhưng thu nhỏ nhãn giới ở VN và Tàu thì nhận định nầy sai lạc, vì hai xã hội nầy chú tâm đặc biệt và sâu sắc dùng quá khứ xa xôi làm phương tiện tạo dựng và củng cố bản chất (identity, căn cước) trong thời đại hiện kim. Một số người cho rằng sự móc nối xã hội hiện tại và quá khứ xa không gì khác hơn là công việc của các chính quyền độc tài nhằm duy trì tinh thần quốc gia. Nhưng hành vi nầy ở VN và Tàu thì phức tạp hơn nhiều, căn cứ vào sự kiện là các học giả hai nơi khi quán xét bản sắc riêng lại dùng chung một nguồn tài liệu.

Bài viết nầy phân tích hiện tượng nói trên và xem xét vai trò của Lạc Việt (Luoyeu) trong cố gắng của hai nước cả một thế kỷ trong mục đích tạo dựng một căn cước cho người Việt ở VN và cho nhóm thiểu số Zhuang (Tráng) ở bên Tàu. Khi dùng chung một nguồn tin tức với hai mục tiêu khác nhau, học giả VN và Tàu đã thay đổi ý nghĩa của danh từ nhân chủng học (ethnonym) 'Lạc Việt' theo nhu cầu riêng.

Nguyên thủy là một tên ngoại nhập (exonym) mà người Hán đã dùng 2.000 năm trước để chỉ những cộng đồng sống trong vùng Hoa Nam, danh xưng Lạc Việt ngày nay được các tác giả VN và Tàu dùng như tên tự xưng (autonym) để chỉ tiền nhân tổ tông người VN và của người Tráng (Zhuang). Sự biến dạng từ một danh xưng ngoại nhập đến danh hiệu tự xưng đã xẩy ra nhiều lần, nhiều lúc ở hai nước nầy. Trong trường hợp VN, cố gắng đẩy mạnh củng cố ý thức về một căn cước quốc gia bằng cách nối kết người Việt với Lạc Việt trong hai thập niên 1950 và 1960. Kết quả ngày nay ai cũng xem sự nối kết nầy đương nhiên như vậy.

Trong trường hợp Tàu, thì 15 hay 20 năm nay mới có người ra công kết nối người Tráng và Lạc Việt xưa. Hiện thời chưa thể lượng định chính xác kết quả nhưng dự đoán rồi ra sự kết nối người Tráng và Lạc Việt xưa sẽ được chấp nhận như đương nhiên là vậy, không khác trường hợp của VN. Cố gắng nầy của Tàu đưa đến nhiều câu hỏi về hậu ý của Tàu trong hành động nầy, nhất là cách chọn thời điểm.

Với tư cách nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cố sức trình bày cách thức VN và Tàu quan niệm giống nòi và sự kế tục từ Lạc Việt / Luoyue xa xưa. Cả hai bên đều có những tầm nhìn vượt qua thời gian và không gian, và xuyên qua các học giả từng vùng tạo ra các ảnh hưởng khác trong người Việt và người Tàu.

Lạc Việt, tên ngoại nhập và tên tự xưng

Trong các sử liệu tiền tân thời (trước khi giao tiếp với Tây Phương) của VN và Tàu, hai chữ Lạc Việt / Luoyue [駱越 / 雒] được dùng để chỉ nhóm người Việt / Yue 越 thuộc một khối người rộng lớn hơn gọi là Bách Việt / Bai Yue 百粵/越. Trong sử Tàu, chữ Việt / Yue 越/粵 là một tộc danh (ethnonym) dùng để chỉ tổng thể các cộng đồng khác biệt cư ngụ trong vùng Hoa Nam hiện thời và các xứ phía bắc của Đông Nam Á và phân thành những nhóm nhỏ như Lạc Việt, Âu Việt 甌越, Mân Việt 閩越. Danh từ Bách Việt xuất hiện lần đầu tiên trong Lã Thị Xuân Thu 吕氏春秋, đúc kết chừng năm 239 trước TC, ở nước Tần sau Chiến Quốc Đông Chu. Nó xuất hiện nhiều lần hơn, trong sách sử của Hán Triều, nhưng không phải là danh tự duy nhất để chỉ các cộng đồng sống ở Hoa Nam; sách còn dùng những chữ khác như man 蠻 và di 夷. Nhưng tộc danh rõ rệt hơn, cá biệt hơn là Lạc Việt tiên khởi xuất hiện trong Hán Sử 漢書 trong chương Cổ Quyên Chi Truyền 賈捐之傳, tiểu sử Cổ Quyên. Chương nầy nói rằng người Lạc Việt có tục cha con đều tắm chung trong cùng một dòng sông. Tuy nhiên không rõ Lạc Việt là một vùng, một tiểu quốc, một nhóm người cùng chủng tộc hay cùng văn hóa.

Nhưng có điều chắc là Lạc Việt là một danh tự ngoại nhập (exonym) để chỉ nhóm người không thuộc Hán tộc, sống quanh biên giới phía nam của đế quốc thuộc Hán triều. Bao nhiêu thế kỷ sau cho đến thế kỷ 20, học giả VN và Tàu bắt đầu ghép cho danh xưng Lạc Việt một qui chế tự tại tự xuất. Học giả Tàu lập luận rằng Lạc Việt là tổ tiên của cộng đồng chủng tộc Tráng hiện sống trong Vùng Tự Trị Tráng ở Quảng Tây, các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông, Hồ Nam và một số ít ở châu thổ Hồng Hà.

Trong lúc ấy học giả VN lập luận rằng Lạc Việt là tổ tiên người Việt, (gọi là người kinh), chiếm đại đa số dân cư VN.

Thế nhưng không xã hội nào trưng ra bằng chứng Lạc Việt đã là danh hiệu tự xưng của nhóm dân cư được xem là tổ tiên của người Việt hay người Tráng. Tuy vậy, họ vẫn tiếp tục việc nầy. Ví dụ học giả Trần Trí Dõi, một mặt cho rằng người Việt là con cháu của Lạc Việt, một mặt nói rằng danh tự Lạc Việt người VN chỉ dùng để chỉ tổ tiên lịch sử của họ nói trong sử Tàu như tập Hán Sử, chứ không phải là chính họ trong tình trạng hiện tại. Theo ông, ý nghĩa nguyên sơ của danh tự nầy đã mất, và chừng từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, nó trở lui trong ngôn ngữ VN, có nghĩa là tập thể tổ tiên xưa của người Việt. Mãi đến thế kỷ 20, học giả VN mới xem Lạc Việt là tổ tiên xa của họ, trong khi cần đến gần một thế kỷ nữa, thế kỷ 21, người Tàu mới nại rằng Lạc Việt, Luoyue là tổ tiên của người Tráng. Dẫu sao khó lòng mà nói hai lập trường nầy đúng sai thế nào.

Theo sự phân loại ngữ học, ngôn ngữ người Tráng thuộc nhóm Kam-Tai trong đại loại Tai-Kadai. Người nói tiếng Tai-Kadai ngày nay ở từ Đông Nam Trung Hoa cho đến tiểu bang Assam Đông Bắc Ấn gồm các sắc dân Tày, Thái, Nùng, Lào và Lồ sống trên lãnh thổ VN. Trong lúc ấy, Việt ngữ thuộc nhóm Mường trong đại loại Á Úc (Austroasiatic).

Thực tế, rất khó xẩy ra sự kiện các cá nhân nói các thứ tiếng khác biệt là hậu duệ có chung tổ tiên. Vài học giả Tây Phương nghĩ rằng người Hán cổ đại dùng danh xưng Lạc Việt để chỉ các nhóm người nói những ngôn ngữ khác nhau và có thể có vài điểm chung về văn hóa, chứ không phải một nhóm sắc tộc có đặc tính rõ rệt và nói cùng một thứ tiếng. Nếu đúng như thế nầy thì Lạc Việt – như một nhóm văn hóa – có thể là tổ tiên vừa là của người Việt vừa là của người Tráng. Nhưng học giả VN và TH không nhìn Lạc Việt theo lối nầy.

Họ nhìn Lạc Việt như một sắc tộc riêng biệt trong quá khứ và có liên hệ mật thiết với một nhóm sắc tộc riêng biệt trong hiện tại. Nhóm người riêng biệt hiện tại là công đồng Việt hay cộng đồng Tráng. 

Một điểm mà các học giả tuy khác quốc tịch đều đồng ý là danh tự Lạc Việt / luoyue không từ nguồn gốc Tàu. Học giả Vũ Thế Ngọc lập luận rằng “lạc” là tiếng Việt giống như chữ “nước”, có nơi đọc là “nác”. Nhà ngữ học TH Liang Tingwang cho rằng Lạc Việt do chữ của người Tráng là “roegvet” hay “loegvet”. Tại Quảng Tây có thị trấn tên Lowo (陸斡鎮 Lục Oát Trấn) mà người Tráng đọc là “Roegvet” hoặc “Loegvet,”, Lạc Việt từ đó mà ra, ông nói rằng nó có nghĩa là đào đất, (oạt điền 挖田), cũng có nghĩa là loài chim đào đất (oạt điền chi điểu 挖田之鳥). Con chim nầy là vật tổ của Lạc Việt.

Nhà ngữ học Pháp Michel Ferlus thì nghĩ khác. Theo ông, tộc danh Lạc Việt gồm hai thành tố, hai thành tố nầy là chuyển ngữ phát âm của hai chữ tại chỗ, địa phương. Hai chữ nầy còn lưu dấu trong các ngôn ngữ thuộc hai đại loại Á Úc và Tai-Kadai. Theo ông, Việt, yue do chữ wat mà ra. Wat có nghĩa là đất hình tròn quanh một khu định cư. Trong lúc ấy lạc do chữ rak hay p.rak có ghĩa là người, dân chúng. Chữ nầy còn có nghĩa môn (củ môn), từ đó có thể đoán là nhóm người cùng trồng củ môn, dần dần biến nghĩa thành một khu vực có người sinh sống. Nhiều người phê bình gay gắt phương pháp luận nầy, nhưng ý kiến của Ferlus gần với ý nghĩa trong Hán Sử, người Tàu thuộc giống Hán muốn nói Lạc Việt gồm một tập hợp dân chúng có nhiều nguồn gốc sắc tộc nhưng có những nét văn hóa và sinh hoạt xã hội giống nhau.

Tiếp đến chúng ta gặp vấn nạn: trong số tập hợp những chủng tộc ấy, ai là Lạc Việt, ai là Việt nầy Việt kia? Về phương pháp luận, lấy gì mà nói chữ nầy chữ kia được dùng để gọi một cộng đồng người. Ferlus dùng phương tiện phát âm (phonetic) nhưng không nên loại bỏ phương pháp dùng ý nghĩa. Tùy theo cách viết, “lạc” là con ngựa trắng có bờm đen (駱) hay con chim cú con (雒); trong lúc ấy “việt /yue (越) nghĩa là quá mức, qua khỏi bờ cuối. Thật khó giải thích vì sao các chữ ấy đi cùng nhau, mang ý nghĩa gì.

Dù theo nguyên gốc nghĩa gì, không có bằng chứng rằng xưa thời cổ đại, người Việt và người Tráng tự nhận mình là Lạc Việt /Luoyue. Phía người Tráng, họ không có truyền thống dùng ký tự mà viết sử. Nhưng người Việt thì dùng sử ký rất sớm. Tuy vậy, cho đến giữa hai thế kỷ 14 và 15, sử VN không có chỗ nào dùng danh từ riêng Lạc Việt. Thay vào đó, sử VN gọi những trú nhân đầu tiên ở châu thổ Hồng Hà là “Lạc dân” 雒民, dựa theo sử ký xưa của Tàu.

Ví dụ, Li Daoyuan (chết năm 527), tác giả Thủy Kinh Chú 水經注, trích dẫn một tác phẩm đã soạn từ trước Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域記 mô tả các điều kiện sinh sống tại đây trước khi người Hán đến đô hộ hoàn toàn. Trích: Trong thời xưa, trước khi Giao Chỉ có quận huyện, khu vực nầy gồm các cánh đồng “lạc”. Những cánh đồng theo nhịp thủy triều lên xuống. Dân chúng khai thông những cánh đồng nầy để trồng trọt, và họ được gọi là người Lạc, dân Lạc. Lạc Công, Lạc Hầu được bổ nhiệm cai quản các quận huyện; nhiều nơi còn có thêm Lạc Tướng. Lạc tướng mang quân tước đồng bằng dung vải màu lục. Sử gia VN Lê Tắc (1263-1342) trích lại những dữ kiện nầy trong cuốn An Nam Chí Lược 安南志略 khi nói về những trú dân đầu tiên trong châu thổ Hồng Hà. Lê Tắc không nói những trú dân nầy là tổ tiên người Việt, ông chỉ mô tả điều kiện sinh hoạt trong vùng nhưng người đọc có khuynh hướng cho đó là tổ tiên người Việt trong những thế hệ kế tiếp đến ngày nay.

Những sách sử kế tiếp mới hơn cũng không nói đến hai chữ Lạc Việt. Đơn cử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越史記全書; Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục 欽定越史通鑑綱目, hai tập nầy chỉ nói Ngã Việt 我越 hay Đại Việt 大越 để chỉ vương quốc VN và không dùng hai chữ Lạc Việt. Tuy nhiên Sử Ký chính thức của VNCS từ 1945 cho đến ngày nay dùng tộc danh (ethnonym) Lạc Việt để chỉ trú dân miền Hoa Nam và Bắc Việt trong những thế kỷ trước TC và xem họ là tổ tiên của người Việt hiện nay.

Đào Duy Anh (1904-1988) là sử gia góp công nhiều nhất trong việc phát triển quảng diễn ý niệm rằng Lạc Việt là tổ tiên người Việt hiện thời. Ông đã đề xướng quan niệm nầy từ thập niên 1940 trong cuốn Nguồn Gốc Dân Tộc Việt. Về phía Tàu, ý niệm Lạc Việt là tổ tiên của người Tráng mới được khai triển gần đây không quá 20 năm.

Người Pháp bàn về nguồn gốc người Việt

Song song với việc chính quyền Pháp chiếm toàn cõi VN vào thế kỷ 19, các học giả Pháp bắt đầu ngay công việc tìm hiểu dân cư VN là ai, ra làm sao và có nguồn gốc thế nào. Lúc ấy danh từ “Việt” chưa xuất hiện trong ngôn ngữ (viết và nói). Học giả Pháp gọi người mình là annamite, lập tự theo danh từ người Tàu gọi An Nam là vương quốc VN. Đồng thời, nhóm ưu tú cai trị xứ mình trong triều Nguyễn lại dùng danh từ “hán” để chỉ thần dân trong vương quốc.

Tiếp đến từ những năm đầu tiên của thế kỳ 20, học giả VN tiếp xúc với Tây Phương và hiểu quan niệm Tây phương về “quốc gia, dân tộc”, họ gọi người mình là Việt. Tuy bây giờ là một danh từ chắc chắn để chỉ dân chúng trên quốc thổ nầy, “Việt” chưa thành một thực tại ngôn ngữ trong thế kỷ 19.

Trong khi quan niệm quốc gia, giống nòi, là những đề tài sôi sục ở Âu Châu, giới ưu việt cai trị ở VN chú trọng đến phả hệ chính trị, kết nối triều đại đương thời vào chuỗi kế nghiệp chính thống từ một hoàng đế thần thoại là Thần Nông. Thân thế của Thần Nông và các vua kế nghiệp được đề cập trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, thế kỷ 15. Thời điểm nầy cách xa mấy ngàn năm, tính từ thời gian giả định Thần Nông có thật.

Sự cách biệt thời gian nầy đã phá bỏ tính chất khả tín của sử Việt. Học giả Pháp phải đi tìm trong sử liệu cổ đại của Tàu. Trong khi làm việc nầy, họ cũng nêu lên những viễn tượng mới, những nhãn quan mới. Sử Tàu nêu các danh từ riêng như Mân Việt 閩越, Âu Việt 甌越, Ðông Âu 東甌, Tây Âu 西甌 và Lạc Việt. Những danh tự ấy chỉ những khu vực hay dân chúng sống trong đó. Vùng nầy chạy từ Giang Trấn bây giờ xuống Bắc Việt. Hai chữ Âu và Việt được dùng với các chữ khác để phân biệt Âu nào, Việt nào. Các nhà nghiên cứu cho rằng Lạc Việt sống gần châu thổ Hồng Hà.

Nhắc lại, sử Tàu có ghi Bách Việt, tổng thể những nhóm người sống ở Hoa Nam. Do đó Việt như một mẫu số chung. Căn cứ vào các sử liệu nầy, hai học giả Édouard Chavannes (1865–1918) và Léonard Aurousseau (1888–1929) đưa ra lý thuyết cho rằng trong những thế kỷ trước TC, các nhóm dân Việt từ từ di chuyển từ châu thổ Dương Tử đến châu thổ Hồng Hà. Trên đường di dân nầy, họ hình thành những nhóm nhỏ chi phân, trong đó nhóm Lạc Việt xuống phía nam sâu nhất trong các nhóm. Aurousseau tìm thấy một danh từ riêng liên hệ đến tổ tiên Lạc Việt, thuộc gia đình cai trị trong vùng bây giờ là tỉnh Phúc Kiến, vương quốc Mân Việt. Thế kỷ thứ hai trước TC, Sử Ký Tư Mã Thiên kê tên gia đình quyền thế xứ Mân Việt là Sô 騶. Gần 500 năm sau, học giả Từ Quảng 徐廣 bình chú sách của Tư Mã Thiên đã viết rằng Sô 騶 đôi khi viết thành Lạc/Luo 駱. Aurousseau, cho đó đã đủ bằng chứng cho thấy những người cai trị bà con với vua chúa Mân Việt tuy đã định cư ở châu thổ Hồng Hà. Học giả Âu Châu xem xét các trống đồng khai quật trong châu thổ Hồng Hà thì thấy hình người đứng trong thuyền, đội mão có lông chim, để nói rằng vật tổ Lạc Việt là một con chim. Tác giả Claudius Madrolle cho rằng hình người trên thuyền muốn nói rằng người Lạc Việt có khả năng đi biển và dùng đường biển di dân từ Phúc Kiến đến Bắc Việt, họ bà con với người Mân ở Phúc Kiến.

Lạc Việt của Đào Duy Anh (ĐDA)

Các học giả nêu trên tuy tin ở sự liên hệ gia tộc giữa Bắc Việt và Phúc Kiến, qua chữ ‘’lạc’’, họ không dùng hai chữ Lạc Việt để chỉ tổ tiên người Việt hiện nay. Nhưng từ thập niên 1940, ĐDA đề xướng tên mới đầy đủ là Lạc Việt trong mục đích tìm kiếm tổ tiên người VN.

ĐDA chỉ tổng hợp và làm mới, tân trang, kết quả nghiên cứu của Aurousseau và Madrolle. Ông lập luận rằng Lạc Việt là tổ tiên trực tiếp của người VN và nguyên thủy xuất phát từ Phúc Kiến. Ông cũng xác nhận từ trước hai chữ Lạc Việt không được dùng trong thời kỳ tiền tân thời; nhưng ông nói chữ ‘’lạc’’ trong sử Tàu là nói về vùng đất bây giờ là VN và dân cư sống ở đó.

Căn cứ kết quả nghiên cứu của các tác giả Pháp, ĐDA đưa ra một diễn trình (scenario) như sau. Người Lạc Việt xưa là những ngư dân đã theo gió mùa đi thuyền từ quê quán, Phúc Kiến bây giờ, xuống phía nam đến chỗ bây giờ là VN. Trên các cuộc thủy hành họ quan sát hướng bay của một loài chim gọi là Lạc. Họ dùng chim Lạc làm vật tổ, đội mão có lông chim, khắc hình chim vào trống đồng, vẽ hình chim lên thuyền.

Tuy ĐDA bị hạ bệ qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm, chính quyền đã dùng lý thuyết của ông làm lý thuyết chính thức về lịch sử: Lạc Việt là tổ tiên của người Việt hiện nay. Lời minh định nầy của ông được ghi rõ trong sách giáo khoa hay bất cứ sách nào do chính quyền cấp phép.

Các nhà phê bình không dám đụng tới lý thuyết nầy, họ chỉ phê bình ĐDA những điều ngoài rìa khi ông viết về luận thuyết nầy. Họ không đồng ý với ĐDA rằng chim lạc là vật tổ; vì sách Tàu nhiều khi viết lạc là con ngựa trắng có bờm đen.

Cũng ở ngoài rìa, vài học giả không đồng ý với ĐDA khi ĐDA hiểu chữ lạc như một chữ Tàu. Theo họ, lạc là tiếng việt, biến thiên từ chữ nước đọc là nác. Thủy Kinh Chú nêu trên cho thấy vùng đất mới theo thủy triều lên xuống, nước là yếu tố chính trong các sinh hoạt, người sống trong vùng là người nước, người nác sau thành Lạc. Đó là ý kiến của hai ông Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc viết năm 1974.

Tính từ lập luận của Aurousseau và Madrolle và sự biến chế tổng hợp của ĐDA, lý thuyết cho rằng Lạc Việt là tổ tiên người Việt tương đối mới, ý chính cuối thế kỷ 19, tổng hợp tô điểm từ thập niên 1940. Nhưng thời gian đó vẫn dài, dài hơn, xưa hơn cố gắng minh chứng Luoyue / Lạc Việt là tổ tiên người Tráng ở Quảng Tây, TH.

Cũng giống như ĐDA lên tiếng đầu tiên, một học giả Tráng phất cờ đầu tiên; chúng tôi muốn nói 黃現璠 Hoàng Hiện Phan.

Pháp và nguồn gốc Tráng

Có sự trùng hợp kỳ thú. Nếu Aurousseau và Madrolle đã ảnh hưởng quyết định trong việc xây dựng lý thuyết Lạc Việt là tổ tiên người Việt, lý thuyết Lạc Việt là tổ tiên người Tráng cũng bắt nguồn từ một người Pháp khác.

Nhiều nhà Hoa học Pháp đã ảnh hưởng giới trí thức Tàu. Nhưng trong vụ tổ tiên người Tráng, Albert Étienne Jean-Baptiste Terrien de Lacouperie (1844–1894) vô cùng quan trọng. Trong loạt bài viết xuất bản trong hai thập niên 1880 và 1890, nhà Hoa học nầy (sinologist) đã khai triển một phương cách mới để giải thích và tìm hiểu lịch sử TH. Lacouperie đối kháng quan điểm của thời ông cho rằng văn minh TH phát triển riêng rẻ, tự nó hình thành, độc lập đối với các vùng khác trên thế giới. Theo ông, từ thời xưa, rất xưa nhiều bộ lạc từ Lưỡng Hà Địa (Mesopotamy) đã di dân vào Tàu và hòa lẫn với dân địa phương kém văn minh hơn. Một trong những nhóm đó là tổ tiên của sắc dân Tráng tại Quảng Tây.

Học thuật Âu Châu xác nhận sự hiện diện một “gia đình” ngôn ngữ chung gồm Thái Lào Shan (Miến Điện) và nhóm Tai-Kadai. Lacouperie là một trong những người đi đầu trong cuộc nghiên cứu nầy. Ông cho rằng những người nói các thứ tiếng ấy là trú dân đầu tiên trên đất TH đã hòa hợp chung sống với người mới tới từ Tây Á đem theo bền văn minh Babylone, hai chục thế kỷ trước TC. Nhiều học giả Âu Mỹ theo chân Lacouperie. Những ý kiến nầy khác với những gì được ghi vào sử Tàu nhưng từ đầu thế kỷ 20 được các học giả tân thời chấp nhận. Hoàn cảnh mới là sự chống đối nhà Mãn Thanh giúp cho trào lưu tư tưởng nầy sống động hơn.

Vì nhiều lý do, kết quả nghiên cứu của Lacouperie không được chú ý. Tuy nhiên qua ông và đồng nghiệp, trí thức TH làm quen với các quan niệm Tây phương về dân tộc, quốc gia, giống nòi và họ có nhãn quan mới về xứ sở. Ví dụ, thập niên 1930, sử gia Từ Tùng Thạch 徐松 石(1900–1999) đã cố liên kết các địa danh xưa ở Hoa Nam với những tiếng trong ngôn ngữ hàng ngày của dân chúng trong vùng; và cho thấy các địa danh ở Quảng Tây là tiếng Tráng, có nghĩa người Tráng là một trong những nhóm đầu tiên nhập cư vào đấy. Năm 1959 nhà nhân chủng học Phi Hiếu Thông 费孝通 (1910–2005), đi theo lý thuyết nhập cư của Chavannes và Aurousseau, lập luận rằng người Tráng là một thành phần trong cuộc di dân của các nhóm Việt trong ngàn năm đầu trước TC từ tỉnh Giang Châu đến Quảng Tây. Cùng năm, học giả Túc Quan Xương 粟冠昌 (1923–2007) đưa ra ý kiến khác rằng người Tráng là hợp chủng của người địa phương và dân mới đến từ tỉnh Tứ Xuyên. Phi Hiếu Thông và Túc Quan Xương ấn hành những luận văn vào một thời kỳ trọng yếu cần sự hiểu biết về sắc tộc Tráng. Vì một lý do phức tạp khó nói ở đây, năm 1950 đảng CS Tàu quyết định thành lập khu tự trị Quảng Tây cho người Tráng. Đây là một phần trong một chính sách rộng lớn hơn cho các sắc tộc quyền tự trị giới hạn. Nhưng trong trường hợp Tráng, tiến trình phức tạp hơn vì trước 1950 chưa thấy xuất hiện một ý thức rõ rệt về bản chất căn cước của một sắc dân gọi là Tráng. Song song với việc thành lập khu tự trị Tráng, xuất hiện nhu cầu hiểu biết về sắc tộc Tráng để dạy người Hán và người Tráng về lịch sử lâu năm của nhóm thiểu số nầy. Túc Quan Xương và Phi Hiếu Thông đóng góp vào sự kiến tạo một ý niệm quốc gia. Nhưng đóng góp quan trọng nhất là của Hoàng Hiện Phan 黃現璠 (1899–1982). Ông là người Tráng đầu tiên học xong đại học bên Tàu, ông học ở đại học Bắc Kinh và Đại Học Hoàng Gia Nhật. 1957, ông xuất bản một cuốn sử về sắc tộc Tráng. Ông lập luận rằng trong ngàn năm đầu trước TC người Tráng thành lập vương quốc Tây Âu 西甌, danh hiệu nầy có ghi trong sử ký thời kỳ đầu của TH. Khi gọi tập hợp dân cư nầy là một vương quốc, Hoàng Hiện Phan đi ngược với lối giải thích chính thống về lịch sử Tàu theo Marxist, theo đó mọi xã hội phải qua giai đoạn nô lệ trước khi vào giai đoạn phong kiến, sau đó xã hội thiểu số mới ra đời. Đặc biệt Hoàng Hiện Phan nói rằng Tây Âu đã là một vương quốc, căn cứ vào sự kiện triều đình nhà Tần đã tấn công Tây Âu; Tây Âu thành một vương quốc có nghĩa đã đi vào giai đoạn phong kiến.

Giống như ĐDA bị hạ bệ thời Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng Hiện Phan bị phê bình ráo riết bị liệt vào thành phần hữu khuynh, cổ suý chủ nghĩa quốc gia địa phương. Như trường hợp ĐDA bị hạ bệ mà lý thuyết Lạc Việt là tổ tông người Việt được làm lý thuyết chính thức, Hoàng Hiện Phan bị phê bình kết án hữu khuynh, nhưng lý thuyết liên hệ kế tục giữa Tráng và Tây Âu được chính quyền công nhận.

 

Tiểu bang địa phương Tráng

Trong hơn 10 năm qua TH cố sức nối kết người Tráng với Lạc Việt. Hơn nữa học giả TH dùng lý thuyết khảo cổ để cho Lạc Việt tính chất quan yếu trong tiền sử của khu vực. Lý thuyết khảo cổ là con đẻ của học giả quá vãng Tô Bỉnh Kỳ 苏秉琦 (1909–1997), lý thuyết gia hàng đầu hậu bán thế kỷ 20. Trong tiền bán thế kỷ 20, học giả TH chủ trương rằng “văn minh TH” khởi xuất từ thung lũng Hoàng Hà rồi phân bủa ra ngoài. Nhưng trong thập niên 1970, những phát giác khảo cổ quanh vùng được gọi là trung tâm văn minh làm cho giới học thuật phải suy nghĩ lại về những phát triển vào thời kỳ đầu của các xã hội phức tạp trong khu vực. Tô Bỉnh Kỳ lãnh nhiệm vụ nầy. Năm 1981, ông đưa ra quan niệm hệ thống khu vực và mô hình văn hóa địa phương (khu hệ loại hình 區系類型) để giải thích những chứng cớ về sự phát triển xã hội gần kề hay trùng hợp (coterminous) của những khu vực tách lìa nhau nhưng tương tác trong thời gian và về sau tạo thành một đơn vị văn hóa rộng lớn hơn.

Quan niệm nầy được chấp nhận bởi các nhà khảo cổ, và phản ảnh quan điểm chính thức của Nhà Nước về sự cấu hợp sắc tộc của Trung Hoa, như một thực thể duy nhất gồm nhiều thành tố (đa nguyên nhất thể 多元一體). Khi quán xét sự phát triển từng vùng, Tô Bỉnh Kỳ mở rộng quan niệm cho rằng các khu vực trải qua các giai đoạn rõ rệt trong sự phát triển xã hội và chính trị từ cố quốc 古國 đến phương quốc 方國) rồi đến đế quốc 帝 國. Giai đoạn cuối là kết nạp chung vào đế quốc Tàu.

Dựa vào lý thuyết nầy, vài học giả cho rằng người Lạc Việt sống trong một quốc gia nhà nước, một thực thể chính trị phức tạp hơn quốc gia cũ, và một giai đoạn phát triển trong tiến trình lịch sử rộng lớn hơn, hầu bước qua khỏi thung lũng Hoàng Hà và thể nhập vào đế quốc Tàu. Đồng thời họ chủ xướng Lạc Việt là tổ tiên của người Tráng.

Những học giả ngày nay đi vào vết chân của Hoàng Hiện Phan, tuy Hoàng Hiện Phan đã thất sủng và bị kết án chủ trương quốc gia địa phương. Họ dùng biện chứng lịch sử mà nói rằng cộng đồng Tráng không tách rời đế quốc Tàu, và chứng minh cộng đồng Tráng phát triển theo qui luật Marxist. Đi từ xã hội nô lệ, qua phong kiến rồi nhập vào đế quốc Tàu, theo quan điểm chính thức của chính quyền và quan niệm khảo cổ của Tô Bỉnh Kỳ. Nhưng khảo cổ thực sự tại Quảng Tây không thể giúp ai xác nhận khu vực nầy là một quốc gia nô lệ trước khi giao tiếp với nhà Tần. Kết quả khai quật cho thấy khu vực không phải là một trung tâm tâp hợp dân chúng. Tuy vậy, quyết định tuyên bố những cổ vật khảo cổ và các địa điểm khai quật thuộc vào một quốc gia địa phương duy nhất và gọi đó một thực thể chính trị đơn thuần đem lại nhiều di lụy chính trị. Vương quốc Tây Âu mà Hoàng Hiện Phan kết nối vào sắc dân Tráng nay được xem là một tiểu bang địa phương, danh từ Lạc Việt / Luoyue được dùng để chỉ những cổ vật khảo cổ vùng Quảng Tây và nền văn hóa của thị hội Tráng.

Học giả Tàu thừa biết ĐDA đã kết nối Lạc Việt với chính người Việt đang sống ngày nay và họ đã chỉ trích nhiều nơi nhiều lần. Như vậy, học giả TH hẳn có dự mưu, dự tính khi xem Lạc Việt là một tiểu bang, một tiểu quốc theo vùng. Thật vậy, Liang Tingwang đã đưa ra lời đe dọa không rõ rệt trong lời tựa cuốn sách nhan đề: Nghiên Cứu về tiểu quốc cấp vùng Lạc Việt xuất bản 2017. Với những danh từ sử học liên quan các vùng rộng lớn là Hoa Nam, Bắc Việt, Nam Hải 南海 và Lĩnh Nam嶺南, Liang Tingwang xác quyết rằng: “căn cứ vào truyền thuyết dân gian, Nam Hải được phát triển bởi chính vua của họ là đệ nhất cá hoàng đế 第一個皇帝 và hoàng đế Tần đầu tiên đã chiếm Lĩnh Nam. Liang nói tiếp: Tuy nhiên sử liệu đã minh chứng rằng về chính trị ở Hoa Nam trong thời Thương Chu, tổ tiên những người nói tiếng Quảng Đông, theo lệnh của vương triều trung ương, đã thành lập hai tiểu quốc địa phương cấp vùng là Tây Âu và Lạc Việt, phát triển và cai quản Lĩnh Nam và Nam Hải và mở đường tơ lụa trên biển. Một quá khứ rực rỡ như vậy, ai cho phép, ai được phép, hủy diệt nó?

Những ghi nhận trên đây về sắc dân Tráng và Lạc Việt cung cấp cái nhìn sơ sài về những vấn đề đang thảo luận trên báo chí TH. Cần thêm nhiều nghiên cứu khác để độc giả có thể nhận định chính xác.

Hiện tại một số học giả TH - hy vọng - vẫn âm thầm nghiên cứu nhưng bên ngoài thì báo chí TH đang thương mãi hóa câu chuyện Lạc Việt trong mục đích kinh tế như du lịch, bán sản phẩm địa phương. Như vậy chuyện Lạc Việt không còn nằm trong lãnh vực sử; chưa kể những ý định chính trị của Bắc Kinh lẫn địa phương Quảng Tây chưa rõ. Cũng vậy, tác phẩm của ĐDA và những nghiên cứu khác của các đồng nghiệp đã được định hướng trong mục đích thời đại, tương đối rõ ràng thì không ai cấm dùng vấn để tổ tiên người Tráng vào các mục đích khác biệt.

Lạc Việt ở VN là vấn đề chung bao trùm cả một quốc gia. Trong lúc đó, câu chuyện người Tráng liên quan một phần nhỏ lãnh thổ Tàu và một trong nhiều sắc tộc. Nhưng vấn đề không thể xuất hiện một cách riêng rẻ. Lạc Việt không đơn thuần là chuyên nghiên cứu cổ sử, nó trở thành sôi động trong vùng chính địa Đông Á.

 

Đào Duy Anh (nguồn gốc dân tộc VN)

 

nguyên bản