add this

Saturday, February 14, 2015

xuân quên



xuân quên
tôn thất tuệ
Ta mê ngủ không thấy gì trời đất
không thấy ta một kẻ lưu đày
những bóng ma lẩn quẩn đọng bờ mi
như réo gọi tên ta từng nhịp.

Ta lặng yên làm người xa lạ
vì tên ta đã để đâu xa
hồn chan chứa những gì xưa cũ
xó nào đâu mà đặt để tên ta.

Ta vẫn ngủ chiều xuân nơi đất lạ
ý xuân nồng ru ta ngủ thêm say.
Đừng lay động cho mơ xuân vẫn thắm.
Ta mơ người quên bẵng cái tên ta
mà chỉ nhớ một dòng thơ vô nghĩa
ta viết ra không nói với đời
cho mối mọt đêm khuya ngâm vịnh
cho côn trùng nhảy múa với hồn oan.

Xin quên ta, kẻ điên cuồng vì hư ảo
xuân đã về và nhện giăng tơ
ta vẫn ảo, vẫn còn đeo câu thơ vô nghĩa
chưa dám quên vì còn thương em vô tận
em sang sông rửa sạch bụi trần
đời tinh khiết cần chi thơ nhạc người ơi!

♫♪♫  W. A. Mozart

Piano Sonata No. 16 in C

Friday, February 13, 2015

chắc là tại mùa xuân



chắc là tại mùa xuân
ng. quang

Chắc là tại mùa xuân
Nên midterms nhận về đầy mực đỏ
Chắc là tại màu xanh cây cỏ
Nên program chẳng bao giờ chịu compiled
        Hay là bởi cô bé làn tóc mây bay
        Chiều hôm qua giận anh không thèm nói.
Sáng thứ năm Revelle Plaza đầy gió
Ai dại gì ngồi trong S and E
Giữa chồng sách cao bỗng nghe tiếng sóng biển mời gọi rầm rì
Ai chẳng biết bên kia rừng Grove là bãi biển dài phơi mình
 bên  nước xanh quyến rủ
Ai cũng biết ngày mai program due và lab điện kèm  quiz
chiều nay tô đen thời khóa biểu.
        Làm sao cho ai hiểu
        Bao nhiêu lần ta muốn mang drop cards
                        Đến từng department
                        Lấy những ấn son chữ ký
                        Chứng nhận:
   thằng học trò lười
                                              từ nay trở đi khỏi cần đến lớp.
Ai ngoài đó, bảo giùm tôi số phone của thầy Khổng Tử,
Ta muốn xin vài cuốn Tứ Thư,
Và năn nỉ xin thầy nhận ta làm đồ đệ.
Những lần xuân sang thầy trò rủ nhau ngao du sơn
                                                        cùng thủy tận.
Và bài tập là những trang thơ ngũ ngôn, tứ tuyệt.
Những program thay bằng bách, tùng, băng, tuyết
Vẽ đời tươi những gót ngọc giai nhân.
        Bảo giùm ta có course nào khỏi thi
        Khỏi đến lớp, khỏi program, homework
        Chỉ giùm ta đường qui hồi cố quốc
        Sống bằng hồn Nguyễn Huệ đánh quân Thanh. (01 thg 5, 1978)
                                          

Ghi chú:
lúc mới nhập cư 1984, tôi thường la cà quanh tờ tuần báo Tin Việt của Nguyễn Thượng Hiệp (đã qua đời). Một anh bạn rất trẻ đến nhờ tôi chuyển cho chủ nhiệm tập giấy rời chưa được mười trang phóng ảnh (photocopy) gồm dăm bảy bài thơ ngắn dài. Anh còn cho tôi một bản. Không nhớ Tin Việt có đăng hay không. Phần tôi, số phận những trang giấy rời nầy bị thử thách với nhiều lần thay đổi chỗ ở. Đến nay 2015 thì đã 30 năm, hơn một thế hệ, nếu tính thế hệ là 25 năm. Bây giờ con của chàng thế nào cũng vô đại học như người trẻ năm xưa tung vào đời những vần thơ mà hình thức mang tính chất thời đại. Nhưng may, trong ruột còn giữ “hồn Nguyễn Huệ đánh quân Thanh”.
Để ăn Tết Con Dê này, tôi được lệnh bà chủ nhà thu xếp cái ổ quạ quanh bàn, tôi tìm được một trang thơ, không nhan đề mà có tên tác giả ở trên cùng; phải chăng làm photo bị mất đầu. Thôi vậy mà hay; tôi lấy câu đầu làm đề. Lại có một bài thơ!!!!!


♫♪♫ong bướm ngất ngây tòn ten ♫♪♫

Thursday, February 12, 2015

đôi guốc gỗ chiều ba mươi
tôn thất tuệ

Chiều ba mươi, chiều tuế mộ, phải dùng cả ba chữ cho nó dài lê thê như lòng mình vì nó dư một chữ, mộ là chiều như mộ khúc, serenade, mang tính chất giao tiếp với đêm và chưa thành dạ mà viết dạ khúc, nocturne.
Những ngày ngồi chơi xơi nước, tôi hay đến nhà một cựu nhân viên chính phủ VNCH, ông cứ nhắc tui: sau nầy anh có quyền hành (sic) thì cho công chức nghỉ ngày ba mươi vì nó quan trọng hơn cả ngày mồng một. Ngày cúng ông bà anh biết rồi chớ.

Nhưng tôi nhìn thêm ngày ba mươi là ngày của người nghèo: chợ hai mươi chín chợ nhà giàu, chợ ba mươi chợ nhà nghèo. Hai mươi chín gồm những ngày trước, phải kể từ 20 tháng chạp. Ngó qua bên tây phương, trước Noel gần cả tháng, người giàu đã lên trại thông mua cây ngo thật to, hay mua sớm giá rất cao. Còn phe nghèo chờ đến trưa 24 mua mấy cây ôi.

Tết tạo ra một số người "mua đầu chợ bán cuối chợ", mua quấy quá cái gì đem bán kiếm chút tiền và chờ cho đến gần chiều ba mươi mới mua sắm cúng tết trong lúc nhà giàu đã lên mâm lên cổ. Trên đôi thúng gióng, thế nào cũng có vài cây bông thọ, bứng nguyên cục đất bỏ vào hai ngọn lá thơm thành chữ thập. Mãi cho đến gần đây tôi mới biết ý nghĩa của bông thọ là để lấy phước, theo sự tin tưởng của trong Nam. Bông thọ tròn vo như một thứ viên mãn, tròn trịnh của trời đất, của triết học đông phương. Ở Huế có loại bông thọ tre. Tre?, đúng bamboo ấy mà. Lấy thanh tre, bào mỏng giữ lên phía trên như một đầu tóc xoắn tròn, nhuộm vàng hay đỏ ngả vàng cắm ở trang thờ.

Trở lại chợ 30, bạn sẽ thấy, em ơi hoa rụng tơi bời, giờ đây giấc mộng tan rồi. Những thứ còn lại cho ta thấy mức tiêu thụ của người dân. Thôi hãy thu xếp cho xong. Nhưng sự thể ấy cũng giúp cho người nghèo làm tròn việc đáp ơn tổ tiên, tưởng niệm chiều linh thiêng, chiều tuế mộ.

Những năm còn tiều học, đến Tết là tôi đi bộ qua Thương Bạc xem hàng chưng bán, thích nhất là cây dành dành, đào nguyên gốc mà thả sống trong nước, tôi nhớ nó giống như gardena mẫu đơn của Mỹ, những con cá long nhãn, đuôi phướn. Tôi thấy các chậu cúc, thược dược. Từ những thứ ấy tôi biết thêm chữ "vàng Bảo Đại", màu vương giả. Về sau tôi thấy thân sinh của Thạch Trúc trồng những hoa ấy trong nhà đẹp làm sao.

Dạo ấy tôi sống bên nhà ngoại. Một hôm cậu Cửu la oai oái đêm qua có kẻ vô cưa ngang cây mai. Cây mai rất quen thuộc nên tôi có thể hình dung những cành bị cắt. Do đó, buổi đi Thương Bạc hôm ấy bắt đầu sớm hơn và tôi đi khắp chợ xem thử có ai cầm cành mai bán hay không. Có vài người cầm cành mai bán, nhưng các cành rất nhỏ so với nhánh mai bị cưa trộm.
Hôm ấy 29 Tết, tôi thấy một người lớn tuổi cầm nhánh mai, mà bên dưới đã hui cháy đen như thường làm (để kéo dài sức sống cành hoa). Ông đi chân đất và đem theo một đứa con trai chừng bảy tuổi cũng chân không. Khi đã xế chiều tôi đi về; trước tôi trên cầu Trường Tiền hướng về phía An Cựu, hai cha con ông ấy cũng đi và mang theo cành mai, có nghĩa không bán được.

Hôm sau ngày 30, tôi trở lại như thói quen và canh chừng có ai bán mai trộm nhà mình hay không. Hai cha con ông ấy vẫn mang cành mai cũ ra bán. Quá giữa trưa tôi vẫn thấy ông kiên nhẫn cầm bảo vật ấy. Vì ngày Tết, tôi phải vào phía Tam Tòa nhà bác tôi, phía trước nhà ông tổng giám thị Đóa. Xế chiều, tôi trở về Bến Ngự.

Và trên cầu Tràng Tiền như hôm qua hai cha con hướng về hữu ngạn. Người cha hình như không ôm cầm cái gì cả nhưng thằng con có đôi guốc gỗ mang quanh cổ như vòng hoa chiến thắng. Tôi chỉ ghi nhận như rứa.
Hơn 60 năm, hôm nay tôi viết lại, nước mắt chảy hồi nào không hay. Anh chị em chúng ta đã là cha mẹ, ông bà nội ngoại. Lúc nhỏ cha mẹ chúng ta hay nói nuôi con mới biết công ơn cha mẹ.

Đứng ít nhất hai ngày trời bán cho được cành mai mua cho con đôi guốc gỗ. Ông có cưa trộm cành mai của kẻ khác không? Nếu có, xin cho tôi chia xẻ nghiệp quả nầy, xin cho tôi cùng sám hối. Và xin trời đất, các đấng linh thiêng ghi cho ông cái tội sinh phúc. "Felix culpa, felix culpa", cái tội phải làm người cha nghèo.--









Wednesday, February 11, 2015

14 hay 16 câu hỏi Phật không trả lời?

Rainforest Palms


 14 hay 16 câu hỏi Phật không trả lời?

Bài 14 câu hỏi Phật  không trả lời  tôi có gởi cho web của cựu học sinh Duy Tân Phan Rang và được một độc giả tham luận in lại ngay đây; tiếp theo đó tôi cũng xin in lại phần hồi đáp của tôi.


      Em rất cảm kích bài Việt dịch của anh từ tác giả Peter Della Santina: 14 câu hỏi Phật không trả lời (anh có kèm theo bản chữ Anh. Tốt lắm).
     Nhưng để làm rõ bài viết của Peter Della Santina, em xin được cung cấp cho anh hai tài liệu liên quan đến điều “14 câu hỏi Phật không trả lời. ”
      1- Nội dung của vấn đề trên được chép lại trong kinh số 63 MÀLUNKYASUTTAM, Trung Bộ Kinh (Majjhima NiKàya) quyển 2 (nxb Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, Saigon 1974), được cố HT Thích Minh Châu (1920-2012) dịch từ chữ Pàli: Màlunkya tiểu kinh. Cả phần chữ Pali và Việt ngữ dài 16 trang khổ lớn chữ vừa.

      2- Vì nó hơi dài (so với khuôn khổ của trang web) nên em xin cung cấp cho anh phần tóm tắt. Người tóm tắt là Sư cô Thích Nữ Trí Hải (1938-2003), như sau:

      Malunkyaputta (Man đồng tử) định bụng sẽ hoàn tục nếu Phật không giải đáp cho mình bốn vấn đề: Thế giới thường hay vô thường (thời gian), hữu biên hay vô biên (không gian) ; thân và mạng (tự ngã) là một hay khác; Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết (Như Lai). Mỗi lập trường đều bao hàm bốn câu: một chính đề, một phản đề, một phối hợp cả hai và một phủ nhận cả hai, thành 16.
      Man đồng tử đi đến bạch Phật: Ngài biết thế nào thì hãy trả lời thế ấy, và nếu không biết hãy thẳng thắng đáp là không biết.
      Phật hỏi lại: khi ông xuất gia có được ngài hứa hẹn sẽ giải đáp những điều ấy không. Ông đáp không, Phật dạy do vậy ngài không có gì ràng buộc. Nếu ai xuất gia để mong Phật giải đáp những vấn đề ấy, thì họ sẽ chết mà vẫn không được thỏa mãn.
      Ví như người bị trúng tên độc, không lo rút tên ra mà muốn biết lai lịch người bắn mũi tên, tính chất của dây cung và cái tên đã bắn, thì người ấy sẽ chết trước khi biết được. Vì đời sống phạm hạnh không dính dấp đến các vấn đề siêu hình. Dù cho thế giới này thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên... thì vẫn hiện hữu, sinh già bệnh chết sầu bi khổ ưu não cần phải đoạn trừ ngay trong hiện tại. Do vậy những gì Phật không giải đáp, hãy thọ trì là không giải đáp, đó là các câu hỏi thuộc phạm vi siêu hình; vì chúng không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
      Những gì Phật có giảng dạy, hãy thọ trì là có giảng dạy, đó là bốn chân lý: Đây là Khổ, đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt. Vì những điều này có liên hệ đến mục đích, đưa đến ly tham, giác ngộ, niết bàn.  
(Thích Nữ Trí Hải, Kinh Trung bộ tập 2 -Tóm tắt và chú giải)

      Có điều này em muốn nói với anh:

      1- Nếu có dịp anh đọc suốt bài kinh này trong bản dịch của HT Thích Minh Châu, tức bản dịch từ nguyên văn chữ Pàli, anh sẽ không thấy có chỗ nào “Đức Phật mô tả những câu hỏi này như một cái lưới và không muốn bị kéo vào... “ như Peter Della Santina đã viết (Buddha remained silent when asked these fourteen questions. He described them as a net and refused to be drawn into such a net of theories, speculations and dogmas.)

      2- Đặc điểm của Kinh tạng Pàli (gọi là Nikàya) thường lặp đi lặp lại một câu, một ý nên rất dài dòng làm người đọc có thể mất kiên nhẫn, có lẽ chính vì thế mà sư cô Trí Hải, một tu sĩ thông tuệ và lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam, cũng là một trong số vài đại đệ tử của HT Thích Minh Châu, phải bỏ công tóm tắt và chú giải Trung Bộ Kinh bản Việt dịch của HT Thích Minh Châu.

      3- Em xin trích nguyên văn sau đây lời của Sư cô Trí Hải ở trang đầu tiên cho ba quyển tóm tắt Trung Bộ Kinh để anh thấy sư cô rất cẩn thận khi làm công việc này:

      Kính ĐỨC NHƯ LAI, BẬC A LA HÁN, CHÁNH ĐẲNG GIÁC
      Kính lễ Hòa thượng (thượng) MINH (hạ) CHÂU phiên dịch Nikaya
      Kính lễ Đại đức Nanamoli và Bodhi cùng chư vị luận sư Nikaya mà con tham khảo
      Xin gia bị cho con diễn dịch không lạc xa Thánh ý.
      Xin cho Pháp bảo này ai được đọc sẽ xa lìa kiến chấp, phát tâm Vô thượng Bồ đề.
      Nguyện cho con được như Phật “vị hữu tình sinh ra đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho nhân loại và chư thiên”.    

 Em chỉ đưa ra sự thật mà thôi, anh ạ. Cảm ơn anh đã mang lại điều mới lạ cho trang web của chúng mình.

      Em không biết Peter Della Santina là ai?

      Tây Đô, những ngày cận Tết Ất Mùi (Feb. 10th 2015)
      ĐKP (Đỗ Kim Phụng)


ttt phúc đáp

Vì không biết chữ Phạn, không có bản đối chiếu, tôi đã không dịch tên cuốn kinh liên hệ; tuy vậy tôi vẫn paste nguyên bản của Peter Santina. Khi dịch tôi cũng ngần ngại ví như  “the self” mà dịch là ngã thì bị khiển trách, vô ngã mà nhưng tôi vẫn dịch là ngã vì Phật nói đến chân ngã là điều chúng sinh phải đạt; ngã nằm trong tứ quý (?!): thường lạc ngã tịnh, nói rất nhiều trong Kinh Niết Bàn. Đọc phần trích của anh tôi thấy an lòng vì Cô Trí Hải dùng chữ  “tự ngã” để giải thích chữ “mạng”. Bản dịch của tôi thế nào cũng có chỗ hạn hẹp.
Đoạn nầy nằm trong chương 30 Vi Diệu Pháp trong cuốn The Tree of Enlightenment do một hội PG ở Đài Loan ấn tống miễn phí. Bên dưới, tôi sẽ nêu cái link để độc giả có thể đọc “on line” hay down load. Khi được cuốn sách trên tay tôi không làm công việc mà tôi thích nhất: giới thiệu sách, mà tôi dùng thời gian và “số trang” để viết về một ngoại thiên: bối cảnh lịch sử văn hóa trước và đồng thời PG ra đời. Tôi có đăng trên web nầy cùng bản dịch chương nầy.
Gần ba năm sau tôi mới biết cuốn sách đã có người dịch. Thượng Tọa Tâm Quang (khác với Tâm Quang Vĩnh Hảo thuộc Khối Thân Hữu Già Lam thiên về chính trị nhiều hơn giáo lý) làm công việc nầy. Cây Giác Ngộ hiện có trên một web ở Úc (xem link bên dưới) và hình như có người đã ấn tống bản dịch nầy ở tiểu bang Florida US. Tôi chưa đọc và không thể lượng định phẩm chất.

Peter Della Santina chết 2006 khi đang dạy kinh đại thừa cho sinh viên làm luận án Master ở Penang, Mã Lai. Sinh ở Mỹ, nghiên cứu triết đông ở Mỹ, Santina theo học tiếp ở Đại Học Delhi, có bằng tiến sĩ PhD. Ông đã thuyết giảng tại nhiều đại học Mỹ và Đông Nam Á trong 25 năm. Ông cũng đã tu hơn 20 năm tại Tây Tạng. Ông đã xuất bản nhiều sách, đáng chú ý nhất là các tác phẩm về Long Thụ.

Nếu không vì tự ái địa phương, người đọc Cây Giác Ngộ sẽ ghi nhận thiện chí của tác giả là để “tune up” Phật Tử Á Châu đã lâu năm trùng chủng lụn bại như chiếc xe chạy đã lâu phải thay nhớt, thay bu ri, coi lại bình điện. Vì vậy cuốn sách của ông đi từ những vấn đề rất thông thường đến những chuyện khó như sự xuất hiện của ba ý niệm pháp thân báo thân ứng thân (kinh Lăng Già Tâm Ấn), vi diệu pháp v.v… Ông cũng mô tả khá đầy đủ cách thức trì hành ở Tây Tạng.
Santina học Phật qua đường Ấn Độ và Tích Lan. Có lẽ vì vậy cuốn sách không nói tới Hoa Nghiêm và cũng không nói về các trường phái bên Tàu, ví như không dùng phương pháp ngũ thời của Thiên Thai Tông. Tuy vậy Santina cũng đã thuyết giảng nhiều năm ở Đài Loan. Khi chứng minh PG không phải là một tôn giáo theo khuôn của xã hội (society bound), Santina chỉ nói qua các hình thức PG các nước gồm Nhật Bản (ở nước nầy tông Hoa Nghiêm – Kegon rất mạnh cũng không được tác giả chú ý).
Dokimphung đã truy cứu sách vỡ cho thấy không có câu Phật nói về cái bẫy. Thiết nghĩ đây là lối diễn dịch của Santina, hoặc có thể ông đã gặp ở các kinh và luận khác. Dẫu sao lời nầy không tạo ra mâu thuẩn hay quá xa với ý chính.
Sự im lặng của Phật khá kỳ thú. Có người cho rằng Phật bịp; có người cho rằng Phật ích kỷ. Ngài nói Ngài không bịp ai cả, cái chi cũng minh bạch; Ngài muốn cho chúng sinh hơn hoặc bằng mình, Ngài không phải là ông thầy dạy võ giữ miếng phòng thân khi học trò phản. Đúng như Thích Nữ Trí Hải nói, chúng sinh phải thấy chứ không nhờ ai thấy hộ.
Những câu hỏi nầy cũng chỉ là một trong nhiều cách thức trình bày quan điểm của PG về các vấn đề siêu hình mà Phật khuyên chúng sinh nên tránh cái bẫy của chúng, nếu muốn giải quyết các khổ đau hiện tại gây nên bởi ba mũi tên độc: tham sân si, qua ví dụ Cô Trí Hải nêu (người bị tên độc cần chữa trị ngay, không cần hỏi gì thêm). Có một cuốn kinh rất dày mà chỉ lui tới ý kiến nầy.
Kinh Niết Bàn có một chương dài nói về mấy chục cái “không” (cần phân biệt với ba không của ông Thiệu và tam vô của CS). Mấy chục cái không nầy là mấy chục phương pháp không đưa đến giác ngộ: ví như đứng một chân, xả tóc dài quấn vào thân cây để diệt cái ngã, đi đầu xuống đất (Tây Độc Âu Dương Phong của Kim Dung đi đầu xuống đất về sau bị tẩu hỏa nhập ma), nghĩ đến những thứ vô tưởng không cần thiết. Khổng Tử cũng gần giống: kính nhi viễn chi. Phật rất bình thường qua Kinh Kim Cang; Ngài tự rửa bình bát và trải chiếu ngồi thuyết giảng.
Trở về với chuyện câu hỏi; Santina nói có 14 câu nhưng Ni Sư Trí Hải thì nói có 16 câu. Trích: Malunkyaputta (Nam đồng tử) định bụng sẽ hoàn tục nếu Phật không giải đáp cho mình bốn vấn đề: Thế giới thường hay vô thường (thời gian), hữu biên hay vô biên (không gian) ; thân và mạng (tự ngã) là một hay khác; Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết (Như Lai). Mỗi lập trường đều bao hàm bốn câu: một chính đề, một phản đề, một phối hợp cả hai và một phủ nhận cả hai, thành 16. ngưng trích
Santina nói có 14 câu vì  ở vấn đề cuối, ông không nêu “ phối hợp cả hai hay phủ nhận cả hai”  Is the self identical with or different from the body? Nếu thêm vô hai câu nữa “both? Or neither?” thì thành 16 câu.




Thích Nữ Trí Hải, tục danh là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, có người chị đi tu ở Chùa Viên Thông Huế; cô em ruột là Phùng Thăng cũng đi tu và bị Miên giết. Hai chị em đã dịch Siddharta của Herman Hess thành Câu Chuyện Của Dòng Sông. Ngày nào nhà tôi tụng kinh cũng cầu nguyện cho hai chị em nầy. Phùng Khánh chết vì tai nạn xe hơi ở Nha Trang trong khoảng thời gian có rất nhiều tai nạn giao thông gây nhiều dấu hỏi, ví như Cha Lan thoát chết đường tơ kẻ tóc dưới gầm xe tải hạng nặng  vv và vv. Rất đáng buồn, có rất nhiều bài vô cùng bựa hiện lưu hành dưới tên Thích Nữ Trí Hải. Trùng tên thì không nói nhưng mượn danh thì thật dơ dáy như trong tình trạng văn hóa hiện nay.
Nhiều người tưởng chính của Phùng Khánh đã chuyển những bài mà hình thức lẫn nội dung không thể của Phùng Khánh. Văn chương thì toàn những chữ thất học mới xuất hiện cùng những quá thai như “ko” (không) “wá” (quá). Tôi chưa gặp cô Trí Hải nhưng nhiều lần tiếp xúc với Phùng Thăng. Phùng Thăng – tuy người  Huế– nói rằng văn chương VN phải trong sáng như Tự Lực Văn Đoàn. Câu Chuyện Của Dòng Sông biểu lộ tinh thần ấy. Ni Sư Trí Hải làm sao viết những chuyện bịp người như ri:    Con rùa lâu năm của thầy sống trong hồ sen của chùa ở Hồng Ngự. B52 thả bom ngay hồ, con rùa bị bắn tung ra xa mà còn sống. Gần 1980 thầy trở về khi mùi thuốc súng vẫn còn nghe hôi, thầy biết con rùa trở vể chờ thầy trở lui trùng tu chùa. B52 đã ngưng hoạt động từ 1972 và trước đó chỉ oanh kích vùng núi như Tây Ninh, vùng 3 Chiến Thuật. Bom không phải là viên đạn có thuốc súng (black powder, poudre noir) mà nếu có thì mấy chục năm làm sao còn nghe mùi?

Santina ca ngợi Đức Thích Ca đã dùng một phương pháp dân chủ khi chuyển pháp luân. Đó là lối truyền khẩu vì không phải mọi người đều biết viết biết đọc, tuy thời ấy Ấn đã có ngôn ngữ; mà ngôn ngữ nầy chính là gốc các thứ tiếng Âu châu như Anh Pháp. Vì vậy, kinh thường lập đi lập lại rất dài. Nói thêm, hai vị hầu như đồng thời là Socrate và Khổng Tử cũng không viết; mấy trăm năm sau Jesus cũng làm như vậy. ĐKP có kiên nhẫn đọc những lần lập lại mà chính tôi không đủ sức cho nên ít khi đụng tới những cuốn dịch từ Pali tuy có chữ ký của dịch giả Minh Châu. Nhật Bản đã bỏ những lần lập lại, và bỏ những chỗ không cần thiết khi chuyển qua lối viết hiện thời. Vì không biết đường lối khẩu truyền, nhiều người đã nói rằng Phật bị nhét vào miệng những thứ ấy, vì Ngài không thể thuyết nhiều kinh đến như vậy cho dù bỏ cả thời gian ăn uống, vệ sinh cá nhân. Có thể cùng một đề tài, đệ tử của Ngài thêm nhiều ví dụ nầy khác quanh một ý chính. Các kỳ kết tập kinh điển ghi lại tất cả mà sinh ra dài đến thế.
Thích Minh Châu khi còn là chú Nam (Đinh Văn Nam) thường xuống Bến Ngự ghé lại nhà tôi, cha tôi chỉ điểm Hán Văn (cha tôi không biết Phật Pháp tuy là bạn với ông Lê  Đình Thám; chỉ làm Phật sự lai rai).
Bấy lời xin đáp lễ cùng người Tây Đô dokimphung;
Tây Đô viếng Bến Ninh Kiều,
có rùa rang muối hột điều nhớ thương.

The Tree of Enlightenment
Cây Giác Ngộ
Bối cảnh trước thời PG

Sunday, February 8, 2015

14 câu hỏi Phật không trả lời



Maya Giving Birth to the Buddha (by Cristian Violatti)
hình không ghi chú của Ancient History Encyclopedia
14 câu hỏi  Phật không trả lời
Peter Della Santina, ttt dịch

Thế giới thường hay vô thường (thời gian), hữu biên hay vô biên (không gian) ; thân và mạng (tự ngã) là một hay khác; Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết (Như Lai). Mỗi lập trường đều bao hàm bốn câu: một chính đề, một phản đề, một phối hợp cả hai và một phủ nhận cả hai. 
Ðức Phật im lặng khi được hỏi mười bốn câu hỏi này. Ngài mô tả những câu hỏi này như một cái lưới và không muốn bị kéo vào cái bẫy lý thuyết, ức đoán và giáo điều như thế. Ngài nói đó là vì Ngài không bị ràng buộc vào tất cả những lý thuyết và giáo điều nên Ngài đã được giải thoát. Ngài nói những ức đoán như thế đem đến bồn chồn, lo lắng, hoang mang, và đau khổ, và chính nhờ cách tự giải thoát ra khỏi những thứ nầy mà ta có thể đạt giải thoát (toàn diện).
Nhìn chung, mười bốn câu hỏi này ngụ ý hai thái độ căn bản đối với thế giới này.
Ðức Phật nói có hai quan điểm căn bản, quan điểm sự tồn tại và quan điểm về sự không tồn tại; người ta thường quen nghĩ về những điều này và chừng nào người ta còn vướng mắc vào hai quan điểm này chừng đó không đạt được giải thoát. Cho rằng thế giới bất diệt, thế giới vô tận, Như Lai tồn tại sau khi chết, và cái ngã độc lập khỏi xác thân, phản ảnh quan điểm tồn tại. Cho rằng thế giới không bất diệt, thế giới hữu hạn, Như Lai không tồn tại sau khi chết và cái ngã đồng nhất với xác thân, phản ảnh quan điểm không tồn tại.
Hai quan điểm này được giảng dạy bởi các đạo sư của các trường phái khác trong thời Ðức Phật. Quan điểm tồn tại thường là quan điểm của những người Bà La Môn, quan điểm không tồn tại thường là quan điểm của những nhà duy vật và những người theo chủ nghĩa khoái lạc. Khi Ðức Phật không muốn bị kéo vào cái bẫy của quan điểm giáo điều về tồn tại và không tồn tại, thiết nghĩ rằng Ngài có hai điều ở trong tâm: (1) hậu quả đạo đức và (2) thực tế là những quan điểm về tuyệt đối tồn tại hay không tồn tại không đúng với cung cách, chiều hướng thực sự của các sự vật.
Thí dụ, những người theo chủ nghĩa bất diệt thấy cái ngã thường còn và không thay đổi. Khi xác thân chết, cái ngã không chết vì cái ngã có bản chất không thay đổi. Nếu trường hợp này là đúng, dù xác thân làm gì, hành động của xác thân không ảnh hưởng đến số phận cái ngã. Quan điểm này không tương hợp với trách nhiệm tinh thần vì nếu cái ngã bất diệt và không thay đổi, nó sẽ không bị ảnh hưởng bởi hành động thiện hay bất thiện. Tương tự như vậy, nếu cái ngã đồng nhất với xác thân, và cái ngã chết khi xác thân chết, thì cần gì phải nói về hành động của cái thân xác, chết là hết, không có sự hạn chế nào về hành động. Tuyệt đối tồn tại và không tồn tại đều không thể xảy ra, bởi lẽ sự vật tồn tại do các căn nguyên phụ thuộc lẫn nhau.
Thế giới tồn tại tùy thuộc vào nguyên nhân và điều kiện - vô minh, tham và luyến chấp. Khi vô minh, tham và luyến chấp hiện diện, thế giới tồn tại; khi chúng không hiện diện, thế giới ngừng tồn tại. Bởi vậy câu hỏi về tuyệt đối tồn tại và không tồn tại về thế giới không thể trả lời được.
Tồn tại hay không tồn tại được xem như khái niệm tuyệt đối, không áp dụng cho những sự vật thực sự. Ngài nhìn thấy những loại siêu hình tuyệt đối không thể áp dụng đối với những sự vật như thế.  Ðó là lý do tại sao Ðức Phật không có ý kiến với những lời tuyên bố tuyệt đối về bản chất của sự vật.

Fourteen questions
not answered by the Buddha
TraditionTally, there are fourteen unanswerable questions. We find them, for instance, in the Chulamalunkya Sutta. These fourteen questions are grouped into three categories: The first category contains eight questions that concern the absolute or final nature of the world: Is the world eternal or not eternal, or both or neither; finite or not finite, or both or neither? You can see that this category includes two sets of questions, and that both sets refer to the world. The first set refers to the existence of the world in time, and the second to the existence of the world in space. The second category contains four questions: Does the Tathagata exist after death or not, or both or neither? These questions refer to the nature of nirvana, or ultimate reality. The third category contains two questions: Is the self identical with or different from the body? While the first category of questions refers to the world and the second to what is beyond the world, this last refers to personal experience. Do we die with our bodies, or are our personalities altogether different from and independent of our bodies? The Buddha remained silent when asked these fourteen questions. He described them as a net and refused to be drawn into such a net of theories, speculations, and dogmas. He said that it was because he was free of the bondage of all theories and dogmas that he had attained liberation. Such speculations, he said, are attended by fever, unease, bewilderment, and suffering, and it is by freeing oneself of them that one achieves liberation.

Let us look at the fourteen questions in general to see whether we can understand why the Buddha took this stand. Generally, the fourteen questions imply two basic attitudes toward the world. The Buddha spoke of these two attitudes in his dialogue with Maha Kachchayana, when he said that there are two basic views, the view of existence and the view of nonexistence. He said that people are accustomed to think in these terms, and that as long as they remain entangled in these two views they will not attain liberation. The propositions that the world is eternal, that the world is infinite, that the Tathagatha exists after death, and that the self is independent of the body reflect the view of existence. The propositions that the world is not eternal, that the world is finite, that the Tathagata does not exist after death, and that the self is identical with the body reflect the view of nonexistence. These two views were professed by teachers of other schools during the time of the Buddha. The view of existence is generally the view of the Brahmins; that of nonexistence is generally the view of the materialists and hedonists. When the Buddha refused to be drawn into the net of these dogmatic views of existence and nonexistence, I think he had two things in mind: (1) the ethical consequences of these two views, and, more importantly, (2) the fact that the views of absolute existence and nonexistence do not correspond to the way things really are. For example, the eternalists view this self as permanent and unchanging. When the body dies, this self will not die because the self is by nature unchanging. If that is the case, it does not matter what this body does: actions of the body will not affect the destiny of the self. this view is incompatible with moral responsibility because if the self is eternal and unchanging, it will not be affected by wholesome and unwholesome actions. Similarly, if the self were identical with the body and the self dies along with the body, then it does not matter what the body does. If you believe that existence ends at death, there will be no constraint upon action. But in a situation where things exist through interdependent origination, absolute existence and nonexistence are impossible. Another example drawn from the fourteen unanswerable questions also shows that the propositions do not correspond to the way things really are. Take the example of the world. The world does not exist absolutely or not exist absolutely in time. The world exists dependent on causes and conditions – ignorance, craving, and clinging. When ignorance, craving, and clinging are present, the world exists; when they are not present, the world ceases to exist. Hence the question of the absolute existence or nonexistence of the world is unanswerable. The same may be said of the other categories of questions that make up the fourteen unanswerables. Existence and nonexistence, taken as absolute ideas, do not apply to things as they really are. This is why the Buddha refused to agree to absolute statements about the nature of things. He saw that the absolute categories of metaphysics do not apply to things as they really are.

source: The Tree of Enlightenment