add this

Tuesday, May 24, 2016

chết trên sân khấu



chết trên sân khấu
Tôn Tht Tu

Một cô gái đang bị rắc rối với cảnh sát ở cây xăng góc đường. Cảnh nầy quá thường; nhưng khi biết cô ấy là con một người trong xóm thì ta thấy có gì bất ổn, tuy không sôi động, trong lòng. Nếu là con của một người thân thì sự xốn xang tăng thêm. Nói khác càng có liên hệ thì niềm đau thương càng lớn.
Thính giả, người thưởng ngoạn, đã thấy Phạm Duy là một thực thể trong đời sống, họ nghe PD từ lỗ tai xuống trái tim như nghe Beethoven. Họ gần gũi với PD trên vecteur nghệ thuật. Khi thiên thần sụp đỗ, thiên thần không khốn đốn mà khách ngưỡng mộ sống dở chết dở. Họ muốn giết kẻ phụ bạc mà không giết được nên có người đã tự giết mình trong ý hướng giết kẻ kia một cách tiêu cực (đồng hóa với người ghét/thương).
Chính vì vậy, câu chuyện PD không bao giờ dứt. Nó không dứt tùy theo từng người, tùy theo nồng độ liên hệ. Trong lãnh vực súng ống, range là độ xa giữa họng súng và mục tiêu; "shoot in close range" là kê súng sát mà bắn thì có chết thôi.
Sự liên hệ giữa người và người là một huyền nhiệm, được xây dựng tùy cá nhân, tùy quá khứ vô thức, tùy hoàn cảnh giáo dục; có những sự liện hệ mà suy nghĩ kỹ có khi mang màu sắc linh thiêng.
Những dòng trên đây tôi viết khi một nữ văn hữu (correspondante) cho biết đã vỡ mộng vì một video có Khánh Ly hát mừng tổng lãnh sự VC; về sau vài ý nầy được dùng lại trong bài về Phạm Duy khi ông chết.- ghi chú 2016].
Tôi hết sức thông hiểu sự vỡ mộng của bà bạn email nầy; HTC chưa bao giờ nói nhận định nghệ thuật về Khánh Ly nên không biết nỗi niềm ấy sâu xa thế nào. Tôi xin nói qua cái nhìn của mình.

Thiết nghĩ, Khánh Ly phải bổ túc cho Thái Thanh thì nhạc PD mới lên tuyệt đĩnh. Nhạc Trịnh Công Sơn không đủ cái thiết tha cay đắng, hoan lạc tình người để khai thác giọng ca của KL. Nhạc TCS tạm cho nó cái tên cho đẹp như siêu thực, tượng trưng. Ca khúc Da Vàng chỉ vá víu và đơn điệu.
Kim Tước không chen vào nhạc PD vì Kim Tước chỉ thích hợp cho loại bán cổ điển như của Vũ Thành, Cung Tiến và một ít bài của PD trong phong cách ấy như Chiều Về Trên Sông, Đường Chiều Lá Rụng.
Thái Thanh, trái với tin tưởng của nhiều người, không hát hết nhạc PD. Không ai có thể qua mặt cô em vợ trong những bài như Kỷ Vật Cho Em, Tình Hoài Hương, Kỷ Niệm, vô số và vô số, kể cả Beau Danube Bleu. Cô út Phạm thị Thái được trời cho cái giọng hát khá nhiều thánh thiện nên khó diễn tả những cái có phần éo le như Hẹn Hò: một người ngồi bên ni sông ....
May mà KL không đi theo con đường của nhiều ngệ sĩ trình diễn “chuyên trị” một tác giả. Nói khác KL không đeo sống chết nơi ông "liệt… sĩ" xứ Huế nầy.
May, vì sao may? Khung trời (the scope) của TCS chỉ nằm trong phạm vi e ấp nhỏ nhoi kiểu Lê Uyên Phương; mấy bản phản chiến nới rộng scope ấy một chút nhưng bị lệ thuộc vào một khung cảnh địa dư cụ thể là cuộc chiến VN. Hãy coi xem: chiều chủ nhật buồn ... Hơi nhạc vì vậy cũng bị lệ thuộc vào cái khung trời ấy. TCS đã cố đi xa hơn như nới rộng không gian trong Phôi Pha và Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ.
Đáng lý không gian ấy đã phải rất to lớn vì TCS dùng những danh từ rất gợi cảm, trái với lời chắc nịch của PD. Thật ra ý niệm về một scope là một cảm nhận trực giác. Hãy so sánh Mozart và Chopin. Mozart bệnh hoạn từ nhỏ và do đó yểu mệnh, không phải chết vì âm mưu của Salieri như trong phim Amadeus. Nhưng Mozart rất đàn ông, nhạc của ông nhanh nhất trên thế giới, linh hoạt vô cùng. Chopin cũng mắc bệnh phổi và có cuộc tình éo le với George Sand, nhưng cuộc sống hầu như bị chi phối bởi mặc cảm suy yếu, chính vì vậy nhạc Chopin như một tiếng nói nhỏ, nhưng nghệ thuật của ông rất cao cường làm cho các sáng tác trông rất tự nhiên; các nhà khảo cứu cho thấy ông đã nhào nắn nên không phóng khoáng như Mozart. Dư luận hầu như đồng thanh rằng TCS đã mất dương tính (virilité); nếu đúng thì đó là lý do làm cho scope của chàng bị nhỏ lại.
Khánh Ly đã không theo con đường "chỉ vì một soạn giả", một khi nhạc TCS đã dư thừa ế ẩm. Nàng tìm những sinh lộ khác như Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, nhạc tiền chiến. Nhờ giọng ca không ai bắt chước được, tự khắc chế, KL đã đạt tỷ số hát hay cao nhất sau Thái Thanh. Lệ Thu hát không đều; có những bài hát rất bựa mà tôi phải khôi hài nói tô bún cho Lệ Thu thiếu ớt trong mùa mưa lạnh ở Huế. Trong "thế hệ" nầy hầu như chỉ một mình KL được dự vào "club cổ điển" gồm tay tổ Thái Thanh, rồi đến Kim Tước, Mai Hương..., Sự lượng định nầy có phần hơi quá nhưng là một cách nhìn KL.
Những nhận xét trên chưa đủ diễn tả cuộc đời hát ca của KL; chúng chỉ phụ thêm những nhận định chung của nhiều người. Những ưu điểm nghệ thuật nầy nếu ngừng ở chỗ đó thì không có việc gì thêm cần nói.

Nhưng KL cũng như Lệ Thu, cũng như Ngọc Lan, đối với chúng ta, không giống như Nana Mouskouri, Mireille Mathieu hay Dalida, Patty Page v.v... Bởi lẽ, giữa người thưởng ngoạn và nghệ sĩ trong khung cảnh vô cùng đặc biệt của lịch sử hiện đại, có một mối liện hệ trên nhiều vecteurs; có lẽ phức tạp hơn trường hợp nghệ sĩ Cuba lưu vong ở Miami. Một điều không thể chối cải, sự khác biệt ý thức hệ ảnh hưởng đến nhận định của người nghe, người đọc. Nhưng ở những người quen sống trong không khí khai phóng miền Nam, nó không cộc lốc dị hợm như phía bên kia vĩ tuyến 17. Nếu hôm nay chúng ta bị đem về năm 1946 hoặc 1954, chúng ta sẽ áp dụng cách phê phán truyện Kiều theo chỉ huy của đảng và nói trường hợp KL là hoa lài cắm bãi cứt trâu. Vào thời ấy hai mục tiêu chà đạp là Tự Lực Văn Đoàn và Nguyễn Du.

Khánh Ly với lý tưởng màu Cờ Vàng!
Khánh Ly vinh danh Cờ Vàng
Nhưng tính cách cực đoan nhiều khi được việc. Gần hai tháng sau khi hạ màn mới tập trung cải tạo, khoảng thời gian nhiều người đã phải làm việc với chế độ mới và phải hát những bản nhạc mới. Họ quen nên cũng hát trong trại cho vui. Quản giáo cấm hát: không đủ tư cách hát nhạc cách mạng nhất là bài nào có tên ông già. Bọn trá hàng nầy ruột gan để chỗ khác. Rõ đúng theo Khổng Tử: nội ngoại bất tề sự bất thành.
Người miền Nam đã biết KL dự những phiên họp quan trọng ở Đà Lạt cùng với cha Lan, người tuyên bố chỉ có con đường cho VN là Mặt trận GPMN nhưng có kẻ vẫn dùng máy bay các loại đưa nàng vào bộ chỉ huy không quân để hát những bài phản chiến và có thể còn những việc khác. Rồi người ta lại khen nàng mặc áo có cờ vàng với cam kết sống chết với lập trường chống cộng.
Sau một thời gian im lặng, tưởng nàng tĩnh tâm nhưng thực tế mới phát giác KL đã về VN tuyên bố lung tung như Nguyễn Thanh Ty tố cáo. Nàng được tiếng khôn ngoan không một lời nhỏ khi TCS bị chỉ trích bởi Trịnh Cung và Liên Thành kéo theo cả ngàn lời bàn của độc giả. Nhưng đó là thời gian KL đã hát mừng nhân viên sứ quán CS. Cả một năm sau video của buổi sinh hoạt nầy mới đưa ra công chúng tuy bên VN người ta đã biết.
Khi xem khúc phim nầy, vợ chồng tôi giữ im lặng; hai hôm sau chúng tôi trò chuyện và đã gặp nhau trên nhiều nhận xét chính. Trước dịp nầy tôi đã năm lần viết ngắn về KL, mới nhất là nhân bài viết của Cao Mỵ Nhân. Tôi thấy mình đang đối diện với một KL cừ khôi can đảm bảo vệ TCS, tự tin trong tiếng hát.
Xem xong thấy mình không muốn ghét KL nữa nhưng không nghĩa là chấp nhận, không nghĩa là ủng hộ, không nghĩa là bỏ qua. Cảm nghĩ lúc đầu nó ra làm sao ấy.
Chỉ có thể giải thích một cách ngụy biện như thời Hy Lạp Cổ. Khi đã đạt một điều gì thì hay phá bĩnh mà chơi. Ví như PD qua mấy trường ca, qua mấy trăm bản nhạc hay ho, ông viết: một hai ba ta đi lính cả nhà. một hai ba ta đi lính cọng hòa hoặc "buồn chi bỏ qua đi tám. KL đã đạt danh vọng tiền tài nay không cần nữa, phá hết mà chơi. Nào có như vậy. KL muốn củng cố gia tài nghệ thuật và gia tài tiền bạc bằng con đường mới, trở vế vết xe của cha Lan ngày xưa Đà Lạt.

Về chính trị thì đã rõ; đại đa số khách ngưỡng mộ tìm nơi KL một đồng minh qua Người Di Tản Buồn; Đêm Chôn Dầu; Một ngày năm tư con bỏ nước ra đi v.v...nay thì KL hát khen người đã xua họ vào bước lưu đày, trại cải tạo, kinh tế mới ... KL là biệt kích văn nghệ theo kiểu mới không như kiểu của Hoàng Hải Thủy.
Về âm nhạc là một phá sản toàn diện. TCS nơi KL đêm ấy không hơn gì TCS trong đám ca sĩ choai choai sau 75, không biết nhạc sử, không ý niệm về cái đẹp (esthetique), tuy đến mức Thanh Lam la hét. Nét chính yếu trong nhạc TCS là nhịp rất chậm, trừ những bài về sau học theo kiểu ngoài Bắc trước 75 như người đi lên đồi cao, mẹ vỗ tay hoan hô hòa bình.
KL đã hát tham, làm thành điều kỳ dị gọi là liên khúc; mỗi bài một chút, hát nhanh hát gấp. Mây Hồng không nhẹ nhàng mà như đang bị hurricane thổi; bước chân của Hạ Trắng như bị kẻ cướp rượt qua công viên. Những bản nhạc ấy không thích hợp cho nhún nhảy mà nghề nhún nhảy KL lại không có. Thế mà KL cũng đã vung vít quờ quạng khá nhiều, nhúc nhích, xung xăng.
Ngạc nhiên vì sao KL lại biến những bản nhạc gạo cội của mình thành những presto dồn dập không đúng chỗ. Đó là về âm nhạc. Nhưng thực tế với giọng ca lứa tuổi gần 70, người ta còn hát chậm để còn chỗ mà thở. Patty Page đã làm điên đảo giới âm nhạc khi bà đã gần 80 mà hát hay hơn những bài gạo cội thời xuân sắc. Nhưng Patty không phung phí sức lực mà nuôi dưỡng giọng ca qua những bản "chữ ký" (signature song). Các nghệ sĩ về già đều giữ những lần trình diễn cũ làm sao cho chúng không mờ đi. Danh cầm Mỹ Van Cliburn, đoạt giải dương cầm Tchaikosky Nga thời Kroutchev, sau một thời gian im lìm, đã trở lại sân khấu và ông cũng đàn lại concerto năm xưa viết bởi Tchaikosky, tác phẩm đưa ông đến đĩnh cao trong đời nghệ sĩ.
Một điểm không đáng nói nhưng phải nói. Đó là cách ăn mặc, dù cô nói ngay khi bước lên sân khấu xin lỗi y phục không tươm tấc. Khánh Ly trong chiếc măng tô, quần tây, tóc búi sơ sài trông giống như mấy bà nội trợ lái xe vào Home Depot ngày cuối tuần mua vật dụng sửa nhà hay cây cối về trồng.
Đấy là một sự tính toán để biện giải về sau rằng nàng không cố ý hát hầu nhân viên ngoại giao CS mà bị ép trong một hoàn cảnh, nể nang hay quá yêu nghề. Không thể có chuyện ấy ở một người khôn ngoan như Khánh Ly: đã về VN trở lại Mỹ nói các giọng điệu khác nhau tráo trở ngọt ngào như sống chết với cờ vàng và tôi chỉ vì tiền và vì sợ bọn kháng chiến. KL hẳn biết chuyện xuất hiện nầy không đơn giản. Tô Văn Lai không nói gì với KL sao? Mắc gì KL phải đến đấy để bị ép lên hát!
Tính toán nầy chẳng may không giúp gì mà đã cùng những yếu tố khác đã đưa KL vào góc tối. Mãnh quần hồng hoen ố rượu rơi. Với thời buổi truyền hình ngày nay, dung mạo của nghệ sĩ không thể xao lãng. Trở lại Patty Page, lúc trẻ đâu có đẹp như các ca sĩ Mỹ khác, và không đẹp như KL. Nhưng tháng 11 năm 2010 có hình nằm trên trang bìa một tạp chí điện ảnh số 1 của Hollywood,  sắc diện tinh anh. Ở tuổi 84, Patty vẫn còn lưu diễn ở Mỹ và Canada, mỗi năm chừng 50 buổi. Khán thính giả không phải trông một bà lão lụm khụm ăn mặc bê bối.
Các bạn chớ vội tin những điều tôi viết, hãy xem cái video thì rõ hơn nữa. Nếu các bạn thấy tôi viết không quá đáng, nếu các bạn là ông bầu văn nghệ trình diễn, bạn có dám đem hai triệu dollars mời KL hát để đầu tư làm giàu hay không? Người bơm tin nầy rất thích trò lạm phát, tập tễnh nghề tin vịt.

Thật buồn, tôi không muốn viết nhiều, bỗng dưng tôi thấy quí mến cái chết chưa có, không có thật, nhưng có trong ước mơ của Dalida: tôi muốn chết trên sân khấu dưới những lằn đạn của ánh đèn chiếu rọi, trong sự ôm ấp của những bức màn nhung. Nơi đó, nơi sân khấu, tôi đã được sinh ra và sống lên, không gian dối, không xảo hoặc; tôi chỉ có một tội là hớp hồn dân Pháp tuy không nhiều như Đờ Gôn theo sự thăm dò dư luận. Nhưng tôi, Dalida, tôi không bá đạo không mánh mung như nhà chính trị già nua nầy, tôi hát trên sân khấu, chết trên sân khấu, công khai, không lén lút, chỉ có nghệ thuật, không mồm mép, lưu manh. [cập nhật 2016].Và tôi cũng quí mến cái chết có thật trên sân khấu của Jane Little, đại hồ cầm, ở Atlanta.
Sân khấu không phải là đất thành của những con tắt kè đổi màu. Những thứ hồn cô cốt cậu, ai ai cũng lánh xa, dù ở trên chiến tuyến nào hay trên quan điểm nào. Sân khấu linh thiêng như đền thờ nghệ thuật không dành cho những thứ lưu manh. Tôi không đồng ý với Trịnh Công Sơn trên nhiều điểm, nếu không nói là ghét. Nhưng ghép Khánh Ly với TCS ở chỗ chê lẫn chỗ khen, ở chỗ thích lẫn chỗ không thích thì tội nghiệp cho Sơn.

Phụ bản 1:

  Jane Little 87 tuổi đột quỵ bất tĩnh (và chết sau đó vài giờ) khi đang trình diễn với dàn nhạc giao hưởng Atlanta, ngày 16 thg 5, 2016. Bà đạt kỷ lục có thời gian dài nhất với cùng một dàn nhạc: 71 năm từ khi bắt đầu ở tuổi 16 năm 1945.

Phụ bản 2: 
  
  Dalida   Mourir Sur Scène

Viens mais ne viens pas quand je serais seule
Quand le rideau un jour tombera,
Je veux qu'il tombe derrière moi.
Viens mais ne viens pas quand je serais seule
Moi qui ai tout choisi dans ma vie
Je veux choisir ma mort aussi.
Il y a ceux qui veulent mourir un jour de pluie
Et d'autres en plein soleil,
Il y a ceux qui veulent mourir seuls dans un lit
Tranquille dans leur sommeil
Moi je veux mourir sur scène devant les projecteurs
Oui je veux mourir sur scène,
Le cœur ouvert tout en couleur
Mourir sans la moindre peine
Au dernier rendez-vous
Moi je veux mourir sur scène
En chantant jusqu'au bout
Viens mais ne viens pas quand je serais seule
Tous les deux on se connaît déjà,
On s'est vu de près souviens-toi.
Viens mais ne viens pas quand je serais seule
Choisis plutôt un soir de gala
Si tu veux danser avec moi
Ma vie a brûlé sous trop de lumière
Je ne peux pas partir dans l'ombre
Moi je veux mourir fusillée de laser
Devant une salle comble.
Moi je veux mourir sur scène devant les projecteurs
Oui je veux mourir sur scène,
Le cœur ouvert tout en couleur
Mourir sans la moindre peine
Au dernier rendez-vous
Moi je veux mourir sur scène
En chantant jusqu'au bout
Mourir sans la moindre peine
Du corps bien orchestré
Moi je veux mourir sur scène,
C'est là que je suis née.

........................................................................................................

Friday, May 6, 2016

di lụy của ý tưởng


Newtons Third Law of Motion Animation Law Newton 39 s Third Law
          newton ngồi gốc cây táo
ideas have consequences
di lụy của ý tưởng

manas journal 1950, ttt dịch

Khi công thức hóa các định luật về di động, Isaac Newton không thể có ý nghĩ rằng hai hoặc ba thế hệ sau, các thức giả thuyết giảng rằng ông đã chứng minh thế giới là một bộ máy. Trái lại, Newton đã dày công nói rõ trong cuốn sách về quang học rằng nguyên do tiên khởi của các hiện tượng vật lý chắc chắn không mang tính chất máy móc; ông đã cẩn thận tránh né mọi cố công giải thích nguyên do của trọng lực, điều với ông là không thể phát giác. Ông nói: “hệ thống đẹp đẽ nhất của chúng ta gồm mặt trời, các vệ tinh, các sao chổi chỉ có thể hình thành từ ý nguyện và sự thống lãnh của một Đấng thông minh và có quyền lực”. Newton đã không thể ở yên trong tay của hậu thế.

Cách nay (1950) một thế kỷ, E.A. Burtt đã phóng bút:  thế giới bên ngoài thực sự quan trọng là một thế giới cứng lạnh, không màu sắc, câm nín và chết khô; một thế giới của định lượng, một thế giới của những di động có thể biểu thị và đong đo bằng toán học trong một sự đều đặn máy móc. (Trong lúc ấy), thế giới của phẩm lượng – được người đời quan niệm ngay sau đó - chỉ là một hệ quả thứ yếu, hiếm hoi của một bộ máy vô cùng to lớn bao trùm mọi vật.
Giá như có thể thấy tương lai – dự đoán các sự quảng diễn về sau đối với học thuyết của mình – Newton đã, giống như Hume, dấu kỷ bản thảo trong hộc bàn; hay, như Diderot, giao tác phẩm cho một người bạn nhờ giữ kín bí mật.

Cũng giống vậy, Hegel đã phải hết sức thận trọng trong việc ngưỡng mộ và ca ngợi “chính quyền nhà nước”, giá như ông đã tiên đoán các chính quyền nhà nước thế kỷ 20 đã đạt những quyền uy gì và đã xử dụng quyền lực ra sao. Và Bellamy – kẻ quảng bá chủ trương xã hội ở Hoa Kỳ nhiều hơn bất cứ người Mỹ nào – đã sáng tác cuốn Looking Backward đầy đủ hơn, nhiều hơn nội dung cuốn Nineteen-Eighty-Four của Orwell, giá như ông đã biết rõ cách thức mà quyền hành tập trung đã hủy diệt lý tưởng xã hội về tự do của con người. Đã một lần Bellamy viết cho một nhà báo như sau:  Giá như tôi đã nghĩ ra rằng chủ trương xã hội đã không bảo đảm tự do đầy đủ cho cá nhân, đã không tạo lập một môi trường trí thức thuận lợi cho các cuộc nghiên cứu khoa học và triết học, tôi đã sẽ là người đầu tiên chống đối nó.

Những diễn biến bên trên có thể đưa đến hai nhận xét. Thứ nhất, các sự phát giác hay canh tân trọng yếu, dù trong khoa học hay lãnh vực ý tưởng, đều mang lại những hậu quả vượt xa và rất xa khỏi nguyện vọng của người người nghiên cứu.
Thứ hai, chúng ta phải học cách phân biệt một bên là tiến bộ “đối xứng” áp dụng chung cho mọi người và một bên là các trào lưu mang tính cách tiến bộ; những trào lưu nầy nhằm sửa đổi các sự u mê rõ rệt và xóa bỏ các bất công xã hội rộng lớn.

Bước tiến của Newton giúp ta nắm vững vật chất và hiểu biết về các di động của nó nhưng không thêm một chút gì vào sự hiểu biết về con người, con người dùng kiến thức vật lý vừa nêu. Đường lối lý tưởng của Hegel là một hấp dẫn huyền nhiệm cho các quốc gia nhưng nó cần được cân bằng bởi một nhà tư tưởng, ví dụ McTaggart (chủ trương nhân bản). Chủ nghĩa xã hội của Âu Châu – và chủ nghĩa cọng sản ngày nay – cần biết giá trị của trách nhiệm cá nhân tìm gặp trong các áng văn đầy triết lý của Leon Tolstoy.

Dĩ nhiên chúng ta không thể điều chỉnh sự thể quá khứ nầy; tương lai vẫn chưa thành khuôn dạng; trong một mức độ nào đó, tương lai bao giờ cũng nằm trong tình trạng chưa thành khuôn dạng. Qua sự quán xét quá khứ, nhu cầu lớn nhất cho tương lai là một sự hiểu biết đầy đủ hơn về các thành tố của sự tiến bộ thực sự dành cho con người, tương phản với những ảo tưởng lộng hành thao túng bao thế kỷ nay.---

nguyên bản tiếng Anh:

Thursday, April 28, 2016

Tướng Nguyễn Khoa Nam và tôi



TuongNguyenKhoaNam
-----------

Tướng Nguyễn Khoa Nam và tôi

Dương Diên Ngh



Tướng Nguyễn Khoa Nam nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4 vào một ngày nắng đẹp tháng 11 năm 1974. Trước đó không lâu, tôi cũng được đề cử kiêm nhiệm chức Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị, tạm thay Đại Tá Đỗ Văn Sáu theo học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại căn cứ Long Bình-Biên Hòa.
Sau lể bàn giao giữa nguyên và tân Tư Lệnh trước vũ đình trường Quân Đoàn là buổi tiếp tân trọng thể tại Câu Lạc Bộ Sĩ quan Cửu Long. Hơn 500 quan khách hiện diện, đông đủ quý vị Tướng Sư Đoàn 7, 9, 21, Không Quân, Hải Quân, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, đơn vị trưởng các cấp quân trấn Cần Thơ, thân hào, nhân sĩ, trí thức và đại diện các hội đoàn địa phương.
Nhìn thấy nhân viên quay phim, chụp hình đang hướng ống kính về phía ông, ông quay qua tôi dặn đừng nhắm về phía ông nhiều và nhớ cũng đừng tặng hoa. Tôi vâng dạ, đã hiểu ý, bởi đã từng nghe giai thoại về ông, một tướng lãnh bình dị, khiêm tốn, nên những hình thức phô trương vốn xa lạ đối với ông.
Buổi tiếp tân chấm dứt, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, nguyên Tư Lệnh lên trực thăng về Sài Gòn, ông trở lại văn phòng, và 7 giờ chiều hôm đó, tôi nhận được cú điện thoại của Trung Úy Danh, sĩ quan tùy viên Tư Lệnh, mời tôi đến gặp ông. Khi tôi đến, ông đang đứng trên bậc thềm chờ. Tôi chào ông. Ông lên xe, tôi và Danh ngồi ghế đối lưng ông và tài xế, xe jeep cuốn bạt phía sau, bảng sao che kín. Xe hộ tống chạy theo.
Đường phố Cần Thơ đã lên đèn; xe, người tấp nập, xuôi ngược. Khoảng mười phút, xe rẽ vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản, giữa trung tâm thành phố. Người hạ sĩ quan trực chạy ra. Xe dừng, tôi nhanh chân bước xuống cho hay xe của Tướng Tư Lệnh. Viên hạ sĩ quan vội vàng mở cổng, đứng nghiêm chào.
Ông vào phòng thương bệnh binh đang điều trị, đến từng giường thăm hỏi từng người, ân cần, dịu dàng. Thấy mỗi giường có 2 thương bệnh binh, ngoài hành lang, thân nhân thăm nuôi, nằm ngồi ngổn ngang, ông nói: “đông đúc, chật chội quá, làm sao đây!” Tôi ghi nhận và trình sẽ chuyển lời đến Trung Tá Bác Sĩ Hoàng Như Tùng, Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện. Qua một phòng khác, một thương binh trẻ trong bộ quân phục nhàu nát, cấp chuẩn úy, hai mắt mờ đục, nhận ra tiếng ông, anh ngồi bật dậy, sờ nắm tay ông, rưng rưng dòng lệ. Ông cầm tay người bệnh, nghẹn ngào, xúc động. Gian phòng trải qua phút giây im lặng, lắng đọng dòng đồng cảm xẻ chia nghĩa tình huynh đệ chi binh.
Không phải lần đầu tiên tôi được gần ông, ít nhất cũng đã vài lần khi ông còn là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Dạo đó, khoảng tháng 8 năm 1974, nhân đại hội lượng giá kết quả kế hoạch “Kiện toàn và cải tiến lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân thuộc Quân Khu 4”, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thường chọn căn cứ Đồng Tâm, nơi đồn trú của Sư Đoàn 7, làm địa điểm tập trung hội thảo, học tập. Tại đây, hội trường rộng lớn, tiện nghi, đủ điều kiện cần thiết cho thành phần tham dự. Ngoài cấp tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, lực lượng diện địa, còn có sinh viên sĩ quan thuộc 3 quân trường: Đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt và Bộ Binh Thủ Đức được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận cho Quân Khu 4 sử dụng, thực hiện công tác. Sinh viên sĩ quan 3 quân trường đến các đơn vị cấp Tiểu Đoàn, Đại Đội, Chi Khu, cùng sinh hoạt với đơn vị theo tinh thần kế hoạch đã đề ra.
Một buổi sáng chờ đón Tướng Trần Bá Di, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn-Quân Khu 4 đến chủ tọa, đứng giữa sân bay Đồng Tâm, ông hỏi tôi nhận xét thế nào kế hoạch quan trọng này; ông muốn biết cụ thể và thực chất. Tôi cũng thành thật trình bày khách quan vắn tắt một số ưu khuyết điểm nhưng cũng thưa rằng - làm thế nào duy trì, củng cố thành quả khi những đoàn sinh viên sĩ quan trẻ tuổi, hăng hái trở về trường. Ông tỏ vẻ nghĩ ngợi, chậm rãi hỏi tôi kế hoạch phát triển như vậy có muộn lắm không. Tôi cũng mạo muội đáp “Nếu thực hiện được trước Hiệp Định Ba Lê, có lẽ còn tốt hơn.”
Khi ông về nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4, tôi được tháp tùng ông nhiều lần, nhận trực tiếp nhiều chỉ thị, nhiều gợi ý thiết thực mà tôi hằng ghi nhớ, như những kinh nghiệm quí trong lĩnh vực tâm lý chính trị quân đội.
Ông nói: “Chiến Tranh Chính Trị không phải nói nhiều, phải làm, làm những việc cụ thể liên quan đến đời sống, tinh thần binh sĩ cũng như gia đình họ.” Thời điểm suy thoái kinh tế đầu năm 1975, ông muốn tôi vạch một kế hoạch kiểm kê, thăm dò, đến các trại gia binh, nắm tình hình sinh hoạt tại đây, xem có bao nhiêu gia đình đủ ăn, bao nhiêu gia đình nghèo, thiếu thốn. Con em binh sĩ, tỷ lệ đến trường học, số không được đến trường, bỏ học v.v.. Ông còn căn dặn, chú ý viếng thăm thương bệnh binh tại quân y viện, xem họ có thắc mắc, nguyện vọng thế nào. Quan hệ giữa họ và đơn vị cơ hữu, thân nhân - Cấp Quân Đoàn có thể làm gì, giải quyết, giúp đỡ cho yêu cầu chung. Ông cũng nhiều lần nhắc nhở nên có văn thư cho đơn vị trưởng các cấp, cố gắng giáo dục tốt, thuyết phục, cảm hóa những khiếm khuyết lỡ lầm của thuộc cấp, nhất là các thành phần trẻ, hơn là trừng phạt cứng rắn.
Hình ảnh người lính xông pha trận mạc, thân nhân, con em họ, canh cánh bên lòng ông, bắt nguồn từ đức tính nhân hậu, nhân ái, đường hướng giáo dục đạo đức, lễ trị, lấy cảm thông, chia xẻ, thân thiện làm phương châm, qua đó, coi ông như là một vị gia trưởng trong đại gia đình Quân Đội đầy trách nhiệm, đồng thời cũng là điểm tựa tin cậy cho đồng đội và gia đình.
Trước hoàn cảnh phức tạp, ông thể hiện ngay thẳng, thanh bạch. Ông đắn đo, cân nhắc khi quyết định, cố tránh sơ suất, sai lầm. Có khá nhiều đơn từ của hội đoàn, tôn giáo gởi đến, xin yểm trợ phương tiện, vật liệu tu bổ, sửa sang trụ sở Phật đường, Thánh đường v.v... Tôi đệ trình lên, và ít khi ông cho quyết định - Tôi ngầm hiểu - Ông muốn dành cho Tham Mưu hội ý, trình lên vị Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn-Quân Khu cùng chọn phương thế giải quyết. Thư của thân nhân, bằng hữu xin giúp đỡ, ân huệ, ưu tiên cũng được trả về cho phần hành Chiến Tranh Chính Trị chỉ với bút phê “đã xem” - rõ ràng minh bạch.
Nếu mẫu mực cần kiệm liêm chính, chí công vô tư từ ngàn xưa đến nay là lý tưởng, giá trị cao cả của người lãnh đạo, là tấm gương chiếu sáng ba chiều, thì Tướng Nguyễn Khoa Nam chính là người đại diện trung thực nhất cho tinh thần ấy.
Một chiều Chủ Nhật tháng 2 năm 1975, tôi tháp tùng ông bay đến tỉnh Vĩnh Bình, không báo trước chương trình và giờ đi giờ đến. Trực thăng hướng phía biển, khi còn mười lăm phút vòng trên không phận Tiểu Khu mới nhận lệnh, kịp đánh dấu bãi đáp cho trực thăng. Vào dinh Tỉnh Trưởng, qua ít phút trao đổi tình hình với Trung Tá Sơn, Tỉnh Trưởng, ông yêu cầu gặp sĩ quan Quân Số và Tài Chánh của Tiểu Khu. Mãi hơn nửa giờ sau, hai sĩ quan đến trình diện, mang đủ tài liệu và hồ sơ. Ông hỏi sĩ quan Quân Số rằng có nhớ, nắm được quân số các đơn vị Địa Phương Quân không. Thái độ lúng túng của sĩ quan phần hành thể hiện tính cách thiếu sâu sắc, chắc chắn, rồi ông quay sang sĩ quan Tài Chánh, ông hỏi có bao nhiêu trường hợp binh sĩ nhận lương tháng trễ, bao nhiêu vụ phàn nàn, khiếu nại về lương bỗng; có giải quyết kịp thời, ổn thỏa không. Ông muốn đến tận nơi, gặp trực tiếp phần hành, quan sát, tìm hiểu cho biết sự tình là vậy.
Đã hơn 4 giờ, trên đường về, ông cho lệnh đáp xuống giữa đồng ruộng khô, trước cổng Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 9 Bộ Binh, vùng Cái Vồn, bên bờ sông Hậu. Vì chiều Chúa Nhật, lại bất ngờ nên chẳng có giới chức nào tiếp đón. Ông và chúng tôi đi bộ vào doanh trại, ông hỏi nhà bếp nằm đâu. Một hạ sĩ quan trực hướng dẫn vào. Đang giờ cơm chiều của binh sĩ, ông khựng lại giữa gian phòng oi nồng, ánh nắng luồn qua cửa, lấp lánh đàn ruồi sà xuống những thau cơm hẩm, những dĩa cá kho, và ngay trên đầu trọc lóc của một vài binh sĩ đang lầm lì, tiếp tục ăn, mồ hôi nhễ nhại.không khí ngột ngạt. Ông cầm đôi đũa, chấm cá kho, nếm thử mặn nhạt, tôi cũng theo ông nếm thử. Ông bước tận sau bếp quan sát, lúc đó vị Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm vừa đến, nghiêm chỉnh chào ông ... cùng đi quanh một vòng doanh trại và trở về Cần Thơ.

Mấy hôm sau, ông nhắc lại chiều Chúa Nhật đi thăm hai địa điểm trê, nỗi băn khoăn thoáng hiện qua lời, lòng tôi cũng chùng đọng, đối diện ông lúc đó, ông mang vẻ trầm mặc của nghệ sĩ sáng hơn là một vị tướng lãnh cầm quân. Dù ông là nhà quân sự trưởng thành trong cuộc chiến, nhưng đối với tôi, tôi nhìn ông từ khía cạnh văn hóa, nếp sống, suy nghĩ, nhận định trầm tĩnh, sáng suốt  về tình trạng xã hội và chính trị.
Dư luận cho rằng ông là một tướng lãnh cô đơn. Thật vậy, ông cô đơn vì ông đã quên mình, bỏ mọi tư riêng, sẵn sàng cống hiến cho đại cuộc. Ông ít nói, giản dị, tận tụy với công việc, bảy giờ sáng có mặt tại văn phòng và ít khi rời văn phòng trước bảy giờ tối. Ngày cuối tuần dùng trực thăng đến các tiền đồn, đơn vị xa.
Thái độ, cá tính ông đã cho tôi ấn tượng sâu đậm khó phai. Ông hoài vọng hòa bình. Ông được trao sứ mạng bảo vệ miền Châu Thổ trong giai đoạn khó khăn nhất. Ông mong cho quân dân miền Nam đạt được hòa bình, yên vui trăm họ, nhưng “hòa bình” định mệnh có chăng cũng lênh láng nước mắt, tan tác, chia lìa.

Cho tới phút cuối cùng của cuộc chiến, trước đông đủ đơn vị trưởng các cấp, ông vẫn yêu cầu cố gắng giúp đỡ binh sĩ thuộc cấp và gia đình họ. Chiều 30-4-75, ông còn đến Quân Y Viện với thương bệnh binh.
Sáng 1-5-75, khi đứng trong hàng chờ đợi nhận tấm giấy tùy thân đổi đời, Trung Úy Lê Ngọc Danh đến nói nhỏ vào tai tôi  "Ông tuẫn tiết rồi", với giọng xót thương ray rứt. Bàng hoàng giữa ngổn ngang trăm mối, tôi lén ra khỏi hàng, đi vội đến nài nỉ người phụ nữ gác cổng tư dinh để được vào thăm viếng. Tôi không cầm giữ nổi cảm giác mất mát lớn lao trước thi thể của người Anh, người Thầy trung can, nghĩa khí, mà ngàn xưa hào kiệt đã vinh danh “Phận làm tướng - Còn mất với thành”.
Dọc đường Nguyễn Trãi trở lại bản doanh Bộ Tư Lệnh; hàng phượng hai bên đại lộ Hòa Bình thẩm sắc hoa đầu mùa. Con đường, doanh trại, hoa lá, cỏ cây quen thuộc, gắn bó dường bao, mỗi ngày qua lại, giờ khoác vẻ bơ vơ, lạc loài. Và tôi, tôi cũng ngỡ ngàng, lạc lõng!

Tác giả Dương Diên Ngh là cu Trung Tá Trưởng Phòng Chính Hun
kiêm Tham Mưu Phó CTCT/QĐ IV-QK4, 1975.

music%20notes%20symbols%20tattoos



Thursday, April 14, 2016

Tướng giữ thành

Landsat 5 mosaic of the Mekong River delta
                                                                                               Vùng 4 Chiến Thuật

---------------------------------------------------------------------------
Rosemary Floral Wreath ANZAC

tưởng nim anh linh Chư Tướng:
Nguyn Khoa Nam, Nguyn văn Phú, 
Lê văn Hưng, 
Trn văn Hai, Lê Nguyên V

******

Tướng giữ thành

Hồ Thanh N
Đài Sài Gòn loan bn tin bui sáng.
Quân lnh cui cùng: Ngưng chiến – Bàn giao
Thế nước biến c sơn hà xao xuyến
Lòng quân dân cun cun ni ba đào.
 
Tướng Tư Lnh buông bút chì xanh đ
Trung tâm hành quân chi chít bn đ
Nhìn dãy giang sơn đng bng châu th
Còn dng co theo thế trn răng cưa
 
Điếu Bastos trong gt tàn đy p
Dòng khói xanh còn lan ta trin miên
Tư lnh nhíu mày lòng đau như ct
Du chân chim hn khuôn mt ch đin
 
Gió sông Hu thi qua giòng Bassac
Mang nim đau v ca bin sông Tin
Tin chiến bi khiến lòng quân ngơ ngác
Lan xa dn qua biên gii Vit­ -Miên
 
Tướng Tư Lnh xung bc thm tam cp
Nhìn đăm đăm c t quc đang bay
Gió lay đng lá tướng kỳ dưới thp
Nghĩa keo sơn ràng buc nước non ny
 
Thế trn biến ly chi đn n nước
Tình non sông còn nng chĩu bên lòng
“Đt nước còn, không còn anh cũng được
Đt nước không, anh có cũng là không”
 
Tư lnh ghé thăm tng giường bnh vin
Nhng thương binh va mi m chiu qua
Anh lính ct chân nói không thành tiếng:
Đng b em! trong nước mt chan hòa
 
Tư lnh v vai thương binh s no
Băng trng tinh còn qun na trên đu
Tiếng nói nghn ngào nim đau thăm thm:
Không! chng bao gi anh b em đâu
 
Mt li nói như khc sâu vào đá
Nng ngàn cân bia s mãi lưu danh
Người li vi min Nam châu th
Chín nhánh sông dài bát ngát đng xanh
 
Người nm xung cùng hn thiêng sông núi
Chết hiên ngang linh khí kết thành thn
Ân nghĩa nng n quê hương b cõi
Tiếng còn lưu: danh tướng chết theo thành
 
Người chết lâu ri, người còn li
T cui chân mây đêm bc lnh lùng
Ngày hin thánh c ging nòi mong mi
Ca nhng linh hn hu thy hu chung.--

cùng tác giả:
Hồ nước phông tên


-----------------------------------------------------





*******************************************************************

Thursday, March 31, 2016

ngoảnh lại sầu lưu lạc



ngoảnh lại sầu lưu lạc, tranh Nam Mỹ

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
ngoảnh lại
hương trầm

        Lá vàng ph kín li v
Đường đi cũng ph vàng th năm xưa
        Gp ghnh sáng nng chiu mưa
Nga phi mt vó thuyn va b neo
        Ô hay nghìn dm vượt đèo
Bng dưng thoáng chc bay vèo thi gian
        Nào hay lch đã sang trang
Bc phơ mái tóc trường giang ngm-ngùi. 

sầu lưu lạc
hương trầm

Thi gian lnh lo như dao bén
Chôn vùi mơ ước bui xuân xanh
Ngày tháng rơi theo t lch xé
Ta thy mình thành mnh vn rơi cùng
Vn c nht nhng mong ch, hy vng
Không đành lòng đ trôi ni, rơi xa
Gi ai đây? tri đt bao la
Xa thm y là quê nhà yêu du
Thi thế đi thay lòng người tăm t
Ngay bn bè thân thiết thu xưa
Cây quít Giang-Nam đem trng Giang-Bc
Chua tht chua, không phi chua va

Đt nước ta tng hãnh din bn ngàn năm
Dit ngoi xâm vang danh bn b
Ôi con rng cháu tiên b ngh
Mà đâu ri Lam-sơn, Lê-Li qut cường
Đâu ri Lý-Thường-Kit, Hưng-Đo-Vương
Đâu Trưng, Triu. Hi hn thiêng sông núi!
Sng thương tâm bao người li thi
Lòng thì nhiu tài sc chng bao nhiêu
Thn làm sao ngó mt đt tri
Thn làm sao vi anh linh t
Thn làm sao vi qu ph, cô nhi

Ta không bc nhưng tri đt bc
Không ph người người li ph ta 
Cúi lưng gp người rơi nước mt
Tht xa kia là bóng dáng quê nhà
My mươi năm lòng càng tht vng
Soi bóng mình dưới nước lung linh
Ai đy nh - da mi tóc bc
Mt như m nut l lng thinh
Lich-s ngàn năm gi quay li
Đau thương kia đâu ch có dân Hi.


hoa sứ hay hoa đại, một biểu tượng của người Chàm

---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Xin mi xem các bài khác cùng người viết Hương Trm:


.......................................................................................................

changing colors treble


&