add this

Tuesday, December 2, 2014

nghĩ về Bát Nhã Tâm Kinh

Do you know? <strong>Trees</strong> too go to sleep at night

Nghĩ về Bát Nhã Tâm Kinh
tôn thất tuệ

Đây là kinh tôi thích nhất vì nhạc tính của nó. Nói vậy tôi sợ các anh cho tôi đã phỉ bán Phật Pháp. Xích hầm xích cổn ngộ cổn. Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe. Đó là kinh mà tôi chưa nghe ai tụng kiểu ê a. Trái lại thường là nhịp nhanh như thúc quân, lấy nội lực như người Nhật tụng kinh Pháp Hoa. Tôi nói đến nhạc tính khi thấy sự khác biệt giữa hai việc trông rất giống nhau: (cùng một đoạn kinh) trì niệm (ví dụ nhị thời công phu) và đọc hoặc ngồi hoặc nằm như đọc luận văn, tìm hiểu từng chữ, gạch màu xanh đó,  ghi chú tham khảo v.v.... Tôi muốn nói hai ảnh hưởng tâm linh khác nhau. Tạm gọi học hành phụ trợ cho nhau.
Về chuyện học, đừng nói chi cho xa, đọc cái bài anh Tâm soạn thì cũng đã đủ và chợt ruột. Chừng nào còn dùng ngôn tự thì Tâm Kinh (TK) xem như không thể rút ngắn hơn, như thang thuốc bắc mười chén nước cô thành vài giọt. Cũng như tam thập lục kế, lục thao tam lược, quân sư chỉ cho vài chữ bỏ vào túi gấm. Lúc lâm nguy mở ra có khi chỉ một chữ như thủy, hỏa, nhật, nguyệt, đoản, trường v.v...
Thật vậy, TK nói lên cái yếu lý "ngũ uẩn giai không", không phải để mà chơi kiểu thời thượng mà nhằm mục đích "độ nhất thiết khổ ách"; nhiều nhà triết học trong vùng tư tưởng đông phương cho rằng bộ ba chân-thiện-mỹ của Tây phương lắm khi vô bổ nếu không có cái dụng, họ muốn nói đến tính cách tích cực của PG. TK còn nêu hiệu năng triệt để của ánh sáng a nậu đa la tam miệu tam bồ để. Một căn phòng tăm tối lâu năm, bụi bặm, chuột bọ v.v... nay chủ nhân mở cửa thì ánh sáng tràng vào ngay.
Ánh sáng không dọn dẹp thay chủ nhà, ông hay bà phải tự lo nhưng ánh sáng sẽ giúp thấy nhiều chỗ không sạch, nhiều thứ quí giá lãng quên như chiếc nhẫn kim cương đánh rơi mà lâu nay cứ nghĩ phải có một ai lấy, ngay cả chồng vợ hay con cái, những vọng tưởng nguy hại kéo theo vô số hậu quả biến thiên cực đại, trùng trùng duyên khởi.
Mặt khác TK rất thực tiển khi đưa ra một phương pháp vừa tầm tay rất affordable: một câu chú ngắn gọn, vô đẳng đẳng, chân thật bất hư: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tat bà ha ngắn gọn làm cho những người đoản trí như tôi không sợ hãi, như đã sợ hãi trước chú Lăng Nghiêm, các đà la ni trong Pháp Hoa v.v...
Trước một chiếc xe như Mercedes, bạn chỉ cần mở chìa khóa rồ máy và chạy đến nơi bạn muốn. Không cần phải học từ nguyên tắc hút ép nổ xả, lịch sử biến chế từ horseless coach cho đến thứ tân tiến bây giờ. Không những không cần học mà còn phải dùng ngay như khi đi nhà thương, mua thức ăn. Nhà sản xuất đưa chìa khóa cho bạn là thứ chân thật bất hư. Khi đứng chờ đò qua sông, Phật thấy một đạo sĩ dùng chiếc nón làm thuyền mà ông phải cần đến cả chục năm thâm luyện. Ngài nói thật phí công; trong thời gian đó nếu phải qua bên kia sông tìm thuốc thang hay thực phẩm v.v...thì ông làm sao.
Tôi ủng hộ cái nhìn của Mai Thọ Truyền về phần kệ cuối kinh : Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. Cư sĩ khả kính nầy chủ trương không dịch mà để nguyên như vậy.
Đường lối nầy dĩ nhiên không được chấp nhận bởi giới chủ trương học thức, cho rằng Phật giáo VN là trùng chủng lụn bại chỉ có cầu an cầu siêu, nếu không muốn dùng chữ vô học.
Công dụng của nó là thuốc tiêu làm cho khỏi ích bụng khi ăn quá nhiều. Mấy hàng đơn giản phía trên mang quá nhiều chất bổ đậm đặc, toàn thứ dữ: mỗi chữ là một miếng beef steak dày kịch quến mỡ và gia vị. Cũng như bác sĩ đã cho uống những liều trụ sinh quá mạnh cần chút thuốc bổ cho dạ dày khỏi cháy. Mỗi chữ đòi hỏi sự tiêu hóa thành chất dinh dưỡng. Bây giờ, phải tập cách hủy bỏ mà chỉ lấy tinh túy cho cơ thể. Tập trung trong âm thanh, âm hưởng để đưa chúng vào mạch sống.
Bên trước Mai Thọ Truyền đã khổ công giảng thế nào là uẩn, thế nào là vô minh, sắc không, cả một tấn danh từ. Nguy cơ bội thực rất hiển nhiên.
Bản dịch dùng để chuyển qua Hán Việt sử dụng tại VN do Ngài Huyền Trang soạn, bên cạnh những bản khác (con số có thể đến 600) từ bản đầu tiên của Cưu La Ma Thập năm 402. Tôi muốn nói Trung Hoa đã làm một công việc còn khó hơn xây Kim Tự Tháp là dịch một ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt qua Hán tự, dịch, dịch, rất nhiều; họ có đủ khả năng dịch những câu kệ ngắn, những câu chú. Mà sao họ không làm mà chỉ dịch âm.
Mới đây trên một web nào đó, tôi có đọc bản dịch các câu chú ngắn dài từ Vãng sanh quyết định chơn ngôn cho đến Kinh Lăng Nghiêm, những bài chú trong kinh Pháp Hoa. Dịch giả ghi rõ ông không bảo đảm hiệu năng của bản dịch khi dùng để tụng. Diệu Pháp Liên Hoa hầu như không có những thuật ngữ khó vì viết cho lớp người hộ trì của quả đất (dũng tùng địa xuất) - votaries from the earth - mà vẫn giữ nguyên các bài kệ Phạn ngữ; nhất là trong phẩm Đà La Ni và Phẩm Phổ Hiền. Như đã nói, những dịch giả như Cưu La Ma Thập, Huyền Trang, Nghĩa Hiệp đủ sức mà không làm.
Chú Đại Bi mang cái tên Hán ngữ tuyệt vời: thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm - đà la ni. Sau đó là âm, rồi chuyển qua Hán Việt nhiều người bông đùa: nam mô xô bà già ra đá con gái vô, nam mô hất vô đá ra...Không biết hết nhưng chúng ta cũng thấy ít nhất hai chữ có ý nghĩa là nam mô và bồ đề (bổ đề dạ, bồ đà dạ) để biết đây không phải là câu nói xằng. Nếu bạn tin, đó là những linh ngữ.
Vấn nạn ngôn ngữ như thế nầy. Người Tàu chuyển âm theo lối nói của họ, Việt, Nhật và Đại Hàn đọc khác. Ví dụ: Suputra: (Tàu, không biết), Xá Lợi Phất, Sarihotsu. Chữ nào linh?
Chuyện nầy do thầy Chơn Thành, chùa Liên Hoa Garden Grove nói. Một cao tăng đi qua một cái nhà thấy phát ra những tia năng lượng, những ánh lành. Ông đến gần và nghe bên trong có người tụng chú Đại Bi. Nghe kỹ thì thấy người kia tụng sai nhiều chỗ. Nhà sư chỉ điểm và hành giả học theo nhưng không phát ra những tia sáng lành nữa. Ông tụng gập ngừng, phải chú ý đến lời văn cho đến khi nhuần nhuyễn.
Mẹ của họa sĩ Nguyên Khai thích tụng kinh Pháp Hoa bằng chữ Hán Việt vì bà không biết chữ Hán. Vô lý? bà không bị nghĩa của chữ làm bà bận tâm khi trì tụng. Đa số những người Mỹ thuộc Nhật Liên Tông chỉ biết ý nghĩa tổng quát của kinh Pháp Hoa, không biết từng dòng nhưng họ tụng rất nhịp nhàng say sưa. "Niji setson" là cái gì? mình còn biết Nhĩ thời Thế Tôn, còn họ chỉ muốn đồng hóa với tâm thể Phật, the highest life condition (cao nhất trong thập loại). Nghe tôi kể chuyện nầy, vài người trong khuynh hướng trí thức nói trên đã dè bỉu: ồ cái thứ đếm bạc cho ngân hàng.
Trong thực tế mấy ai làm chủ ngân hàng. Chỉ xin cho con người một chỗ làm khiêm tốn là đếm bạc cho chủ nhân. Bòn mót phước đức nơi câu kệ. Cứ "Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại..." mà đi tới, tới mô rồi tới.
Có câu chuyện bôi bác nhưng tôi nhìn cách khác. Xin đừng hiểu lầm. Bà bếp quên hỏi con gà nấu ra làm sao, mà cha đã lên làm lễ, sau lễ là khách quí đến, phải nổi lửa ngay. Bà cầm con gà đã nhổ lông đứng sau những cánh gà hai bên lễ đàn, đưa lên đưa xuống ý hỏi cha. Cha nháy mắt, chậm rãi làm dấu chấm tráng chấm ngực, lên giọng đọc tiếng La tinh, chấm tay bên vai trái: nửa nấu cà ri; chấm bên vai phải nói nửa rô ti, A men. Bên dưới giáo dân cúi đầu a men theo. Chúa phạt thì phạt ông cha, nhưng con chiên cúi đầu a men, Chúa sẽ đưa tay ra đón.
Những nghịch lý trong tôn giáo lắm khi không đáng chê cười. Có người trách tôi lấy quả cam lượm ngoài đường cúng Phật và ông bà. Tôi cải lại, tôi ăn được thì Phật, ông bà ăn được; tôi không cúng quả cam thối.
Các thầy sẽ mất job khi mọi người theo thằng khùng nầy ngày nào cũng nói:
ta sẽ hát một lời kinh vô nghĩa
kinh tầm thường như tiếng lá rơi.
Hay có thể điên hơn nữa tụng nhịp nhàng như cá rong xuôi nước, nhịp nhàng như sao hôm trở lại, tụng nhịp nhàng sáu chữ: Nam mô Linda Trang Đài, điểm vài tiếng chuông ngân, để thấy Phật về nơi trà đình tửu điếm, nơi lầu xanh.
Nghịch lý của chữ nghĩa khúc triết "sắc không" với những tiếng không có nghĩa (trên mặt) yết đế ba la vẫn nằm trong ý hướng tối thượng, nói rõ, nói ngay, không hư vọng ngay từ đầu: "độ nhất thiết khổ ách". Dù các hành âm là allegro, là adagio, andante, …, tấu khúc vẫn mang chủ đề chính là độ nhất thiết khổ ách.
Người chủ trí thức thì nói: - kiến ngũ uẩn giai không, rồi luận rồi bàn
Người sống đạo thì đi cho hết câu: - kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Hy vọng cuốn sách của Chánh Trí Mai Thọ Truyền mà anh Tâm nêu cũng là cuốn sách tôi đã đọc mà chỉ nhớ một điểm không dịch câu kệ như đã nói trên. Anh Tâm trích:
“…Kinh Bát nhã như một bài triết lý mà đề tài là “Bát nhã ba la mật đa”, nhưng trái với thông lệ, ở đây không phải một đề tài để phu diễn (un sujet ou un thème à développer) mà cũng không phải một luận án để bênh vực (une thèse à soutenir), hay một ức thuyết, một giả thuyết hay một nghi vấn để chứng minh, để giải quyết. Từ đầu đến cuối bài, toàn là những quyết đoán (des affirmations) mà tự ý người đọc muốn lấy cũng được, mà muốn bỏ cũng được.”
Theo tôi, nếu vội vã lụp chụp người đọc sẽ hiểu chỉ TK mới có những affirmations. Nên hiểu những affirmations trong TK rất cô đọng ví chính kinh chỉ có 260 chữ Hán; là những kết luận mà các phần như tiền luận, chứng minh giải quyết v.v… đã có ở những nơi khác hay ít nhất trong Bộ Đại Bát Nhã.
Tôi muốn nói những điều Phật dạy đều không hư vọng đều là những affirmations. Như trong phẩm 16 Pháp Hoa, Ngài nói: các thiện nam tử phải tin lời chắc thực của Như Lai. Cũng kinh nầy phẩm 2, Ngài nói chúng sinh có khả năng thành Phật. Quyết đoán nầy người nghe muốn lấy cũng được, mà muốn bỏ cũng được. Thật vậy có người đã bỏ ra về vì không dám tin mình có thể thành Phật. Ở một nơi khác là kinh Di Đà, chư Phật mười phương (chỉ dịch 6 phương) đều “thuyết thành thiệt ngôn…”. Ngay như khi Ngài trả lời bằng sự im lặng 16 câu hỏi, đó cũng là những affirmations. Khi có người nghi Ngài “dấu nghề”, Ngài nói ta đâu phải là ông thầy dạy võ cần giữ một miếng phòng thân khi học trò trở chứng, ta muốn chúng sinh được như ta.
Ngoài ra tôi cũng có cơ duyên đọc một cuốn sách của ông Mai Thọ Truyền chú giải kinh Pháp Hoa, tôi chẳng nhớ gì ngoại trừ một ý về Quán Thế Âm (QTA): từ bi của mình là cách tự vệ hay nhất chứ không phải súng đạn.
Với TK, QTA là nhân vật chính, là chứng nhân của sự được độ nhất thiết khổ ách vì thấy rõ ngũ uẩn giai không. Có thể xem là một testament. Nhưng QTA trong kinh PH có khả năng hành động. Quán âm sức trí diệu, có đủ sức thần thông, rộng tu trí phương tiện, không cõi nào chẳng hiện, các loài trong ác đạo đều bị tiêu diệt hết  vì Ngài rộng tu trí phương tiện gần vô lượng chư Phật.
Ngành Pháp Hoa Nhật Bản cho rằng (những hiệu ứng của) QTA là kết quả tự nhiên của việc thành đạt Phật thân cho nên họ chú ý đến Phổ Hiền. Thật ra sự chú tâm nầy chỉ vì tính cách năng động của học phái nầy là chuyển kinh PH đến mọi nơi.
Trong lúc QTA diệt trừ các tiêu cực,  cứu khổ cứu nạn thì Phổ Hiền xây đắp những tích cực.,làm cho thân tâm an lac ... Sự phân chia nầy hết sức tương đối. Vì vậy trong tài liệu anh Tâm quy tập, QTA – vì sức từ bi – tượng trưng cho phước bên cạnh Văn Thù Sư Lợi là trí.
Ý kiến nầy có phần hơi khác về biểu tượng phước và trí. Các chùa hai bên tượng Phật là Phổ Hiền cỡi voi trắng và Văn Thù Sư Lợi cỡi sư tử trắng. Ngự bản tôn của Nichiren ghi Phổ Hiền Bồ Tát đối xứng với Văn Thù cũng như bên trên Thích Ca Phật đối xứng với Đa Bảo Như Lai. Vị trí nầy muốn nói Phật là đấng Lưỡng Túc Tôn: có phước và trí đầy đủ (chứ không phải đấng có hai chân  như Ngài Tuyên Hóa nói có kẻ dịch như vậy).
Hân hạnh tri ân tất cả, về ý đạo và ý đời, và nhất là cơ hội viết những dòng nầy.--------



Bo Leaves

No comments:

Post a Comment