add this

Saturday, March 14, 2020

dịch hạch, Albert Camus


See the source image

La Peste, Albert Camus

French author Albert Camus. (Getty Images).La Peste là tên cuốn tiểu thuyết của Albert Camus xuất bản năm 1947 nói về dịch hạch càng quét thị xã Oran tại thuộc địa Algérie của Pháp. Tác phẩm nầy đặt những câu hỏi về thân phận con người. Các nhân vật từ y sĩ, du khách cho đến tù nhân lẫn tránh nêu các khía cạnh khác nhau của trận dịch cho thấy nó ảnh hưởng thế nào với dân cư trong vùng.
Theo tin tưởng thường tình, tiểu thuyết nầy dựa vào nạn dịch thổ tả (cholera) đã giết hại phần lớn dân cư Oran vào năm 1849 ngay sau khi Pháp đặt xong nền đô hộ xứ nầy nhưng cuốn sách thì đặt câu chuyện vào thập niên 1940. Oran và các vùng chung quanh đã bị nhiều trận dịch trước khi Camus xuất bản La Peste. Theo Trung Tâm Phòng Chống Bệnh,  (CDC, Mỹ), Oran đã hai lần bị dịch hạch năm 1556 và 1678; số tử thương những lần kế tiếp năm 1921 (185), năm 1931 (76) và 1944 (95) quá thấp so với con số hư cấu trong truyện. La Peste được xem là tác phẩm cổ điển của trường phái hiện sinh, tuy tác giả không đồng ý danh xưng nầy. Tác phẩm nầy ngụ ý chỉ trích cách thức Nazi đối xử phe kháng chiến Pháp nhưng cũng nói lên thân phận con người, đóng góp vào quan niệm phi lý của triết thuyết nầy.

Nhng nhân vt chính 
Bernard Rieux:  y sĩ 35 tuổi, không cao không thấp, da ngâm đen, tóc xoắn rất nhặc. Vào đầu cuốn truyện, vợ của Rieux, đã bệnh lâu nay, vào bệnh viện an dưỡng. Rieux đã chữa trị bệnh nhân dịch hạch đầu tiên và là người đầu tiên mô tả chứng bệnh nầy, ông khuyến cáo chính quyền hành động thích ứng để ngăn chân hậu hoạn. Tuy vậy trong thâm tâm, Rieux chưa nhận định vấn đề trầm trọng quá mức, cho đến một thời gian rất ngắn ông thấy rõ mối nguy và báo động chính quyền ra tay trước khi bệnh dịch có thể vùi xuống mồ nửa dân số hai trăm ngàn người, chỉ trong vài tháng. Trong thời gian nguy khốn nầy, Rieux điều khiển một bệnh viện phụ, làm việc suốt ngày để chữa trị, nhưng ông không thể làm gì khác hơn chuyền nước biển (serum) và mổ các hạch ung. Ngày nào cũng đến gần khuya mới về. Ông luôn luôn tránh lòng thương yếu đuối, ví dụ khi đến nhà có người bệnh, ông phải gọi xe tải thương chở đi ngay, tuy thân nhân nài xin đừng làm vì họ sẽ không bao giờ thấy lại nạn nhân.
Rieux làm việc diệt trừ dịch hạch chỉ đơn giản vì ông là một y sĩ với nhiệm vụ giảm thiểu khổ đau của đồng loại. Ông không có một mục tiêu cao xa về tôn giáo. Rieux không tin ở God; ông là người thực tiển, làm những gì phải làm, không ồn ào rối rít rùm ben. Đồng thời ông tin không thể thắng cuộc tranh đấu chống cái chết.

Image result for La Peste CamusJean Tarrou: với lý do không rõ, đến Oran vài tuần trước khi dịch hạch bùng phát; có lẽ không vì kinh doanh, ông có nhiều phương tiện riêng dư dùng. Jean có tính khí tự nhiên hiền lành, cười suốt ngày, thích giao du với các vũ công và nhạc sĩ Tây Ban Nha trong tỉnh. Jean viết nhật ký rất siêng năng, mô tả đời sống ở Oran. Jean là người đầu tiên thành lập các nhóm thiện nguyện chống bệnh dịch, trước khi chính quyền điều động dân chúng trong cùng mục đích; theo ông, mọi người đều có nghĩa vụ đối trị tai ương nầy, ông hành động theo những nguyện tắc luân lý tự đặt ra. Jean cho Rieux biết đều quan tâm là làm sao trở thành vị thánh mặc dầu không tin ở God. Cha của ông, tuy là một người hiền lành trong cuộc sống riêng, là một ông biện lý, ủng hộ mãnh liệt án tử hình. Ngày còn trẻ, một lần Jean đã chứng kiến một phiên tòa xử án tử hình. Tuy nhiên, hình phạt nầy làm ôn chán ngấy. Jean bỏ nhà ra đi trước khi được 18 tuổi, quyết tâm chống án tử hình, hành vi sát nhân do chính quyền bảo trợ. Jean theo phe Cộng Hòa trong nội chiến Tây Ban Nha, và trở thành nạn nhân cuối cùng của phe Franco.

Raymond Rambert: ký giả Raymond Rambert đến Oran tìm hiểu, nghiên cứu cuộc sống của khu Arab trong thành phố. Khi bệnh dịch bắt đầu, Raymond kẹt trong một thành phố không quen biết ai, lại nhớ nhà, nhớ vợ hiện ở Paris, ông tìm mọi cách nhờ chính quyền giúp ông rời khỏi Oran. Không thành công, ông phải nhờ đường dây lậu với giá 10 ngàn franc. Nhưng rồi ông đổi ý, quyết định ở lại cùng dân chúng chống dịch hạch.

Joseph Grand: Joseph Grand là thầy ký, công chức tòa thị chính, 55 tuổi, cao và gầy. Lương phạn không bao nhiêu nên Joe sống đời khắc khổ nhưng nhiều tình thương. Có thì giờ thì ông rèn luyện khả năng La Tinh, và bắt đầu viết sách. Nhưng khổ nổi chủ trương toàn bích đã khiến ông ta viết lại sửa câu đầu tiên, sửa mãi mà không viết thêm gì khác. Khó khăn lớn nhất trong đời là không tìm ra danh tự, ngôn ngữ để viết những điều muốn nói. Joe nói với Rieux rằng ông đã kết hôn lúc chưa được hai mươi; nhưng công việc quá độ và nghèo khó đã nện vào đời ông những đòn đích đáng; không thể thăng tiến trong nghề và bà vợ Jeanne đã bỏ đi. Ông cố viết cho vợ một bức thư mà không bao giờ viết được, nay vẫn còn hận sầu.
Khi dịch hạch bắt đầu Joe tham gia cứu trợ và làm tổng thư ký chiến dịch, ghi ký các con số thống kê. Được xem là hiện thân của dũng cảm thầm lặng khích lệ các nhóm thiện nguyện y tế, Joe cũng mắc bệnh hiểm nghèo; Joe nhờ Rieux đốt các bản thảo, đồng thời cho y sĩ nầy biết điều mới lạ: Joe nói ông hạnh phúc, đã viết cho vợ bức thư và đã khởi sự một cuốn sách mới vào khi nhuốm bệnh.

Linh mục Father Paneloux: Cha Paneloux dòng Jesuit học thức và đáng kính. Cha nổi tiếng vì những bài giảng nêu cao tính chất thuần túy của chủ thuyết Thiên Chúa Giáo và chỉ trích giáo dân ơ thờ chểnh mãn. Vào giai đoạn đầu của mùa bệnh, trong một bài thuyết giảng hùng hồn, cha nhấn mạnh rằng dịch hạch là một sự trừng phạt của God dành cho những kẻ cương quyết chống lại Ngài. Nhưng cha nói tiếp God vẫn có mặt như một nguồn trợ giúp và hy vọng.
Ít hôm sau, cha Paneloux đến bên giường bệnh con trai của Othon và cầu nguyện cho bé và nói với mọi người rằng bé sẽ qua khỏi. Nhưng rồi bé chết, cha nói với BS Rieux rằng mặc dầu cái chết của một đứa bé vô tội trong thế giới ngự trị bởi một Đấng God đầy tình thương không thể giải thích một cách thuần lý, cái chết ấy vẫn phải được chấp nhận. Hôm sau trong thánh đường, cha giảng rằng cái chết của em bé vô tội ấy là một thử thách, một trắc nghiệm về đức tin. Bởi lẽ God mong muốn cái chết của bé ấy, mọi con chiên đều mong muốn cái chết ấy như God muốn.
Cuối truyện, cha Paneloux mắc bệnh. Cha không chịu cho mời bác sĩ vì cha chỉ tin một mình God, và cha chết. Vì các triệu chứng nơi cha không giống các bệnh nhân dịch hạch, Rieux ghi vào sổ bộ khai tử “một trường hợp nghi ngờ”.


See the source imageTóm lược

Phần 1. Trong thị xã Oran, hằng ngàn con chuột chết ngoài đường, tuy lúc đầu không ai để ý. Dân chúng hoản hốt, báo chí lên tiếng. Chính quyền ra lệnh hốt xác chuột đem đốt mà không biết rằng sự thu lượm nầy là xúc tác chính của bệnh dịch hạch.
Bác sĩ Rieux (nhân vật chính) hiện đang sống yên ổn trọng một chúng cư, cho đến khi người gát cổng tên Michel chết một cách kỳ quái sau cơn sốt. BS Rieux thảo luận với đồng nghiệp Castel và đến kết luận rằng một bệnh dịch đang chạy qua thành phố. Hai ông đã để cập với chính quyền và giới y khoa, nhưng câu chuyện bị bỏ qua vì chỉ liên quan đến một người chết. Sau đó con số tử vong gia tăng rất nhanh cho thấy rõ bệnh dịch có thật và rất nguy hại. Trong lúc ấy vợ của Rieux được đưa vào bệnh viện điều dưỡng vì lý do khác.

Chính quyền, kể cả ông thị trưởng, chần chờ ít lâu mới công nhận tình hình nguy ngập. Tuy vậy thông báo chính thức vẫn có lời lẽ lạc quan. Khu bịnh đặc biệt mới mở với 80 giường đã hết chỗ sau ba ngày. Số tử vong gia tăng đã buột công quyền hành động nhiều hơn, nhà nhà phải được kiểm dịch (quarantine); chôn cất xác chết phải làm kỷ lưỡng để khỏi lây vạ. Tỉnh được cung cấp thêm nước biển (serum) nhưng trữ lượng phòng bị của quốc gia đã hết sạch. Khi số người chết đến mức 30 mỗi ngày, thị xã Oran bị phong tỏa; chính quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp, công nhận dịch hạch là vấn đề có thật và thậm nguy.

Phần 2. Trong tình trạng phong tỏa, các cửa vô thành đã bị chận, tàu hỏa không chạy xuyên qua được, bưu điện ngưng phát thơ; điện thoại chỉ dành cho các trường hợp khẩn cấp. Lúc đó dây thép (điện tín) trở thành phương tiện liên lạc duy nhất của thân nhân và bạn bè sống bên trong và bên ngoài thành phố.

Sự ngăn cách nầy đã ảnh hưởng sinh hoạt hằng ngày; dân chúng suy sụp tinh thần, cảm thấy ngày một bị cô lập nhiều hơn, họ trở nên hướng nội, bệnh dịch cũng làm thay đổi thái độ tư cách người dân.
Một nhân vật khác trong truyện, Raymond Rambert nhớ nhà nhớ vợ, sau khi bị chính quyền từ chối cho ra đi, đã phải thuê đám anh chị tìm đường chui nhưng đổi ý ở lại cùng cứu trợ.

La Peste book cover.jpgTrong đoạn thứ hai nầy xuất hiện một nhân vật quan trọng đã dùng bệnh dịch nầy để củng cố địa vị sứ giả của God. Đó là một linh mục dòng Jesuit. Cha Paneloux nói rằng bệnh dịch hạch là hành vi của God trừng phạt những kẻ có tội; dân chúng sợ hãi phải chạy theo cha để cầu che chở khỏi bị thiên lôi dáng búa dịch hạch.

Trong lúc ấy, những người thế tục, không bận rộn thần học như cha Paneloux, bắt tay vào việc cứu trợ một cách thực tiển. Một Jean Tarrou, du khách; một Joseph Grand, kỹ sư công chánh, một Rieux, bác sĩ y khoa, tận lực làm việc trong bệnh viện, trong nhà riêng của bệnh nhân. Một Rambert, ký giả, không chịu trở về Paris với gia đình, cảm thấy keo sơn dính bó với Oran, dốc hết sức lực trong việc đối trị bệnh dịch.

Phần 3.  Giữa tháng tám, tình hình tồi tệ hơn. Dân chúng tìm cách vượt thoát; có người đã bị lính canh bắn. Bạo động và cướp phá cở nhỏ đã xẩy ra, chính quyền đã thiết quân luật và giờ giới nghiêm. Đám tang thi hành nhanh và thi hành ngay, không nghi thức lễ lạc kèn trống. Dân chúng cảm thấy như bị lưu đày và xa cách nhiều hơn; họ mất tinh thần.

Phần 4. Tháng chín tháng mười, thị xã trong tay thao túng của bệnh dịch. BS Rieux được tin bệnh tình của vợ trong nhà thương trở nên quá tồi tệ, nhưng ông phải tránh các xúc động để có thể giúp các nạn nân trong thành phố.
Tarrou cùng Cottard đi xem opera Orpheus và Eurydice của Gluck. Diễn viên thủ vai Orpheus đã té chết trên sân khấu vì bệnh dịch trong lúc đang hát.
Cuối tháng mười, nước biển chống dịch hạch của BS Castel được đem ra dùng. Tuy vậy, serum nầy không cứu mạng con trai ông Othon vì bệnh quá nặng.
Hôm sau cha Paneloux thuyết giảng trong nhà thờ rằng cái chết của đứa bé vô tội nhà Othon là một thử thách đối với đức tinh TCG. Tarrou và Rambert đi thăm một khu kiểm dịch thì gặp Othon đang ở đấy; sau thời kỳ kiểm dịch, Othon muốn ở  lại để cứu trợ như phương cách tốt đẹp nhất để sống với đứa con vừa lìa đời. Tarrou và Rieux gặp lại người công chức già tên Grand đã bình phục, trở nên yêu đời. Lúc ấy số tử vong đã thuyên giảm nhiều.

Phẩn 5. Cuối tháng giêng, dịch hạch đã rút lui hoàn toàn. Dân chúng vui mừng chờ đón cảnh mở cửa thành phố. Tuy vậy, Othon không thoát khỏi lưỡi hái dịch hạch. Tarrou đã nhiễm bệnh từ trước và đã chết lúc nầy. Rieux nhận điện tín của bệnh viện báo tin vợ chết.
Tháng hai, thì cổng thành đã mở thực sự, dân chúng tiếp đón bạn bè thân nhân từ các nơi khác đến. Rambert lên đường về Pháp. Grand bắt đầu tiếp tục viết cuốn tiểu thuyết chưa xong.
Đây là một tập ký sự mà người kể không tự giới thiệu đến phút chót, dộc giả mới biết chính BS Rieux. Ông nói rõ ông đã hết sức khách quan ghi lại những sự kiện. Ông đã suy nghĩ rất nhiều, rất lâu về cơn bệnh nầy; ông đi đến kết luận rằng nơi con người, nơi nhân loại có lắm điều đáng khen ngưỡng mộ, nhiều hơn các điều đáng ghét chê bai.-

Trích dịch từ Wikipedia theo xuất xứ đây
Đọc nguyên bàn tiếng Pháp La Peste pdf ở chỗ nầy
Bản dịch Anh Văn The Plague xin click đây 



 See the source image
 Noel Saigon

Thursday, March 12, 2020

Chạy tội cho Tập Cân Bình


See the source image
Phố Tàu San Francisco của Cô Vi
Chạy tội cho Tập Cận Bình
Tôn Tht Tu
***Tin internet VN: The Epoch Times tiết lộ con gái duy nhất của Tập Cận Bình hiện học ở Boston, USA, nói rằng trung tâm nguyên cứu vi trùng dưới sự điều khiền của con trai của Giang Trạch Dân đã tung coronavirus để phá Tập Cận Bình và sẽ đoạt ngôi vị lãnh đạo Tàu. Cô Tập Minh Trạch kê tên con Giang Trạch Dân là Giang Minh Hằng. Tôi cố tìm nguyên bản bài nầy, tìm không ra.****

The Epoch Times là tờ báo không tin được thuộc dạng chiến tranh lạnh. Báo nầy đã đưa ra những video, hình ảnh Tàu bắt người mổ bụng lấy nội tạng trong công viên, máu chảy có ngòi. Dù nạn nhân như con chuột, nội tạn lấy ra phải cất giữ đúng mức vì còn xài cho các lãnh tụ mà. Thiếu chi chỗ mà phải làm nơi công cọng. Báo nầy lẫn Pháp Luân Công, theo tôi, là những thứ ngụy dân chủ, như ngụy dân chủ VN được đi máy bay qua Mỹ tranh đấu nhân quyền, như đảng chống cộng về thả truyền đơn ở Hà Nội.

n bản tiếng Việt là Đại Kỷ Nguyên lợi dụng tin "hấp dẫn" để đưa vào VN một thứ tiếng Việt rất Tàu, về hành văn và danh từ. Ví dụ "giá tiện nghi" là giá có thể mua dễ dàng, "affordable price". Cho dù có thiệt chống CS Tàu, báo nầy vẫn chủ trương văn hóa Tàu đi khắp nơi với những hủ tục như Nhị Thập Tứ Hiếu.
Pháp Luân Công là một "cult" (tà pháp) đã pha lẫn y tế như Scientology của Mỹ. Lồng trong một thứ Phật Giáo bả đậu. Facebook Pham Lưu Vũ nhiều lần nêu lên quan điểm thần học vá víu của pháp môn nầy. Chủ tịch đảng CS Tàu cũng như vua Anh, hay vua La Mã là những pontifex maximus, giáo lãnh tối cao; đang có tin bán chánh thức Giáo Hoàng được làm mặt nổi có quyền chỉ định giáo lãnh nhưng trên danh sách Tàu đưa ra.

No photo description available.Tin về con gái Tập Cân Bình chỉ là mánh chính trị quá tầm thường. Qua vụ virus nầy, dân Tàu đặt vấn đề giao ước xã hội (social contract) đối với lịch sử chứ không riêng gì cá nhân ông Tập nầy. Kết ước nầy để cho dân Tàu tự do làm ăn với điều kiện công nhận lãnh đạo tuyệt đối của đảng CS. Lúc đầu được chấp nhận để dân ra khỏi cảnh mọi rợ thời Mao, để có thể hưởng những ưu đãi của Mỹ (The most favored status). Nay thì tương thuận nầy cho thấy độc tài không thể giúp con người đi thêm. Vài tuần trước đây một tỷ phú gốc Tàu ở Mỹ nói rằng vụ Cô Vi là do đảng CS muốn hại nhau và muốn giải quyết Hongkong. Ấy cũng là cách giải tội cho Tập. Chẳng may, đấy là dùng dao mổ trâu mà giết gà. Hongkong dễ giải quyết như trở bàn tay, nhưng Bắc Kinh cử để vậy cho chết dần, Tàu đã có Thượng Hải thay cho New York; trong nội địa HK thành phần CS rất nhiều, từ xưa đã gây náo loạn và làm chủ tình hình trong 18 tháng vào năm 1967, Tàu lúc ấy đã có những ngân hàng lớn ở đây, làm trụ sở cho nhóm Maoists.

Nói khác, nếu không vì thiếu an toàn, thì việc đánh độc cả thế giới và dân Tàu chính là trách nhiệm của Tập Cận Bình. Cần biết thêm đầu óc, “máu” của Tàu. Mao Trạch Đông đã từng tuyên bố vũ khí hạch nhân còn để lại 200 triệu "nị hảo" để mỗi chú Xìn thím Xẩm cầm gậy tre làm chủ thế giới. Chủ trương giết sạch của Mao biểu lộ qua quyết định diệt chim như sau. Chim phá lúa, Mao đã ra lệnh một vùng lớn tập thể hóa cùng một giờ đánh trống, đánh chuông, la hét; chim bay không chỗ ngừng phải rơi xuống đất chết. Sau đó châu chấu không có chim trị đã ăn hết thóc lúa.

No photo description available.Dễ nhất là đổ lỗi cho con của Giang Trạch Dân đã đưa virus hại dân. Der Spiegel, tuần báo Đức, tường trình sự thất vọng của dân chúng đối với Tập; không biết ông đi đâu trong khi bên ngoài sôi sục; chết quá nhiều mới thấy Tập xuất hiện; báo nầy còn cho biết các cấp đảng ngay tại Hồ Bắc và Vũ Hán đã "di tản chiến thuật" khỏi vương lãnh. Công khai CS đã chuẩn bị cho 5 triệu người rời Hồ Bắc để lại 87 triệu người; 5 triệu nầy là gia đình cán bộ cao cấp. Những biện pháp bạo tàn, thờ ơ, vô trách nhiệm cho thấy thực trạng Tàu về mọi phương diện, phồn vinh giả tạo v.v...

Người VN hiểu mánh con gái Tập chạy tội cho bố một cách dễ dàng khi nhớ luận điệu CSVN giải thích vì sao nghèo phải ăn bo bo: hết phồn vinh giả tạo của Mỹ, "bác đi cho nên bi đát" có nghĩa vì HCM chết mới ra sự nầy nhưng ai là tác giả. Giải tội cho Tập giống hệt giải tội HCM nói HCM đã bị Lê Duẩn điều khiển và bs Tôn Thất Tùng chích cho mũi thuốc độc, chỉ còn đủ sức viết bài thơ làm mật hiệu tấn công Mậu Thân.
Báo internet "Quartz" tinh tế mơ hồ trình bày sự kiện để độc giả tuy nghi sử dụng. Trong khi các giới chức phòng thí nghiệm vi trùng Vũ Hán cam đoan virus đến từ những nguồn thiên nhiên thì Bộ Chính Trị CS Tàu yêu cầu chính phủ tăng cường các biện pháp an toàn ở cơ quan nầy, ngầm hiểu chỉ trích nhẹ. Báo nầy cho biết khi nắm quyền, Tập đã thấy nguy cơ virus và đã có kế hoạch hoàn hảo hóa các phòng thí nghiệm, và đưa ra luật điều hành các nơi nầy.