add this

Monday, January 5, 2026

Roosevelt và lý thuyết an ninh quốc gia

Franklin Roosevelt (1882-1945)

LÝ THUYẾT AN NINH QUỐC GIA của TT FRANKLIN ROOSEVELT
Eric Rauchway NY Review of Books

Ngày Sept 3 1940, Tổng Thống  Franklin Roosevelt thông báo đã thực hiện mối giao ước với Anh: HK sẽ chuyển đổi 50 khu trục hạm xưa cũ thời Thế Chiến Một để được quyền thuê hay biếu nhượng một số lãnh thổ của Anh ở biển Caribbe hay Đại Tây Dương mà HK dùng làm các căn cứ quân sự. Thủ Tướng Winston Churchill muốn dùng những tàu chiến nầy bảo vệ các dịch vụ nhập cảng không bị tàu ngầm của phe trục ngăn trở; ông xem việc trao đổi nầy vô cùng quan trọng như một khúc quanh trong bang giao Anh Mỹ, đã biến một nước Mỹ xưa nay công khai trung lập thành một đối nhân thực thụ tham dự cuộc chiến chống Đức Quốc Xã. Ông nói với Nghị Viện rằng từ nay Anh Mỹ đã kết liền với nhau, không ai có thể tách rời ra được như sông Mississipi cứ tiếp tục chảy không ngừng.
Trong lúc ấy, lời tuyên bố của Roosevelt không nhiều hứng khởi như vậy. Ông ra lệnh ngoại trưởng Mỹ giải thích rằng sự giao kết nầy nhằm củng cố an ninh quốc gia của HK. Từ đó cho đến khi nhảy vào Thế Chiến hai, HK đã dùng thành ngữ "an ninh quốc gia" để biện minh sự viện trợ ngày một gia tăng cho các đồng minh và nới rộng vòng tay của Mỹ một cách hữu hiệu để lịch sử xem đó là cuộc cách mạng an ninh quốc gia của Roosevelt. Trước thời điểm nầy, các cuộc thảo luận về chính sách đối ngoại chỉ xoay quanh ý niệm "quyền lợi quốc gia" là một đặc lợi kinh tế, không đề cập sự an toàn của xứ sở.
Khúc quanh an ninh quốc gia nầy cho phép Rooesevelt và các vị kế nhiệm xác định mục tiêu của họ là những những điều cần phải làm. Xưa rồi, không ai hỏi phải chăng HK chống Nazi là quyền lợi quốc gia; nay hỏi phải chăng đó là an toàn của xứ sở.
Một ngày sau khi Roosevelt công bố hợp đồng trao đổi nầy, các nhóm chống viện trợ cho Anh Quốc tuyên bố thành lập ''The America First Committee". Với quan điểm chính thức rằng viện trợ nầy đã làm suy yếu quốc phòng tại nội địa và có nguy cơ đưa HK vào các cuộc chiến bên ngoài, nhóm nầy đã đánh đổ lập luận cho rằng viện trợ Anh Quốc sẽ củng cố an ninh quốc gia. Thay vào đó America First ủng hộ duy nhất đường lối quốc phòng gọi là nước Mỹ không bị xuyên thủng vì rằng không một quốc gia ngoại bang nào có thể tấn công một nước Mỹ có chuẩn bị.
Roosevelt đã thắng cuộc tranh luận bằng cách giải thích ý nghĩa của thành ngữ "an ninh quốc gia" một cách cụ thể là HK không thể tự bảo vệ nếu không bảo vệ các quốc gia khác. Nhưng ông quảng diễn một cách mơ hồ như bảo vệ các giá trị lối sống Mỹ và vị trí của HK trên thế giới. Ông đã tạo nên một lý thuyết khả dĩ cho phép HK ủng hộ bất cứ cuộc chiến nào trên thế giới. An ninh quốc gia đã mang tính chất ý thức hệ bao gồm mọi khía cạnh toàn cầu và không giới hạn trong một châu lục.
Quan niệm một nước Mỹ không bị đâm thủng là một nước Mỹ hùng cường về kinh tế và công bằng xã hội. Bên cạnh viện trợ các nước để giữ an ninh chung, HK phải phát triển trên bốn cột trụ: tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do không sợ hãi, tự do không bị thiếu thốn. Các chính sách kinh tế xã hội tiến bộ đã giúp ông đánh bại quan niệm quốc phòng giới hạn nội địa của phong trào America First.
Chủ trương bành trướng của Roosevelt khác với đường lối của Staline. Staline đã hy sinh tài nguyên nhân vật lực của quốc gia để củng cố ảnh hưởng của Nga trên thế giới. Staline nói một người dân có hai áo sơ mi là đủ rồi. Gorbachev lên nắm quyền để thấy các kế hoạch ngũ niên thập niên của Nga đã thua xa New Deal của Mỹ.

Lý thuyết bảo vệ các quốc gia khác chống lại ngoại xâm đã chuyển qua hướng mới là bảo vệ các quốc khác khỏi sự tự hủy từ bên trong như một chính quyền tham nhũng, độc tài, đi theo các thế lực nguy hại cho an ninh của HK. Quốc gia nào tác hại như du nhập ma túy và tổ chức tội ác thì HK sẽ dùng vũ lực để đối trị. 




No comments:

Post a Comment