Giấc
Mơ Ngàn Ngọc Bích, Thái Thanh
tôn thất tuệ
Beethoven cho trình làng cầm tấu khúc vĩ cầm duy nhất
cuối 1806. Người độc tấu cà ngẵng lại còn thêm phần ngẫu hứng của mình. Sự thất
bại chua chát nầy làm cho tác giả phải chuyển qua dương cầm viết lại từ đầu đến
cuối. Nhưng mãi đến gần 40 năm sau Felix Mendelssohn cùng cậu bé 12 tuổi Joseph
Joachim đưa nhạc phẩm nầy lên đĩnh cao, được công nhận là cầm tấu khúc trong
sáng nhất, đầy sức sống nhất, và cũng beethovenesque nhất. Ngày nay nói đến vĩ
cầm thì không quên nói đến nó; và bất cứ diệu thủ nào cũng nhờ nó làm nhãn hiệu
cầu tòa.
Nhắc đến chút nhạc sử nầy để nói tiếng hát của Thái
Thanh đã làm sống dậy nhiều bản nhạc, và lần nầy xin nêu vài cảm nghĩ nhân khi
nghe Thái Thanh qua Giấc Mơ Ngàn của Ngọc Bích. Lâu lắm khi mới qua Mỹ,
tôi nằm mơ thấy một người đàn cầm tấu khúc nói trên, anh ta chạy loạn chiến
tranh và vùi cây đàn trong đống lá. Tôi thức dậy và tiếng đàn vẫn bên tai nghe
còn rõ hơn; thì ra cái la dô nhỏ xíu ở đầu giường qua làn sóng FM đang phát
thanh ngón đàn của một ai đó. Kinh nghiệm mộng thực ấy, chiều nay, khi đang ngủ
trưa với giấc mơ khí trời mát dịu của hơi thu; tôi thấy có ai hát nhạc đề chính
của bản nhạc nầy và tôi ngâm câu thơ cổ: vi lô hiu hắt như màu khơi tiêu. Tôi
thức dậy, tiếng Thái Thanh như tiếp nối giấc mơ ngàn.
Thái Thanh
Văn Cao vào Saigon nói rằng hát như Thái Thanh mới là
hát; phải chăng Văn Cao đã quá sợ tiếng hát opera “ruộng” bắt chước của Nga hay
lối hát sắt máu mà Trung Tâm Cán Bộ Chí Linh đã bắt chước như muốn đâm chém người
ta trên màn hình Saigon VNCH? Phải chăng Văn Cao muốn nói Thái Thanh hát Thiên
Thai? Nếu Văn Cao nghe bài nầy thế nào ông cũng nói như vậy. Tôi phải mượn Văn
Cao vì không biết fa sol la si đô.
Trong phương thức lấy cái nầy diễn tả cái kia, tôi đã
thưa với các bạn rằng nếu Văn Cao là Sebastian Bach thì Phạm Duy là Beethoven.
Riêng ở đây bản nhạc của Ngọc Bích rất thánh thiện, rất spiritual như các tác
phẩm của Văn Cao. Dĩ nhiên đó là cảm quan về hơi nhạc, trong lúc đề tài vẫn nằm
trong nét chung, rất quen thuộc. Ngọc Bích viết chửng chạc, như những tác giả
khác đã nắm vững điều mình muốn diễn tả, nằm trong dòng nhạc với những khuôn mặt
“ít ồn ào” như Nguyễn Văn Quỳ (Dạ khúc), Nguyễn Thiện Tơ (Nhắn Gió Chiều), Việt
Lang (Tình Quê Hương) v.v… Nắm vững, tôi muốn nói không bị lấn cấn giữa
ký âm pháp tây phương và ngôn ngữ Việt Nam. Theo Tô Hải, ngoài Bắc đã học nhạc
lý của Nga Sô, và họ đã viết làm sao mà hai chữ hải quân, phải hát là hai
quần.
Khả năng ấy của Ngọc Bích góp phần giúp cho Thái Thanh
phát âm rất rõ ràng và có những phân đoạn (phrasing) sắc bén và tài tình. Thái
Thanh không hát uốn éo như cô con gái. Tôi không đề cập đến Ý Lan. Nhưng tôi muốn
nêu trường hợp của Lara Fabian qua bài Je suis malade của Serge Lama.
Lối ca réo rắc của Lara hấp dẫn phút đầu nhưng nghe kỹ thì thấy cô nàng không
diễn tả được nhiều, nhất là qua cái lỗi “làm nát bài” với lối ngắt câu ở giữa
các thành ngữ. Lối trình bày nầy rất đại chúng, rất nhiều kịch tính nhưng không
thấm thía như lối trình bày chân phương của Dalida hay chính tác giả. Lời lẽ
phân minh, cung đoạn rõ ràng là những căn cứ vững chãi đưa dẫn người nghe vào
trạng thái phi trọng lực, vùng không biên giới của nội tâm của tác giả, người
trình diễn và kẻ thưởng thức. Chân thật, chân nguyên, không mánh khóe. Những
bài hát rõ ràng không che dấu những ý thơ đơn giản nhưng sống mãi qua thử thách
thời gian. Một ví dụ trong lịch sử âm nhạc cận và hiện đại là những bài của
Brothers Four như Green Field…Ca sĩ Quỳnh Giao đã ca ngợi nghệ thuật xướng
ca của Anh Ngọc khi đưa dòng nhạc lước như thuyền trên sóng êm, chứ không đập vỡ
bản nhạc như đá ngầm chạm hông gỗ. Cô muốn nói đến những sự cắt khúc lên
xuống làm cho có vẻ ai oán mà thật sự phi nhạc lý và phi nghệ thuật; căn bệnh của
một thời, nói chung là thiếu cái “mỹ” (esthetique) trong mọi sinh hoạt của con
người hiện nay.
Tôi đã làm quen với bản nầy qua Khánh Ly. Nhưng KL nhiều
lúc chỉ hát bình thường, hát hằng loạt, mặc dầu cô đạt tỷ số cao những lần
trình diễn gọi là hay, không có trường hợp quá xệ xa cách những lần sáng giá.
KL hát tự nhiên, như không phải cố gắng, nhưng ít khi lột hết tinh túy
(texture), ngoại trừ những bản như Vũ Nữ Thân Gầy, Đêm Trên Sông Trăng. Cô đã
không làm được việc nầy với Giấc Mơ Ngàn.
Dễ hiểu nhất KL không có tài rung trong hầu hết các lần
trình diễn. Ngược lại Thái Thanh trong link nầy hát chậm như bước nhẹ của thu
sang, chấm phá như bước chân thời gian.
Những vibrato ấy, thật quá khó như của trời cho, như
gió rung cành, một thứ vi phong xuy động nói trong kinh Di Đà. Dĩ nhiên,
vibrato trong opera tây phương thiếu gì nhưng ít khi ta tìm được những thứ ngọt
ngào vừa trong sáng. Một cách dễ kiểm chứng nét độc đáo nầy là so sánh sự trình
diễn cùng một tác phẩm của Thái Thanh với một ca sĩ khác thuộc nhóm “top ten”.
Ví dụ Dòng Sông Xanh cùng với Mai Hương. (Thái Thanh là cô ruột của
MH). Những vibrato ấy như một ai lay cửa, dai dẳng và tha thiết: kìa thức dậy
đi, coi nhanh “trời thu, nắng thu chìm trong rừng”, hãy nghe đây “tiếng chuông chùa
ngân dài” cũng sẽ rơi vào vô tận như hòn sỏi vào hồ lắng.
Thông thường các danh thủ, hay danh ca, khi trình bày,
trông như độc lập với nhạc trưởng hay ca trưởng, nhưng trên thực tế họ tùy thuộc
những vị nầy; nói khác, sự độc lập chỉ trong ngón nghề nhưng đường hướng chung
phải ăn khớp với quan niệm của người chỉ huy tổng quát. Không hiểu TT có chịu sự
coaching của kẻ khác hay không. Thiết nghĩ lúc ban đầu thể nào cũng có sự dìu dắc
của Hoài Trung và Hoài Bắc. Thái Thanh tiếp nhận quan niệm chân phương dịu hiền
ở Hà Nội trước 1954 và năm 1953 TT đã hát Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước. TT,
theo ngu ý, đã tự tìm cho mình một lối trình diễn phi thời gian, vượt thời
gian. Nếu vậy trong bài hát nầy, TT không cần một ai truyền một chiêu thức, chỉ
điểm một yếu huyệt để chinh phục cái thinh không uyển mịn của nghệ thuật và tâm
thức.
Thinh không tự nó là vô tận, chỉ thấy được với các thị
hiện, các hóa thân – emanation - : giấc mơ nhạt trong gió ngàn hay suối ngàn,
bóng em lả lướt…Lời của Ngọc Bích là vài nét thủy mạc trong bức tranh tàu. “Xa
một kiếp hồn yêu người nơi tranh thủy mạc, vớ mây trôi chắp nối suối tóc dài,
hòa mộng thực chuyển vần thực mộng, tắm suối hạc, hồn để quên ý lạc” (ttt)
Thật vậy, người nghe bềnh bồng giữa cái thực, cái không thực, cái xa cái không
xa. Tiếng chuông chùa ngân dài, đôi cánh chim rừng bay vào nơi mà ánh trời thu
khuất mất chìm.
Người nghe cảm nhận sự cô đơn như đứng trên bãi cát
vàng nghìn dặm không thấy khói cơm chiều. (bình sa vạn lý tuyệt nhân yên).
Nhưng cái cô đơn nầy thật đáng yêu, nó minh hiện chủ thể, còn biết mình đang biết
sương chiều buông mờ, cũng như tác giả câu chữ Hán nầy đã tự hỏi Kim dạ hà xứ
túc (đêm nay trọ ở phương nao?) Nói là cô đơn đáng yêu để phân biệt với cái cô
đơn giết người. [Cái cô đơn nầy cấu xé lương tri, nó đã vô hóa (annihiler) con
người làm cho cuồng điên, phải tự sát. (Lời cuối của Dalida: Pardonnez-moi, la
vie m’est insupportable )].
Các bạn của mình ơi, có thiệt như ri nơi tui ở: chiều
nay “trời thu nắng thu chìm trong rừng”. thân mến, 6/2012
Chiều nay nắng thu
chìm trong rừng,
Ngừng đây nghe gió theo mây vàng Lãng du lên mấy cung đàn Thời chinh chiến trôi ngày tháng bên suối ngàn Ngày thu ánh sương chiều buông mờ! Lòng khách say sầu muôn kiếp nhớ! Nhớ ai cười trong nắng vàng Bao ngày xuân tươi thắm nay đã phai tàn Thu về! chìm theo bóng huyền Phòng tôi đơn chiếc thêm tình lưu luyến! Thoáng nghe rồn rập tiếng ca Bóng em lã lướt, lã lướt! Em cười vui, em cười vui Làn tóc xõa xuống, nhịp đưa với cung đàn tiếc đời Tình duyên ấm áp chốn cô phòng Lòng người phong sương bớt mơ màng. Rồi khi tiếng chuông chùa ngân dài Từ xa đôi cánh chim tung bay Phút giây đã thấy tơi bời Làn hương xỏa trong chiều vắng không tiếc người Gặp nhau ước mong thành duyên hờ! Rồi nỡ chia lìa không tiếc nhớ! Giấc mơ nhạt trong gió ngàn Riêng mình ta than với đôi lứa chim rừng!
Thu về! chìm theo bóng huyền
Phòng tôi đơn chiếc thêm tình lưu luyến! Thoáng nghe rồn rập tiếng ca Bóng em lã lướt, lã lướt! Em cười vui, em cười vui Làn tóc xõa xuống, nhịp đưa với cung đàn tiếc đời Tình duyên ấm áp chốn cô phòng Lòng người phong sương bớt mơ màng. |
(tôn thất tuệ, 1939 bến ngự huế, tiểu học nam giao, biết đọc biết viết, georgia usa 30747)
add this
Friday, October 7, 2016
giấc mơ ngàn, cập nhật
Sunday, October 2, 2016
thu muộn
Thì ra mùa thu đã đến hơn tuần rồi nhưng nóng quá còn
hơn những ngày giữa hè. Mà thu, đông tính theo thời tiết, không theo tử vi và lịch
Tàu như ngày Tết là đầu xuân. Nơi tôi sống, bốn mùa có đấy tuy phân biệt không
quá rõ như miền Bắc của địa cầu; khá khác với Miền Nam VN chỉ có mưa nắng hai
mùa. Người Tàu dùng hai câu thơ cổ nói thu về: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ
cộng tri thu (chỉ một ngọn lá nhạt màu đủ làm cho trăm họ thấy thu về).
Nhưng người mình có lắm cách nói thu sang.
Gần nửa năm, không có mưa, ngoài những giọt nước mắt của
Ngưu Lang Chức Nữ không ướt đất, lau lách cũng khô. Thú rừng như nai ra ăn
ngày, rừng sâu nắng cũng thiêu đốt, cỏ cũng hết, suối cạn rồi chăng. Những cây
lớn trong rừng California chết khô. Nắng hạn khắp nơi trên thế giới chưa đủ làm
người thấy tai ách “nhà kính” (green house) vì quá nhiều khí cát bô ních vì
xăng dầu; quá nhiều thứ tiêu hoại lớp ozone chận bớt hơi nóng và các tia tím và
đỏ. Nóng quá người đời dễ sôi máu bắn súng lung tung; sâu bọ vi trùng sinh sản
nhiều hơn.
Nhưng rồi thu mang gió trở lại, làm cho mùa thu dịu
êm, ý vị, nội tâm hơn sự ào ạt mùa xuân ong bướm. Một số cây có hoa xuân thì
nay thu về cũng nở thêm, như những điểm chấm phá của tranh thủy mạc. Đối với thảo
mộc, nếu xuân làm sống lại mùa đông chết thì thu xoa dịu ngày hè nức da. Một vị
sư ở Canada đã quá khen hoa sen còn nở trong khi mọi thứ đã chết từ mùa thu,
bài viết đã được ca ngợi và chạy khắp internet, làm như hoa sen hiện diện với mục
đích duy nhất cho Phật giáo làm biểu tượng. Mùa thu lý tưởng trồng cây, mùa thu rất nhiều hoa nhất là cúc. Cây mát
sinh rễ rồi ngủ yên mùa đông, xuân đến thì tiếp tục, hè về rễ đã đủ sâu mà chịu
đựng. Tỷ số thành công mùa xuân ít hơn thu.
Có lẽ sự trầm lắng của ý thu đã làm cho người
đời bỏ nhiều công sức sáng tạo nghệ thuật về thu nhiều hơn xuân.
Loại lá cứng đổi màu thì loại lá mềm vừa vàng đã rụng khắp chốn. Lối đá triền đồi ít khi đặt chân lên như được phủ bởi lớp tuyết mà nắng yếu còn quấn quít yêu thương chưa chịu đi. Lúc chiều về trong rừng thưa, không tránh được những bâng khuâng, những đau thương đã lắng, những hoài niệm. Khó mà biết ngũ uẩn giai không. Thôi thì hãy lấy độc trị độc, bèn nhớ hai câu vè của chính mình:
Loại lá cứng đổi màu thì loại lá mềm vừa vàng đã rụng khắp chốn. Lối đá triền đồi ít khi đặt chân lên như được phủ bởi lớp tuyết mà nắng yếu còn quấn quít yêu thương chưa chịu đi. Lúc chiều về trong rừng thưa, không tránh được những bâng khuâng, những đau thương đã lắng, những hoài niệm. Khó mà biết ngũ uẩn giai không. Thôi thì hãy lấy độc trị độc, bèn nhớ hai câu vè của chính mình:
Gió
lạc bâng khuâng, bâng khuâng hú
Sao
rụng vô thường, vô thường ru.
Người xứ quê muốn viết thêm về cảnh xế bóng nhưng vẫn
còn bị đè nặng bởi sự tịch liêu từ ngày qua, và nhớ câu thơ của Đỗ Hữu như một
mặc khải, như một chớp sáng lòe: Lá đổ sau chân một lối vàng. Đành phải ngưng, và chỉ đưa lên tấm ảnh “khách và chủ”,
vịt nhà tiếp ngỗng trời Canada. Những con ngỗng nầy ăn bắp chung, bây giờ đã về xứ
lạnh nhường bắp cho nai đến trú ẩn trong mùa săn bắn sắp đến ba tuần nữa.
Thời gian còn lại từ đây của thân hữu xin dành cho Thái
Thanh, Verlaine và Đỗ Hữu.
Verlaine Chanson d’Automne
Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon cœur
D'une langueur monotone.
Des violons
De l'automne
Blessent mon cœur
D'une langueur monotone.
Tout
suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heure,
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure;
Et blême, quand
Sonne l'heure,
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure;
Et
je m'en vais
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Deçà, delà,
Pareil à la feuille morte.
Pareil à la feuille morte.

Đỗ Hữu
Sầu Ai Lao
Đã lâu trăng
cứ vàng hiu hắt
Mây cứ sầu tuôn núi
võ vàng
Lá vẫn phai chàm
trên sắc áo
Mưa nguồn thác đổ đá mù
sương.
Giữa ngày lạc lõng trên
rừng rậm
Với nắng bâng
khuâng mây thuở nào
Với núi xanh lơ chiều tím nhạt
Mây trời bàng bạc sầu Ai Lao.
Lưng đèo
quán gió mờ hun hút
Thôn bản nằm trơ dưới nắng chiều
Tai vẫn nghe đều dòng thác
đổ
Người ơi, thương nhớ biết bao nhiêu!
Ở đây hơi đá chiều vây khắp
Khép chặt mình tôi
giữa núi rừng
Buồn quá ngày
đi đêm trở lại
Hoàng hôn
hoa bản phấn rưng rưng.
Người có theo
tôi lên dốc nắng
Nhìn xem hoa
rải sắc trên đường
Chiều nay gió thổi buồn ghê lắm
Lá đổ sau
chân một lối vàng.---
Mời đọc
Về Thái Thanh xin xem Giấc Mơ Ngàn
Về Đỗ Hữu xin xem Sầu Ai Lao và Tây Tiến
Wednesday, September 21, 2016
vạn pháp duy tâm tạo
Leonard
Bernstein & Wiener Philarmoniker
sóng gió
rồi cũng êm, vạn pháp do
tâm tạo
đến chăng em?
tôn thất tuệ
Sao không hẹn từ đâu em lại
một buổi chiều không gió nét đìu hiu?
Sao không hẹn từ đâu em lại
xóa mờ tâm cảm nơi khóm lá trầm ngâm?
Nhưng em lại trong gió chiều câm nín
gió không đi, gió đọng bờ mi.
Em đến chăng? em đến tự thuở nào
ở góc biển lau lách sình lội
từ một ngày không dấu vết ngày qua
từ một nơi lá dừa ôm nước lắng
từ một quê ta nhớ mãi không thôi.
Rồi em đến trong buổi chiều không gió
gió quên đi gió đứng trông chờ
chờ em lại một buổi chiều không gió.
Em đã đến thuở trời đất chưa tạo lập
chim không biết ngừng vì không có cành cây
gió không bay vì không cát
bụi
đùa chơi,
từ một thuở tâm hồn ta yên ổn.
Nhưng em đến lòng ta xao xuyến
ta hét lên và tiếng nói âm vang
làm bài học cho gió nguồn trên biển
biết làm theo
và từ đó côn trùng nghe bão táp
đất rung mình núi lửa tràn dâng.
Em xuất hiện gió cuồng sóng dữ
ta bỏ núi am xưa cho mối mọt
quảy nặng lưng công án ngàn kham:
đến chăng em? em đến tự thuở nào?
Tuesday, September 13, 2016
tìm một quê hương nhân bản

Hòn Vọng Phu, Đèo Cả Khánh Hòa Phú Yên
nghiệt ngã đến bao giờ?
tôn
thất tuệ
À tôi nhớ ra rồi, tên của người thầy giáo là Daru.
Các thuộc địa Pháp đều có trường tiếng tây ở nhiều cấp giúp cho dân địa phương
tiến thân; có thể ghê gớm như Bùi Bằng Đoàn hay chỉ là thầy ký ngồi ghi sổ tiền
đi chợ ở một nhà quan. Cũng vậy, trên xứ Algérie Bắc Phi ở một ngôi làng xa, thầy
Daru, người Pháp một mình trông coi ngôi
trường nhỏ, được đối xử như một người con trong thôn xóm. Cả ba nước thuộc địa
ngó qua Địa Trung Hải đã rục rịch những bất ổn, khơi mào sự đòi độc lập. Chính
quyền thuộc địa đã phải vận dụng tài nguyên nhân sự bằng cách ghép mọi người
Pháp vào công việc trị an, kể cả thành phần tôn giáo. Vậy huống chi Daru, thầy
giáo trường làng lớp ba.
Hôm ấy nghỉ dạy vì trời lạnh quá. Từ trên đĩnh đồi,
Daru nhìn xuống hai người đang đi lên con dốc sỏi đá. Trên lưng ngựa là sen
đầm Balducci quen biết; và người kia là tù nhân Ả Rập đi bộ theo sau, họ đang
hướng về nơi Daru ở. Daru được lệnh giải tù nhân về bộ chỉ huy cảnh sát tỉnh;
tuy không đồng ý, vì nhiệm vụ Daru phải ký xác nhận hiện đang cầm giữ tù nhân nầy.
Khi Balducci đi khuất, Daru mở trói cho tội nhân, mời lên chỗ cư ngụ, ngủ lại
sáng mai sẽ tính sau. Daru lo ăn uống đầy đủ, chỗ ngủ ấm áp, tuy suốt đêm cứ sợ
người kia trở chứng. Sáng hôm sau, hai người cùng dùng điểm tâm. Daru còn đưa
cho một ít tiền rồi chỉ cho thấy ngã ba dưới chân đồi; muốn trình diện cảnh sát
thì theo hướng đông, còn đi về hướng nam có thể ẩn náu theo dân du mục. Sau khi
từ biệt, Daru vẫn đứng yên ở cổng cho đến khi thấy người kia rẻ theo hướng có
chính quyền. Daru trở về phòng riêng, ngang qua lớp, chàng thấy trên bảng hình bản đồ lục giác bài địa dư nước Pháp vẫn còn với sông xanh núi đỏ. Chàng thấy có thêm một dòng
chữ lạ, cứng cáp không như chữ học trò. “Mầy giải giao người anh em của chúng
tau; mày phải trả món nợ này”. Tu as livré notre frère. Tu paieras.
Mấy dòng trên tôi ghi lại khi hồi tưởng truyện ngắn
Hôte của Albert Camus. Tôi không nhớ rốt ráo câu chuyện nhưng những yếu tố trên
nằm trong đề tài hiện sinh như cô đơn, ngộ nhận v.v; tác giả sinh ở Algérie, đã
từng hoạt động kháng chiến chống Đức.
Cũng tại Bắc Phi theo như chuyện phim kể lại bởi Cao Thoại Châu cựu
sinh viên Sư Phạm Saigon, một đại úy biệt kích Pháp được thả xuống Algérie để bắt
một lãnh tụ kháng chiến. Vượt qua nhiều gian nguy, toán của viên đại úy đã hoàn
thành nhiệm vụ và giải tù binh bằng máy bay về Pháp, vị sĩ quan này còn mang
theo một đứa bé không cha mẹ về như đứa con nuôi anh ta gặp trên đường nhiệm vụ.
Dưới chân thang máy bay là những chiếc xe bóng lộn và một giới chức cao cấp đón
người tù binh như một thượng khách! Việc làm của toán biệt kích thành vô nghĩa!
Hôte
cho thấy một Daru bị hàm oan, nhưng có thể giải thích được vì sự ngộ nhận dựa
trên sự kiện có thật, thấy rõ là chàng dẫn tội nhân từ anh lính sen đầm, kinh
nghiệm cá nhân thời tao loạn có thể cho anh thấy mối nghi ngờ trước khi nhìn
lên bảng có lời đe dọa. Anh tiếp nhận một cách chậm chạp.
Nay hãy nhìn phim kia. Đại úy nhà ta như bị cái lưới trời, thiên la địa
võng chụp xuống theo lối bẩy chim. Thế à, người ta cung nghinh đón tiếp kẻ anh
phải khổ công đi bắt sống, chỉ thiếu kèn trống và cờ xí. Chính anh bị truốt bỏ ý
nghĩa, mục đích việc làm gian nguy. Ý nghĩa việc làm, dù không đúng trên bình
diện hoàn vũ, là keo sơn móc mối con người và con người; móc nối thành chuổi
hành động, suy nghĩ, những thời khắc của riêng một con người.
Ý nghĩa không thể bị / được tiền tệ hóa (monétiser,
monetize). Một người được thuê đào từng lỗ đất khá sâu; đào xong chủ nhà ra xem
rồi ra lệnh lấp lại, và đào chỗ khác. Hắn ta bỏ cuộc khi được yêu cầu đào lần thứ
tư vì thấy việc nầy vô nghĩa lý, hắn phải làm việc phi lý dù được trả tiền.
Sau khi được giải thích mục đích là tìm một kỷ vật mà người cha không kịp chỉ
rõ trước khi chết; hắn ta vui vẻ và đào nhanh hơn. Câu chuyện giáo khoa nầy giải
thích trường hợp nhân viên phải xin đi chỗ khác khi bị ngồi chơi xơi nước mà hưởng
đủ lương; ngồi chơi xơi nước trong khi kẻ khác thì đầu tắt mặt tối kêu
than mệt mỏi. Kẻ ấy thấy mình vô dụng, đứng ngoài hệ thống, nói cho văn hoa là
một thứ lưu đày trên sinh quán.
Sự mất ý nghĩa vì bị tướt đoạt hay tự mình rủ bỏ điều bị
buộc nhận là giá trị, sự mất nầy khởi đầu diễn trình gọi là vong thân, tha hóa,
phẩn nộ ... Nói dễ hiểu là rời rạc, nhân tâm ly tán, lòng người đảo điên. Nói
theo xã hội học, thiếu sự tương thuận (consensus). Thật vậy, làm sao người thọ
thuế thản nhiên, khi một ông tổng thống công du mỗi ngày tốn 200 triệu dollars;
Obama đã đốt một tỷ bạc khi đi Ấn Độ. Vợ tổng thống Marcos có ba ngàn đôi giày
khi dân Phi Luật Tân moi rác mà sống bị rác đè chết vì núi rác lở sau cơn mưa.
Cái gì là ý nghĩa phải cầm cờ tôn giáo không phải của mình mà đi biểu tình đón
tiếp một người trong tộc họ kẻ cầm quyền?
Nói vậy mới hiểu Gandhi. Vị thánh nầy muốn xây dụng một
Ấn Độ với tinh thần mà ông kêu gọi dân chúng hun đúc: vì hạnh phục cá nhân, của
gia đình và xã hội, từ bỏ óc nô lệ làm giàu cho người Anh.
Tôi đang đến gần điểm chủ chốt: đi tìm một quê nhà bằng,
bởi, của người đời và đời người. Cho kiểu cách một tý, quê nhà nhân bản. Như vậy
quê ấy không mang tính cách trừu tượng, một xã hội vô tưởng, cũng không có tính
cách tôn giáo như cõi Cực Lạc của Phật Di Đà, vùng đất của Chúa có thánh Phê Rô
canh giữ, hay cảnh giới của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vv…
Quê nhà ấy được thấy qua trực giác như Thằng Bờm đã thấy
lẽ công bằng nguyên thủy gồm hai vế cân xứng là nắm xôi và cái quạt mo. Khi người đời bị triệt tiêu, đời người cũng chết theo. Thế kỷ 20 là thế kỷ
nhiều máu nhất, buồn nản nhất. Thời trung cổ Âu châu được xem như một đêm dài,
nông nô bị xiềng bởi cái xiềng vô hình trong nông trại của chủ, nhưng vẫn có
chút không khí mà thở còn nghe những chàng du ca ngồi trên mình ngựa gãy những
khúc đàn êm. Họ còn chút gì gọi là suy nghĩ, dẫu rằng cách suy nghĩ bị điều kiện
hóa bởi các thứ thần học lạc hậu. Vẫn trong khung cảnh Âu Châu, những thời như
Phục Hưng, cổ điển, duy lý vv… đi kèm theo các triều đại độc tài. Nói vậy,
nhưng dù bạn không được phép hô hào nơi công viên, vua Louis 14 không đến đầu
giường bảo bạn suy nghĩ thế nào, nhào nắn tư tưởng theo một khuôn đúc của triều
đình.
Qua đến thế kỷ 20, ý nghĩa cuộc sống bị cắt cụt đến tận
vô thức. Đó là lý do có những tiếng kêu. Thống thiết nhất là Koestler: (ở Sô Viết) cường quyền là cực đại, con người là số không, bản ngã chỉ là một ảo tưởng
văn phạm. André Malraux: cuộc đời chẳng có giá trị gì, nhưng không có gì có giá
trị như cuộc đời. Tôi không rành văn học nhưng cứ nghĩ phong trào muôn dạng gọi
là hiện sinh, tuy không giải quyết được nhiều như những học thuyết tôn giáo và
tâm linh, đã làm được việc báo động nguy cơ hủy diệt sự hiện sinh.
Hiện sinh đó là sự sống bình thường, không thiên thần
không thú vật. Hiện sinh đó nhận chân bởi những con người tầm thường. Họ chia sẻ
với một tác giả nào đó đã nói: không có cái chết, chỉ có những người chết. Khi
không tìm ra lẽ sống hay ý nghĩa cuộc sống bị rứt bỏ, mình xem như đã chết. Vì
vậy có thể hiểu vì sao có kẻ tự tử, vì một giá trị nào đó mất đi, dĩ nhiên giá
trị chủ quan như một mối tình vv…
Cũng vậy, đại úy biệt kích nhà ta đã chết điếng, chết
đứng như Từ Hải khi thấy sự chờ đợi của mình đã chệch hướng, biến chính mình
làm đồ chơi của những thế lực chính trị. Ông đã ghép đứa bé mồ côi vào chính
mình, đồng thời nhận biết cả hai không còn gì ngoại trừ chính cái cô đơn, lạc
loài. Toi et moi, nous sommes seuls, tous les deux. Cả hai đi vào một thế giới
không hồn, thế giới ấy là thế giới khách quan hay nội tại chẳng quan trọng.
Nhưng bên trong thì nhiều hơn. In me there has been a soulless world. Đây không
phải là trạng thái tự tại hồn nhiên mà trái lại, sôi động, đau đớn, như con cá
hất lên đất khô, cố tìm sống qua chút âm ẩm còn trên da.
Daru và đại úy biệt kích đã đến mức cô đơn tuyệt đối.
Hãy so sánh với một nhân vật phụ của Hawthorne; hồn ma. Hồn ma của người đã
chết trở về đứng bên lò sưởi, nhìn những người thân còn sống ngồi quanh cây đèn
măng sông; hồn ma muốn thốt lên một lời thương mến nhưng khóa kín miệng. Mình
đã bị bắn ra ngoài như những tinh thể không chịu nỗi sức ly tâm. Bây giờ thốt
ra tiếng nồng thơm thì mình là con ma, người ta sẽ mời thầy mời cha về trừ quỷ
ám. Và dĩ nhiên hình ảnh thân yêu (là chính mình) cũng mất đi trong lòng những
người kia. Thôi hãy lui ra tàng cây rộng.
Thật vậy, hai bên không còn sự thuận hợp, nói theo xã
hội học thì làm sao được việc cũng như Khổng Tử nói nội ngoại bất tề sự bất
thành. Nhưng đất sống của viên đại úy khác với trường hợp của hồn ma, hồn
ma thành hình vì những cơ duyên tự nhiên của thành trụ hoại không. Không phải
là cảnh lòng người ly tán; hồn ma chơi vơi theo kiểu hồn ma; kẻ còn sống vẫn tiếp
tục nếp cũ.
Ông quan ba vẫn phải sống trên cái quê nhà đất cát,
núi non, cái quê nhà vô cơ (inorganic), ngày một khô thêm vì nông dân dùng phân
hóa học, vì xứ sở ngày một nhiều độc tố. Kẻ có quyền suy nghĩ và sống khác
với giới bị trị. Dân thì bất cập mà quan quyền thì thái quá (uy lực, tài sản
v.v…)
Như một cơ chế tự nhiên trong tâm sinh học, sự ước mơ
chờ đợi đã đến với ông để xoa dịu vết thương tâm lý. Ông mơ ước có một quê
hương nhân bản, quê hương của đời người và người đời. Nhưng sức người có hạn. Liều thuốc ước mơ đã bào mòn bao tử làm cho bệnh nhân cầm nắm được trong tay sự
nghiệt ngã tấy nguyên hình từ những ước mơ nhỏ nhoi không vời đến được, những
cơn ác mộng, những hoài niệm đau thương, những tương tác dùi cui chấm mắm nêm.
Một chân trong thế giới vô cơ, một chân trong thế giới không hồn có thật trong
nội tâm.
Ai ai trong hoàn cảnh tương tự đều tự hỏi: Biết đến
bao giờ mới có một quê hương nhân bản? Chờ đợi nghiệt ngã. Khi nào mới ngưng?
Khi thành tượng đá như thiếu phụ trông chồng nơi Hòn Vọng Phu.-
Thursday, September 8, 2016
trăm nghìn nhánh khổ

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra
ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu
mấy ông ơi! Mấy bà này chắc phải được
phong thánh.
trăm
nghìn nhánh khổ
vũ thế thành
Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều
người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,…Họ chỉ hát toàn nhạc
xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược. Lần trước
về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế…Lặng cả
người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường
phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời..
Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.
Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn - Đà Lạt. Có khi Hà Bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.
Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.
Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.
Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.
Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn - Đà Lạt. Có khi Hà Bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.
Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.
Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.
Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm
năm bảy học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy
mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học
nổi, em rớt ngay từ bãi gửi xe. Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa
hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em… Số phận đời
người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những
con người bằng thiệt học giả?
Những năm sau 75, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la…
Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, quý phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê hai bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V.Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.
Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu-Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin dân đen điếu thuốc, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.
Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?
Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…
Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?
Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng? Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.
Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.
Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?
Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,…quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.
Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi ! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.
Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông ơi! Mấy bà này chắc phải phong thánh.
Những năm sau 75, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la…
Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, quý phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê hai bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V.Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.
Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu-Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin dân đen điếu thuốc, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.
Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?
Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…
Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?
Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng? Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.
Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.
Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?
Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,…quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.
Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi ! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.
Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông ơi! Mấy bà này chắc phải phong thánh.
Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.
Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 75 là như thế đó, lòng dạ nào yên?
Đời trăm nghìn nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh
nào cho mình? Năm 75 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm
dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến.
Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi. Tháng tư, tôi
thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm
bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi
mình còn đôi tay…”
.........................................................................
rợn gáy
tôn thất tuệ
Anh viết nhạc móc lên hàng dây kẻm
vắt tay buồn mong ngóng bóng em qua
gai
sắt
nhọn
đâm vào da thịt chết
biết bao giờ hơi nhạc thoảng tai em!
Nhạc tù xa đêm khuya nghe rợn gáy
tiếng xiềng khua là nhạc đó nghe em
bưng kín lại thương màn nhĩ mỏng
cho
bờ
tai em đẹp tóc mây cài.
Anh viết nhạc theo đường đi của rận rệp
mãnh
chiếu
buồn
trang giấy trời cho.
Bỗng tai nghe tiếng kêu mơ ảo loạn
đập vào then lay động cửa sắt dày.
Phải chăng em vào đây lôi chồng dậy
hay tử thần vào kéo xác vất bờ ao.-
.........................................................................................
Subscribe to:
Posts (Atom)